Tiểu luận: Phân cấp tài khóa và mối quan hệ tài khóa giữa các cấp chính quyền: một phân tích giữa các quốc gia - Pdf 13

1
Tiểu luận

PHÂN CẤP TÀI KHÓA VÀ MỐI QUAN HỆ TÀI KHÓA GIỮA CÁC
CẤP CHÍNH QUYỀN: MỘT PHÂN TÍCH GIỮA CÁC QUỐC GIA

2 Tổng quan - Phân cấp tài khóa chủ yếu bao gồm việc phân cấp các nguồn
thu và chức năng chi tiêu đối với các cấp thấp hơn của chính phủ. Bằng
cách mang chính phủ đến gần với người dân hơn, phân cấp tài khóa được
mong đợi thúc đẩy hiệu quả của khu vực công cũng như trách nhiệm giải
trình và tính minh bạch trong việc phân phối các dịch vụ và hoạch định
chính sách. Phân cấp tài khóa cũng đưa đến mức độ phức tạp hơn trong mối
quan hệ tài khóa giữa các cấp chính quyền và sự phối hợp thất bại trong mối
quan hệ tài khóa có liên quan đến vị thế tài khóa, quốc gia và địa phương.
Bằng chứng cung cấp trong bài nghiên cứu này cho một mẫu gồm 30 quốc
gia có thể gợi ý rằng sự phối hợp thất bại trong mối quan hệ tài khóa giữa
các cấp chính quyềncó thể dẫn đến xu hướng thâm hụt trong việc phân cấp
hoạch định chính sách, đặc biệt trong trường hợp các nước đang phát triển,
không thể đáp ứng những yêu cầu quan trọng đối với việc phân cấp tài khóa
thành công.
1. Giới thiệu
Trong những năm gần đây , ngày càng có nhiều nước trên thế giới đã

tiêu quan trọng của phân cấp tài khóa. Cuối cùng, trong một mức độ nào đó,
phân cấp tài khóa thúc đẩy sự phân bổ nguồn lực hiệu quả, được mong đợi
có liên quan đến vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô.Sự mất cân bằng tài khóa toàn
nền kinh tế và vấn đề nợ quá lớn ít nghiệm trọng sẽ cải thiện hiệu quả nền
kinh tế vĩ mô, và các nguồn lực công khan hiếm có thể được chuyển từ thâm
hụt tài chính và trả nợ sang gia tăng mức tài trợ, hậu quả của việc chi tiêu
quá nhiều.
Phân cấp tài khóa thì không phải không có những cạm bẫy. Một vấn
đề quan trọng trong phân cấp tài khóa là sự phối hợp của các mối quan hệ
tài khóa giữa các cấp chính quyền, đã thách thức các nhà lý thuyết và nhà
thực hành trong những năm gần đây (Poterba, 1996). Do việc gia tăng mức
4

độ phức tạp trong việc phối hợp các hành động của chính phủ khi cấp thấp
hơn của chính phủ được quyền tự chủ lớn hơn trong việc hoạch định chính
sách, các thách thức chính sách quan trọng trong các chương trình phân cấp
là thiết kế và phát triển một hệ thống thích hợp của tài chính công đa cấp để
cung cấp các dịch vụ công tại địa phương có hiệu quả và hiệu suất đồng thời
duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiệm vụ bao gồm quản lý các mối quan hệ
tài khóa giữa các cấp chính quyền bằng cách xem xét, một mặt, nhu cầu
ngày càng tăng đối với hàng hóa và dịch vụ công tại địa phương và mặt
khác, tầm quan trọng của việc duy trì kỷ luật tài khóa, quốc gia và địa
phương. Khi những quyền hạn và trách nhiệm ngân sách mới được giao cho
chính quyền địa phương, sự rõ ràng và minh bạch của các cơ quan cần được
thúc đẩy trong quá trình hoạch định ngân sách, chẳng hạn chi tiêu phù hợp
với doanh thu ở mỗi cấp địa phương.
Nếu không có sự chú ý đặc biệt đến sự rõ ràng và minh bạch của các
cơ quan, những mối quan hệ tài khóa giữa các cấp chính quyền có thể trải
qua những thất bại trong phối hợp. Những thất bại có thể khiến chính quyền
địa phương trải qua sự không hiệu quả và vượt quá khả năng của họ, khi

