ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG THỊ HỒNG HẠNH
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ THU HÚT NHÂN TÀI
Ở SINGAPORE
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
Mã số: 60.31.50
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN VĂN LỊCH
Thành phố Hồ Chí Minh 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Lịch sử vấn đề
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5
7. Bố cục của Luận văn
5
Chương I TỔNG QUAN VỀ CỘNG HÒA
33
Chương II ĐÀO TẠO VÀ THU HÚT NHÂN TÀI
34
I. Phát triển giáo dục đại học
34
1.Vai trò của các trường đại hoïc
34
2. Mối quan hệ Chính phủ- các trường đại học
36
3. Các chính sách đối với giáo dục đại học
38
3.1 Việc phân bố nguồn kinh phí
38
3.2 Các khoản cho vay, học bổng cho sinh viên
39
II. Chiến lược thu hút nhân tài
41
1.Cơ sở và thực trạng nguồn nhân lực
41
2. Nuôi dưỡng và thu hút nhân tài
44
3. Sử dụng, đãi ngộ xứng đáng với trí thức
48
III. Kết qủa thực hiện
50
1.Giáo dục đại học
50
2.Thu hút nhân tài
53
IV. Nguyên nhân thành công
74
2. Mối liên hệ giữa đào tạo đại học và phát triển kinh tế đất nước
77
3. Giáo dục đại học Việt Nam sau khi nước ta gia nhập WTO
81
III. Những gợi ý cho Việt Nam
83
1. Giáo dục đại học
83
1.1 Giáo dục đại học phải là động lực phát triển kinh tế xã hội
83
1.2 Giải pháp cho giáo dục đại học Việt Nam sau khi nước ta gia nhập WTO
85
2. Phát triển nhân tài trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
88
2.1 Tạo điều kiện để phát triển nhân tài
88
2.2 Sử dụng và đãi ngộ nhân tài
89
2.3 Chính sách thu hút nhân tài
90
TIỂU KẾT
92
KẾT LUẬN
94
PHỤ LỤC
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
111
MỞ ĐẦU
thật sự thu hút nhiều người quan tâm, là vấn đề cần nghiên cứu. Trên tinh
thần đó tác giả đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong
muốn được tìm hiểu về con người và đất nước Singapore nói chung và vấn
đề đào tạo và thu hút nhân tài của Singapore nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Giáo dục đại học và thu hút nhân tài ở Singapore” sẽ mang
lại cái nhìn cụ thể hơn về hệ thống giáo dục đại học của Singapore, đặc biệt
là tầm nhìn đúng đắn của Chính phủ Singapore trong việc đào tạo và thu hút
con người.
Từ những thành công của Singapore trong việc đào tạo và thu hút
nhân tài, chúng tôi sẽ phân tích, đánh giá và so sánh với giáo dục đại học
Việt Nam, qua đó có thể học tập những kinh nghiệm, giải pháp phù hợp với
điều kiện của nước nhà.
3. Lịch sử vấn đề
Thành công kỳ diệu của quốc đảo nhỏ bé cùng nằm trong khu vực
Đông Nam Á với chúng ta này đã lôi cuốn sự chú ý và nghiên cứu của nhiều
học giả trong và ngoài nươùc như : Trần Khánh, Lý Quang Diệu, Andrew
William Lind, Lord Dainton, Viswanathan Selvaratnam…nhất là từ góc độ
kinh tế, chính trị… Rất nhiều báo, tạp chí như : Tạp chí nghiên cứu Đông
Nam Á, Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương, Báo Sài gòn giải phóng và mạng
Internet … cũng đã có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này nhưng chỉ là
những bài viết nhỏ nhằm giới thiệu, quảng bá về nền giáo dục Singapore.
