Giáo dục đại học và WTO: Toàn cầu hóa một cách điên cuồng
GS. Philip G. Altbach
Trung tâm Giáo dục Đại học,Trường Đại học Boston, Hoa Kỳ.
Bài viết được trích trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Giáo dục so sánh lần 3 do Viện Nghiên
cứu Giáo dục tổ chức vào tháng 10/2009
Giáo dục đại học đang ngày càng bị coi là một sản phẩm thương mại để mua và bán giống
như những thứ hàng hóa khác trên thị trường. Thương mại hóa giáo dục giờ đây đã vươn ra thị
trường toàn cầu. Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organisation-WTO) đang xem xét
một loạt các đề nghị về việc xem giáo dục đại học như một lĩnh vực thương mại nhằm bảo đảm
cho việc xuất nhập khẩu giáo dục đại học tuân theo những luật lệ phức tạp, những quy định pháp
quy theo nghị định thư WTO và bảo đảm cho nó gần như không bị hạn chế. Ở Hoa Kỳ, Ủy ban
Quốc gia về Thương mại Quốc tế trong Giáo dục và một nhóm các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục
chủ yếu vì lợi nhuận đang ủng hộ cho sáng kiến này. Các tổ chức giáo dục kể cả Hội đồng Giáo
dục Hoa Kỳ cũng không được mời tham gia công việc này. Sáng kiến của WTO đặt ra những mối
đe dọa nghiêm trọng đối với lý tưởng truyền thống của trường đại học, cũng như đối với quyền
kiểm soát giáo dục của quốc gia, thậm chí của các trường, vì vậy rất cần được cân nhắc hết sức
thận trọng. Chúng ta đang ở giữa cuộc cách mạng thực sự trong giáo dục đại học, một cuộc cách
mạng có khả năng làm biến đổi hết sức sâu sắc những hiểu biết của chúng ta về vai trò của trường
đại học. Ý nghĩa của điều đó thật lớn lao tuy vậy có rất ít thảo luận hoặc hiểu biết đã đạt được về
vấn đề này. Đặc biệt đáng phải cảnh báo- tuy không có gì đáng ngạc nhiên- là Văn phòng Công
nghiệp Dịch vụ thuộc Bộ Thương mại Hoa Kỳ đứng đàng sau những nỗ lực thương mại hóa giáo
dục đại học ở Hoa Kỳ và trên toàn cầu.
Tôi không phản đối toàn cầu hóa như một thực tế hay như một khái niệm. Các trường đại
học ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng đều đang bị xu hướng toàn cầu hóa chi phối- đại chúng hóa
giáo dục, tác động của công nghệ truyền thông, trách nhiệm của các trường đối với nhà nước, một
lực lượng giảng viên ngày càng tăng tính chất quốc tế và lưu động, mạng lưới nghiên cứu toàn
cầu, và nhiều hiện tượng khác nữa.
Rất nhiều hiện tượng trên đây đang nối kết các trường đại học với hệ thống đại học toàn cầu.
Việc sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ chung cho truyền thông khoa học và giảng dạy, nhất là
nước nói tiếng Anh (Hoa Kỳ, Anh, Canada, Úc và một số nước thuộc Liên hiệp Châu Âu như
Đức, Pháp, và về vài khía cạnh là Ý và Tây Ban Nha).
Những chuẩn mực, giá trị, ngôn ngữ, đổi mới khoa học và sản phẩm tri thức của các nước
trong khu vực trung tâm đẩy ra ngoài những ý tưởng và thực tế khác. Các nước này là không chỉ là
vương quốc của những trường đại học và cơ sở nghiên cứu thống trị toàn cầu, mà còn là của
những tập đoàn đa quốc gia vô cùng hùng mạnh. Những công ty công nghệ thông tin như
Microsoft và IBM, những doanh nghiệp công nghệ sinh học và y dược như Merck hay Genzymer,
những nhà xuất bản đa quốc gia như Elsevier hay Bertelmann, cùng với những công ty khác, đang
thống trị thương mại quốc tế trong lãnh vực tri thức, những sản phẩm dựa trên tri thức và công
nghệ thông tin.Những nước nhỏ hơn và nghèo hơn có rất ít tự chủ hay tiềm năng cạnh tranh trong
thế giới toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa trong giáo dục đại học làm trầm trọng thêm những bất bình
đẳng sâu sắc giữa các trường đại học trên thế giới.
Thương mại hóa tri thức và giáo dục đại học
Với sự phát triển xu hướng thương mại hóa của giáo dục đại học, những giá trị của thị
trường đã ùa vào trường đại học và bắt nhà trường phải thay đổi theo ý nó. Một trong những nhân
tố chính là sự thay đổi trong thái độ của xã hội đối với trường đại học. Giáo dục đại học giờ đây
được xem là một "lợi ích tư" mang lại lợi ích cho những người học tập hay nghiên cứu. Theo quan
điểm này, có vẻ hợp lý khi cho rằng người sử dụng dịch vụ giáo dục phải trả tiền cũng giống như
khi họ sử dụng những dịch vụ khác. Việc cung cấp tri thức trở thành một giao dịch thương mại
đơn thuần. Nhà nước, người đóng vai trò cung cấp ngân sách chủ yếu, ngày càng không muốn
hoặc không có khả năng cung cấp nguồn lực đủ cho việc mở rộng giáo dục đại học. Người ta
mong đợi các trường đại học tự tạo ra ngân sách hoạt động cho mình. Họ phải suy nghĩ giống như
các doanh nghiệp hơn là như những tổ chức giáo dục.