trong những nền kinh tế khác nhau, do đó một vài sự kiện cách điệu có thể
được đánh dấu. Phần 3 mô tả các nguồn quan trọng nhất của việc phối hợp
thất bại được kiểm tra trong bài nghiên cứu. Phần 4 cung cấp bằng chứng
thực nghiệm và phần 5 kết luận.
2. Mối quan hệ tài khóa giữa các cấp chính quyền:
a. Tài chính công khác biệt giữa các cấp chính quyền như thế nào?
Tài chính công khác biệt giữa các cấp chính quyền vì nhiều lý do.
i. Về khía cạnh nguồn thu, cơ sở thuế hữu ích, đơn giản để quản lý của các
cấp địa phương bị giới hạn và thu hẹp (Bird, 1992) Doanh thu ngoài thuế
(phí, lệ phí, tiền thuê, tiền bản quyền) cũng có xu hướng bị giới hạn về
phạm vi và khả năng tạo ra nguồn thu. Cơ sở thuế địa phương bị thu hẹp bởi
6

thuế xuất khẩu, tính kinh tế theo quy mô.Cơ sở thuế xuất khẩu được quản lý
tốt nhất bởi các cấp chính quyền cao hơn. Kết quả là nếu các cấp địa
phương muốn trở thành người cung ứng hang hóa công quan trọng thì điều
cần thiết là các cấp chính quyền cấp cao cần phân chia một phần nguồn thu
cho các cấp địa phương để bù đắp lỗ hổng giữa thu và chi.
ii. Về khía cạnh chi tiêu, nếu như ngân sách được cân bằng, khả năng chi tiêu
của các cấp địa phương sẽ bị giới hạn bởi
 Khả năng tạo ra nguồn thu của các cấp địa phương bị giới hạn như đã đề
cập ở trên.
 Chu chuyển tài khóa theo chiều dọc lẫn chiều ngang.
Kích thước tối ưu của các cấp chính quyền đia phương được xác định dựa
trên cơ sở thuế hiệu quả, với đọ rộng của cơ sở thuế tốt nhất nên được được
quản lý bởi các cấp chính quyền này, và tính sẵn lòng của các cấp cao hơn
ủy thác lại chức năng chi tiêu, mà sự chi tiêu này đòi hỏi thâm dụng chu
chuyển tài khóa. Điều này dẫn đến kết quả quan trọng là thành phần các
nguồn thu của các cấp địa phương đóng một vai trò quan trọng để xác định
mức độ tự quyết của các cấp địa phương đối với việc quản lý chi tiêu. Ví dụ

gia miễn phí” trong trường hợp tạo ra các lợi ích riêng.
 Thứ ba, mặc dù tính tự quyết cao hơn trong việc lập ngân sách do phân cấp
tài khóa, các cấp địa phương có xu hướng bị giới hạn quyền lực trong việc
phát hành và quản lý nợ. Những giới hạn này bao gồm những giới hạn về
mặt định chế và về mặt thị trường. Rang buộc về mặt thể chế bào gồm: - các
cấp địa phương có thể bị ngăn cấm từ phát hành nợ tài trợ cho thâm hụt
trong một thời gian dài. Mặc dù các điều khoản chống thâm hụt trước đó,
việc ngân sách vẫn thâm hụt sau này dẫn đến các cú sốc, các sự báo sai sẽ
dẫn đến các nghĩa vụ nợ bắt buộc. Khi ngân sách mất cân bằng, các cấp địa
phương bị giới hạn để cải thiện bằng trong 1 hay 2 năm ( điều khoản “no
carry over rule” quy định việc cải thiền ngân sách chi được thực hiện bằng
việc cắt giảm chi tiêu chứ không phải tăng doanh thu). Nếu tài trợ dại hạn
được đáp ứng thì các cấp địa phương được phép phát hành các” golden
8

rule” ngược lại với nợ. Chuyển nhượng là các công cụ gia tăng được dùng
để tài trợ chi đầu tư mà vượt quá khả năng của các cấp địa phương. Nhìn
chung, giá trị của các nguyên tắc tài khóa phải được đánh giá dựa trên sự
đánh đổi giữa tính linh hoạt trong ngắn hạn và sự bền vững trong dài hạn.
Ngược lại các quy định này có xu hướng áp đặt các kỉ luật với các cấp thấp
hơn, chúng cũng giới hạn khả năng của các cấp địa phương để tài trợ cho
các nhu cầu địa phương.
 Nợ của các cấp địa phương có thể bị giới hạn bởi các nhân tố thị trường. In
shallow capital markets lượng người mua nợ của các cấp địa phương sụt
giảm, từ đó không có thị trường chính thức cho trái phiếu địa phương.
Trong nhiều trường hợp thì cấp trung ương là những người cung cấp tín
dụng cho các cấp địa phương. Đây dường như là trường hợp ở nhiều quốc
gia, trái phiếu địa phương nhiều hơn một chút so với lệnh phiếu được kí bởi
cấp địa phương và được nắm giữ bởi chính quyền trung ương. Khi các trái
phiếu này được giao dịch, kỉ luật thị trường có khả năng đảm bảo giới hạn