Cho đến thời điểm này, tác giả luận văn nhận thấy hầu như chưa có công
trình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề này. Vì thế, tác giả hy vọng rằng
qúa trình thực hiện đề tài sẽ phác thảo được lịch sử phát triển giáo dục đại
học Singapore, những chính sách của Chính phủ đối với giáo dục đại học,
các chiến lược thu hút nhân tài của nước này trong những năm qua.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến hệ
thống giáo dục đại học của Singapore: cơ cấu tổ chức, nguồn lực, nguồn tài
mặc dù đã hết sức cố gắng, các số liệu vẫn chưa được cập nhật đầy đủ trong
một số năm, đây cũng là mặt hạn chế của đề tài.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Luận văn gồm 3 chương
-Chương 1: Tổng quan về Cộng Hòa Singapore
-Chương 2: Đào tạo và thu hút nhân tài
-Chương 3: Kinh nghiệm Singapore và những gợi ý cho Việt Nam
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CỘNG HÒA SINGAPORE
I.Đất nước và con người
1.Đất nước
Singapore là một quốc gia ở Đông Nam AÙ Châu Á, nằm ở cực nam
bán đảo Malacca, giáp với Malaysia về phía Bắc và Indonesia về phía Đông
Nam, điểm trọng yếu chiến lược trên con đường giao lưu buôn bán bằng
đường biển giữa phương Đông và phương Tây. Singapore bao gồm đảo
chính là đảo Singapore, có diện tích 580,6km
2
với 150,5km bờ biển và
khoảng 58 đảo nhỏ trong lãnh hải của mình, bao bọc xung quanh đảo chính.
Tổng diện tích của Singapore tính đến năm 2007 là 704km
2
[56].
Nối liền đảo Singapore với bán đảo Malacca là một đập bê tông lớn
dài hơn 1km, chắn ngang qua vịnh Johor, được xây dựng từ thời thuộc địa
Anh. Đây là hệ thống giao thông đường bộ duy nhất nối liền đảo với đất liền
và cũng là đường ống dẫn nuớc ngọt từ bán đảo Malaysia cung cấp cho
Singapore.
Địa hình Singapore là bình nguyên xen kẽ gò đống và đầm lầy. Con
sông lớn nhất của đảo là sông Xê-li-ta, dài 15km. Đất đai kém màu mỡ, tài
Hòn đảo này trở thành căn cứ phòng ngự chiến lược của người Anh ở
vùng Viễn Đông, nhưng sau đó lại rơi vào tay người Nhật năm 1942. Sau khi
Chiến tranh Thế giới kết thúc vào năm 1945, Singapore trở thành thuộc địa
của Vương quốc Anh. Người dân ở đây đã giành được quyền tự trị vào năm
1959 và sau đó là quyền độc lập năm 1963, khi Singapore trở thành một
phần của nươùc Malaysia mới sáp nhập từ Malaya, Singapore, Sabah và
Sarawak. Khối liên minh này không tồn tại lâu, và chỉ hai năm sau đó ngày
9/8/1965 Singapore đã thành lập được chính quyền riêng với tên gọi là Cộng
hòa Singapore.
Di thi th tng Lý Quang Dieọu, Singapore tip tc ln mnh v
c s h tng v nn tng cụng nghip. Vic xõy dng nh v nhng i
mi ụ th theo kp tng trng v dõn s. Hot ng y t v giỏo dc rt
mnh. Nhng nh lónh o Singapore cng thit lp nhng qui nh rt
nghiờm ngt v mt xó hi. Mc tng trng cao v kinh t ó h tr cho s
n nh chớnh tr õy.
Ngy nay Singapore l trung tõm hng u ca Chõu v ti chớnh v
kinh doanh, l trung tõm lc du ng hng th ba th gii, mt th trng
nhp cng v tỏi nhp cng, mt nen cụng nghip hin i v mt a im
du lch hp dn.
2.Con ngi
Singapore l mt quc gia ụ th a tc, cú gn 20 tc ngi hp
thnh 3 nhúm chớnh: Hoa, Mó lai v n . Tng s dõn ca Singapore hin
nay gn 4,68 trieọu ngi.
Vo nm 1819, khi Anh xõm chim hũn o Singapura, ni õy ch
mi cú 150 ngi sinh sng, gm 120 ngi Mó lai v 30 ngi Hoa [12,
tr.381].
Nm 1824, c dõn ó lờn n ti 4,6 ngn ngi Mó Lai; 3,6 ngn
ngi Hoa vaứ 0,8 ngn ngi n. Nhng n gia th k XIX, ngi Hoa
ó tng lờn thnh 28 ngn (chim hn na dõn s). ú l do vic m rng
n in trng cao su v cõy cú du Malaya, cng nh s phỏt trin cụng
Singapore, không thể quên vai trò của Chính phủ như một chất keo dính thể
hiện trong việc kiên định lập nên một “xã hội đa chủng tộc”.
Ngày nay, Singapore được coi là một quốc gia trẻ, có nhiều dân tộc.