Trong bối cảnh đó sự phát triển hợp lý sẽ là tư nhân hóa các trường đại học công lập- bán
các sản phẩm tri thức, tham gia các hợp tác liên kết, cũng như tăng học phí. Sự sinh sôi nảy nở của
đủ mọi loại trường tư nhất là trong thành phần vì lợi nhuận, là một sản phẩm phụ của thương mại
hóa. Các công ty giáo dục, trong đó có những công ty tự gọi mình là trường đại học, bán các kỹ
năng và các chương trình đào tạo, cấp văn bằng và chứng chỉ cho khách hàng tức các sinh viên.
2
Nghiên cứu được coi là một sản phẩm có thể thay thế được hơn là một yêu cầu được thực hiện
quyền ở các quốc gia.
Câu hỏi đặt ra liên quan tới ý tưởng về giáo dục đại học và tương lai của trường đại học nhất
là ở các nước nhỏ và các quốc gia đang phát triển.
Làm thế nào các nước, hay các trường đại học, có thể duy trì được sự độc lập của mình trong
một thế giới mà họ có rất ít khả năng kiểm soát trong thực tế và về mặt pháp lý đối với việc xuất
nhập khẩu giáo dục đại học? Làm thế nào có thể thực hiện kiểm định hay kiểm soát chất lượng?
Có chăng sự khác biệt hay tương phản giữa trường đại học công hay đại học tư phi lợi nhuận-
"tiêu chuẩn vàng" của các thế kỷ trước- với những trường mới thành lập và xông xáo tìm lợi
nhuận? Có chăng việc những công ty đa quốc gia giàu có, kinh doanh giáo dục vì lợi nhuận sẽ
khiến các trường đại học khác phải đóng cửa? Liệu tập thể các giáo sư làm việc toàn thời gian với
yêu sách về quyền tự do học thuật có thể tồn tại được chăng? Một điều hết sức rõ ràng là một khi
trường đại học là một bộ phận dưới quyền thực thi pháp luật của WTO, thì quyền tự chủ của các
trường sẽ phải thỏa hiệp một cách đáng kể và giáo dục bậc cao cũng như nghiên cứu sẽ chỉ là một
sản phẩm được điều chỉnh bởi các hiệp định quốc tế và các quy định quan liêu.
3
Tác động tiêu cực nhất trong việc WTO kiểm soát giáo dục đại học sẽ xuất hiện ở các nước
đang phát triển. Những nước này có nhu cầu to lớn nhất về những trường đại học có khả năng
đóng góp cho sự phát triển của quốc gia, có khả năng thực hiện những nghiên cứu quan yếu đối
với nhu cầu của địa phương và tham gia vào việc củng cố xã hội dân sự. Khi các trường đại học
trong những nước đang phát triển phụ thuộc vào một thị trường đào tạo quốc tế được điều chỉnh
bởi WTO, họ sẽ bị che khuất bởi những trường nước ngoài nhằm mục đích lợi nhuận mà không
đóng góp cho sự phát triển quốc gia. Không có gì rõ ràng về việc các cơ chế kiểm định và kiểm
soát chất lượng hiện đang tồn tại ở nhiều nước liệu có được phép thực hiện hay không, ít nhất là
khi nó liên quan đến các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục ngoài phạm vi quốc gia của họ.
Ai nên là người kiểm soát giáo dục đại học?
Mọi quốc gia đều cần phải duy trì một sự kiểm soát cần thiết đối với các cơ sở đào tạo của
mình. Đồng thời, các trường cũng cần một mức độ tự chủ thích đáng và tự do học thuật để phát
triển lành mạnh. Trong nhiều thế kỷ trước đây, các trường đại học truyền thống đã hoạt động với
chức năng là trung tâm của xã hội. Tuy chức năng ấy đã thay đổi qua thời gian, nó vẫn không biến
mất. Thử thách của những sáng kiến mới và toàn cầu hóa là một trong những thử thách nghiêm
4
nhiều quan hệ quốc tế, nhưng những thỏa thuận này cần phải dựa trên nhu cầu của quốc gia và cho
phép có sự lựa chọn giữa những chương trình đào tạo khác nhau và các đối tác khác nhau.
Những sáng kiến của WTO khiến áp lực các trường đại học trên toàn cầu đang cảm thấy
càng trở nên tập trung và rõ nét hơn. Nếu giáo dục đại học trên thế giới trở thành phụ thuộc vào
những chỉ trích nghiêm khắc của WTO, nhà trường sẽ biến đổi một cách sâu sắc. Lý tưởng cho
rằng trường đại học có sứ mạng phục vụ cho lợi ích công rộng lớn sẽ yếu đi, và các trường sẽ lệ
thuộc vào áp lực thương mại của thị trường- một thị trường bị buộc phải tuân thủ các hiệp định
quốc tế và các yêu cầu pháp lý. Mục tiêu có những trường đại học đóng góp cho sự phát triển của
quốc gia và củng cố xã hội dân sự trong các nước đang phát triển sẽ thành ra không thể thực hiện
được. Các trường đại học quả thực là những tổ chức đặc biệt với một lịch sử lâu dài và một sứ
mạng xã hội xứng đáng phải được ủng hộ. Bắt nhà trường lệ thuộc vào một thị trường bị buộc phải
tuân thủ sự nghiêm ngặt của WTO là phá hủy một trong những tổ chức quý giá nhất của bất cứ xã
hội nào.
TS. Phạm Thị Ly dịch
Nguồn: Philip Altbach (2006), "International Higher Education- Reflections on Policy and
Practice", Boston College. In lần đầu năm 2001 trên Tạp chí Chronicle of Higher Education
5