 Do hạn chế về mặt dữ liệu, một số các chỉ số tài chính công có thể được xây
dựng và một vài sự kiện cách điệu có thể được nhấn mạnh từ góc nhìn giữa
các quốc gia.
 Đầu tiên, tầm quan trọng tương đối của các cấp chính quyền khác nhau
trong việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công được phản ánh trong quy
mô của các chính quyền địa phương. Quy mô có thể được đo lường theo giá
trị độ lớn, như tỷ lệ chi tiêu trên GDP, hay, thú vị hơn, theo giá trị tương
quan, như tỷ lệ chi tiêu của chính quyền địa phương trên chi tiêu chính
quyền trung ương. Đối với quy mô theo độ lớn, Figure 1 cho thấy quy mô
chi tiêu công ở các nước Châu Mỹ LaTinh, đặc biệt là ở Châu Á, có xu
hướng nhỏ hơn so với các nước OECD. Hầu hết mọi người đồng ý rằng cầu
về hàng hóa và dịch vụ công gia tăng với mức thu nhập do đó chi tiêu công
có xu hướng lớn hơn ở các nước giàu hơn, các yếu tố khác không đổi. Tỷ lệ
chi tiêu chính quyền trung ương từ 20% GDP của các nước Châu Á đền
40% trong các quốc gia Tây Âu của mẫu OECD. Đối với quy mô chính
quyền theo tương quan, chi tiêu chính quyền địa phương trên tổng chi tiêu
công là dưới 5% ở Châu Á, và từ 10% - 40% ở các nước Mỹ LaTinh, và từ
12% - 60% trong mẫu OECD. Chính quyền địa phương có xu hướng lớn
trong các quốc gia mà chính quyền trung ương nhỏ (khối OECD & các nước
Mỹ LaTinh). Tuy nhiên điều này không đúng cho các quốc gia Châu Á,
ngoại trừ Ấn Độ, nơi mà các nước với chính quyền trung ương nhỏ với xu
hướng đi kèm là tỷ phần chi tiêu của chính quyền địa phương cũng nhỏ.
Trong khu vực OECD và Mỹ LaTinh, không giống như Châu Á, việc giảm
chi tiêu của chính quyền trung ương được thực hiện chủ yếu bằng cách ủy
10

quyền các chức năng của khu vực công và các nghĩa vụ chi tiêu cho các cấp
chính quyền địa phương, do đó gia tăng tỷ phần của chi tiêu chính quyền địa
phương trong tổng chi tiêu chính phủ.
 Thứ hai, liên quan đến các thành phần của nguồn thu chính quyền địa