Người Hoa là nhóm tộc chính, chiếm 78,6% dân số cả nước, phần lớn là
người gốc Phúc Kiến và Triều Châu, một số từ Đài Loan sang. Người gốc
Mã Lai bản địa, nhóm dân tộc thứ hai chiếm 13,9%. Người Ấn Độ chiếm
7,9%, chủ yếu là gốc miền Nam Ấn Độ và 1,4% là những nhóm người thiểu
số khác bao gồm người Anh, Đức, Mỹ, Ả Rập, người lai Âu Á, trong đó
đông nhất là người Anh. Có khoảng trên dưới 50 người Việt sinh sống
thường xuyên tại Singapore, phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Âu và
người Hoa [12, tr.385]. Mặc dù đa số dân cư là người Hoa, nhưng những
người cầm quyền ở Singapore có ý thức tạo nên một dân tộc Singapore riêng
biệt gồm nhiều dân tộc di dân đến, họ ngăn cản và không tán thành việc coi
họ như một “Trung Quốc thứ ba” (sau Bắc Kinh vaø Đài Loan).
Các nhóm cộng đồng dân tộc sinh sống tại Singapore hiện nay vẫn giữ
được nét đặc trưng văn hóa và tiếng mẹ đẻ của mình. Đại đa số người Hoa
theo đạo Phật, thờ cúng tổ tiên, nói tiếng địa phương và tiếng Hoa phổ thông.
Người Mã Lai theo đạo Islam, nói tiếng Malaya. Người Ấn Độ theo đạo
Hin-đu, nói tiếng Tamin. Người châu Âu chủ yếu là người Anh, theo đạo
Thiên Chúa, nói tiếng Anh. Từ trước đến nay ở Singapore không có một tôn
giaùo, tín ngưỡng nào được nhà nước công nhận là quốc giáo.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Mã Lai, tiếng Hoa phổ thông, tiếng
Tamin và tiếng Anh. Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Anh được sử
dụng chính thức trong thương mại, hành chánh và giáo dục. Đại bộ phận dân
Singapore ngày nay thông thạo 2 thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh.
II. Giáo Dục ở Singapore
1.Cấu trúc và sự phát triển của giáo dục đại học
Singapore thừa hưởng mô hình giáo dục đại học của Anh Quốc. Kể từ
năm 1960, mô hình này đã và đang được thay thế bởi một hệ thống mạnh mẽ,
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực cho một nền kinh tế đang nhanh
làm cho các trường đại học và cao đẳng trở thành một chất xúc tác kinh tế
hiệu qủa, kết nối giữa đầu ra và nhu cầu thay đổi liên tục của thị trường lao
động. Chi tiêu cuûa Chính phủ được sử dụng một cách phù hợp nhằm hỗ trợ
cho sự phát triển giáo dục đạt được kết qủa tốt nhất thông qua sự cải tiến chất
lượng không ngừng.
1.1Cấp độ đầu tiên- các Trường đại học
Nhằm đáp ứng những nhu cầu kinh tế đất nước, sau khi độc lập, các
trường đại học tập trung vào khoa học và công nghệ. Những chuyên ngành
học về hóa học ứng dụng, ngư nghiệp, sinh học, quản trị doanh nghiệp, xã
hội học, quan hệ công nghiệp và lao động, và Malay học… được bổ sung.
Vào năm 1969, để đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng cao
của “ngành công nghiệp đầu tiên”, khoa Kỹ thuật và Kiến trúc, Trường kế
toán và quản trị doanh nghiệp được boå sung cho bốn khoa hiện hữu là Khoa
học xã hội; nghệ thuật; khoa học; Y học và Luật.
-Vào những năm 1970, Đại học Singapore (NUS) đã có sự tăng trưởng
ổn định. Số lượng sinh viên nhập học tăng từ con số 4.559 vào năm 1969 lên
tới 7.030 vào năm 1979, tăng gần 70% [43, tr.26]. Ở các khoa đào tạo nghề
kỹ thuật và quản trị kinh doanh, lượng sinh viên đăng ký lớn hơn nhiều so
với dự tính, phần lớn là do sự tăng trưởng không ngừng của các ngành công
nghiệp và dịch vụ.
-Chính phủ Singapore đã hoàn toàn công nhận các bằng cấp của đại
học Nanyang vào năm 1968. Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy và khả năng có
việc làm của sinh viên tốt nghiệp lại thấp hơn so với sinh viên tốt nghiệp từ
Đại học Singapore. Đại học Nanyang nhận tất cả các thí sinh đăng ký nhập
học bất kể thành tích học tập của họ và trao bằng tốt nghiệp sau 3 năm học
nếu sinh viên đạt được 108 đơn vị học trình. Những sinh viên có điểm số nổi
trội có thể ở lại học năm thứ tư và sau đó được trao bằng danh dự.
Tuy nhiên, về mặt chất lượng lại ít có sự kiểm soát thường xuyên. Ban
Prescott 1959 và Ban kiểm soát Đại học Nanyang- đơn vị xem xeùt và kiểm
tra tất cả những tiêu chuẩn toàn diện của Đại học Nanyang nhận thấy rằng
Mục đích NTI nhằm tạo ra “nguồn nhân lực có trình độ cao cần thiết
cho những ngành cần nhiều vốn, phức tạp vaø có giá trị cao mà sẽ đóng vai
trò chủ đạo trong nền kinh tế Singapore vào những năm 1990”. Vai trò chính
của NTI là đào tạo những kỹ sư thực hành để bổ sung đầu ra những kỹ sư
thiên về lý thuyết của NUS. Đối tượng kỹ sư thiên về lý thuyết thì phù hợp
cho việc nghiên cứu, phát triển và sự quản lý mang tính hợp tác nhiều hơn là
cho việc đáp ứng những nhu cầu về kỹ năng trong khu vực công nghiệp đang
lớn mạnh không ngừng. Năm 1987-1988, Trường kế toán của NUS chuyển
đến NTI để hoàn tất việc định hướng xây dựng.
Về mặt quản lý tài chính, NTI là độc lập. Tuy nhiên, về các vấn đề
giảng dạy, nó có chức năng như một phần của NUS, những sinh viên tốt
nghiệp từ NTI được cấp bằng NUS. Từ khi bắt đầu hoạt động (1981) đến
năm 1991, NTI có số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán và kỹ sư là
7.200 [43, tr.27].
Tháng 7/1991, theo sự đề nghị của Dainton Report năm 1989 [43, tr.9]
, NTI trở thành một trường đại học độc lập với tên gọi là Đại học công nghệ
Nanyang (NTU). Cơ sở giáo dục và trường Cao Đẳng giáo dục thể chất được
sáp nhập thành môät cơ sở đào tạo quốc gia độc lập (NIE) và hợp thành như
một phần của NTU. Năm 1992, NTU bắt đầu cấp bằng của chính trường
mình cho sinh viên.
Mục tiêu tổng quát của NTU là nhằm phát triển thành một trường đại
học toàn diện có chất lượng đào tạo tốt và có tiếng tăm trên toàn thế giới. Là
một trươøng đại học tổng hợp (với nhiều chương trình học và thời gian học
khác nhau), trường cung cấp những khóa học từ nhiều nguyên tắc đa dạng
ngoài khuôn khổ của NTI trước đây (chỉ cung cấp những khoá học liên quan
đến công nghệ). Ngoài ra, nó được khuyến khích để cạnh tranh với NUS.
Tính chất tổ chức của NTU là một sự pha trộn Anh-Mỹ, trong đó hệ thống
đơn vị học trình đại học Mỹ đã được kết hợp thành một chương trình giảng
dạy mang tính chất bắt buộc. Triết lý đứng sau sự chuyển hướng này là“ để
NTU mang lại bậc giáo dục đại học và cao đẳng trong các lĩnh vực quan
dc v o to, y ban ny quyt nh ni dung ging dy v cỏc tiờu chun
tt nghip, tuyn chn v giỏm sỏt nhng giỏo viờn ph o ca cỏc chng
trỡnh hc. Ngoi ra, y ban ch o OUDP cũn kt hp vi i hc M Anh
quc v vic phỏt trin cỏc khoỏ hc mi cng nh thay i nhng khoỏ hc
hin ti phự hùp vi nhu cu ca t nc. S hp tỏc ca SIM vi i
hc M Anh quc l cho giai on 5 nm u tiờn.
Túm li, cỏc trng i hc Singapore u bit lng nghe nhng gỡ
m xó hi trụng i cỏc sinh viờn tt nghieọp t ú iu chnh chng
trỡnh giỏo dc ca mỡnh. Cỏc ging viờn i hc u cú s hiu bit tt v
phng phỏp ging dy. H s truyn t nhng tri thc vo ngun nhõn lc
ca t nc Singapore. Cỏc tr giỏo seừ khụng ch phỏt trin kh nng
sỏng to ca sinh viờn m cũn gm c tinh thn tp th, phỏt trin ng lc
m rng nhu cu v tm nhỡn ca h.
1.2 Cp th hai Cỏc trng cao ng
Mục tiêu chính của các trường cao đẳng là đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao cho nguồn nhân lực kỹ thuật cấp độ trung bình trong nhiều lĩnh vực. Cho
đến thời điểm này đã có 04 trường cao đẳng được thành lập.
-Năm 1963, trường Cao đẳng Singapore được tổ chức laïi và nâng cấp
thành Trường cao đẳng công nghệ cao, những khoá học nghề được chuyển
thành những chương trình kỹ thuật và dạy nghề.
-Một trường kỹ thuật độc lập thứ hai, gọi là trường cao đẳng Ngee
Ann, được thành lập vào năm 1963 bởi Ngee Ann Kongsi (liên kết) để những
người tốt nghiệp bằng tiếng Trung quốc được tham gia vào nền giáo dục sau
trung học theo hướng học nghề. Mục tiêu của việc thành lập trường nhằm
điều chỉnh đầu ra của sinh viên tốt nghiệp phù hợp với những nhu cầu
thương mại và công nghiệp của đất nước. Trường đã trở thành trường công
vào năm 1967, và được nâng cấp vào năm 1982 thành Trường cao đẳng.
-Trường cao đẳng thứ ba, Trường Cao đẳng Temasek, được thành lập
vào năm 1990 để bổ sung những chương trình hiện tại cũng như mở rộng khả
năng chọn lựa chương trình học.
của các nhà máy. Do đó, chúng tập trung vào việc đáp ứng những thị trường
lao động cụ thể ở cấp độ bằng cử nhân và chứng chỉ trong ngành điện tử, tự
động hoá, công nghệ sản xuất cao và cơ điện tử. Để tổ chức tốt hơn và thúc
đẩy giáo dục kỹ thuật ở cấp độ quốc gia, các trường FSI, GSI vaø JSTI phải
chịu dưới sự quản lý của Trường cao đẳng Nanyang mới thành lập. Ngoài ra,
những trường này sẽ là trung tâm của chương trình kỹ thuật bách khoa. PEI
và PGTC đào tạo thủ công và kỹ thuật viên ở cấp độ chứng chỉ, hiện đang
được quản lý bởi ITE.
Ngoài SIM, các tổ chức chuyên môn đã và đang thành lập nhiều
trường nữa, trong số đó có trường Ngân hàng và tài chính (IBF), Trường
Maketing của Singapore (MIS), Trường Maketing xuất khẩu. Những trường
này hoạt động độc lập, phi lợi nhuận và tự quản lý tài chính mà mục tiêu là
để phát triển những kỹ năng trong các lĩnh vực của mình để tăng cường phát
triển sự nghiệp cho các thành viên.
2.Sự mở rộng hệ thống và tuyển đầu vào
Việc tuyển sinh vào các trường đại học và cao đẳng dựa trên cơ sở
tuyển chọn những thí sinh xuất sắc nhất, việc tiêu cực trong thi cử luôn được
giám sát chặt chẽ bởi đội ngũ lãnh đạo Singapore. Caùc tiêu chuẩn tuyển
sinh được thiết lập ở mức có thể so sánh được với tiêu chuẩn của những
trường đại học “ red-brick” danh tiếng ở Anh quốc. Do đó, giáo dục đại học
được hình thành trên một hệ thống tuyển chọn người xuất sắc và có tính cạnh
tranh cao. Những sinh viên có khả năng kém sẽ nhận thấy rất khó để cạnh
tranh trong qúa trình học với những sinh viên có nền tảng tốt hơn, và những
sinh viên kém này nói chung sẽ tác động một cách tiêu cực tới những sinh
viên giỏi. Đồng thời, những sinh viên tốt nghiệp có trình độ kém sẽ không có
đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện tốt công việc, và khó có công việc ổn
định nhất là trong một nơi làm việc được chi phối bởi công nghệ….và ngày
càng có nhiều sinh viên thất nghiệp. Do đó, mục tiêu chính là để xây dựng
một lực lượng người Singapore dựa trên nhu cầu có trình độ và kỹ năng phù
hợp, chứ không phải là dựa trên cung và một hệ thống đại học mở rộng.