 Nêu bật một vài cách điệu giữa các quốc gia, nó cũng thú vị, ở giai đoạn
này, chú ý hơn đến từng quốc gia và trải qua sự thay đổi đáng kể trong quy
mô của chính quyền địa phương trong thời kỳ xem xét. Trường hợp của
Chile, mức độ tự chủ tài khóa của chính quyền địa phương, được đo lường
như là phần thuế trong tổng nguồn thu, đã giảm mạnh từ năm 1981, mặc dù
phân cấp tài khóa đáng kể trong giai đoạn này, với sự gia tăng trong phần
chi tiêu địa phương (Figure 1). Phân cấp tài khóa đã không làm trầm trọng
thêm thâm hụt ngân sách địa phương một cách đáng kể ở Chile (Figure 3),
và một sự gia tăng trong chi tiêu địa phương được tài trợ bởi nguồn thu phi
thuế địa phương cao hơn (phí, lệ phí, tiền phạt, tiền bản quyền,…), thay vì
chuyển giao tài khóa và/hoặc nguồn thu thuế. Ở Brazil, sự giảm trong phần
nguồn thu thuế địa phương trung bình sau năm 1989 được cấn trừ một phần
bởi sự tăng lên trong chuyển giao tài khóa, qua đó không khuyến khích huy
động nguồn thu địa phương, với sự gia tăng khiêm tốn trong phần nguồn thu
phi thuế. Đến với Châu Á, trường hợp của Thái Lan, nổ lực tập trung tài
khóa của quốc gia nhưng năm 1980 liên quan đến việc giảm đáng kể trong
phần chi tiêu địa phương có lợi cho chính quyền trung ương. Quá trình tập
trung tài khóa này cũng dẫn đến một thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu của các
nguồn thu địa phương từ chuyển giao tài khóa đến thuế địa phương trong
một động thái chính sách ủng hộ cho huy động nguồn thu địa phương.
Trong mẫu OECD, phân cấp của Tây Ban Nha ủng hộ chia sẻ nguồn thu để
tài trợ chi tiêu địa phương ngày càng tăng (Figure 2).
 Trong bối cảnh đó, các câu hỏi thực nghiệm quan trọng là, trước hết, liệu
hoạch định chính sách tài khóa phân cấp có dẫn đến sự suy giảm tài chính
địa phương và, thứ hai, liệu sự suy giảm như vậy có làm xấu đi vị thế tài
khóa của chính quyền trung ương ? Câu hỏi đầu tiên đề cập đến vấn đề liệu
phân cấp tài khóa có tạo ra khuyến khích cho sự lãng phí của chính quyền
địa phương. Câu hỏi thứ hai liên quan đến các tác động vĩ mô của việc phân
12


của chi tiêu chính phủ giữa trung ương và các chính quyền địa phương mà

3
Note 11
13

quyền hạn tài khóa được giao. Theo nghĩa rộng, mối liên hệ giữa phân cấp
và các thông tin bất đối xứng là con dao hai lưỡi. Một mặt, phân cấp cho
phép trung ương cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo thông tin thị trường địa
phương và, trách nhiệm tách rời, sẽ tạo ra khuyến khích mạnh mẽ hơn để
thúc đẩy hiệu quả. Vì chính quyền địa phương có thể xác định sở thích của
dân chúng dễ dàng hơn và rẻ hơn, phân cấp tài khóa có xu hướng giảm chi
phí thông tin và thúc đẩy phân bổ hiệu quả (Radner, l993; Bolton &
Dewatrip-ont, l994; Martimort, l996). Phân cấp tạo cho chính phủ gần gũi
hơn với người dân, do đó làm tăng trách nhiệm giải trình, và giám sát của
xã hội đối với các hoạt động khu vực công. Bất đối xứng thông tin giữa xã
hội và chính phủ do đó có thể được giảm thiểu bằng việc phân cấp trách
nhiệm tài khóa thông qua việc chuyển giao nhiệm vụ chi cho các chính
quyền địa phương.
Mặt khác, bằng cách giảm khoảng cách thông tin giữa chính phủ và xã hội -
những người hưởng lợi của việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công - phân
cấp tài khóa có xu hướng gia tăng khoảng cách giữa trung ương và các cơ
quan được phân cấp hay chính quyền địa phương nơi trách nhiệm tài khóa
được phân cấp hoặc ủy quyền. Việc mất kiểm soát của trung ương trên các
cơ quan phân cấp và / hoặc chính quyền địa phương gắn với một sự giảm
hiệu quả trong phân cấp, nó gia tăng cùng với khoảng cách giữa hai cấp
chính quyền và do đó làm cho việc thu được và xử lý thông tin của chính
phủ tốn kém hơn (Tirole, l994; Gilbert & Picard, l996). Về góc độ chi ngân
sách, chính quyền trung ương có thể không thể giám sát hiệu quả trong quản
lý chi tiêu và cung cấp dịch vụ. Về mặt nguồn thu, khi căn cứ tính thuế quan

thể được chia sẻ qua các quyền hạn của chính phủ, trong khi những lợi ích
của chi tiêu khu vực công có thể được tính đến và tạo ra một phần thưởng
chính trị (a political payoff) cho chính quyền địa phương. Ngoài ra, bội chi
có thể là do tài trợ common pool bởi vì free-riding gây ra cạnh tranh giữa
các chính quyền địa phương để bảo đảm một phần lớn hơn của các quỹ chia
sẻ dưới hình thức các khoản trợ cấp và chuyển nhượng từ chính quyền trung
ương.
Một bổ sung của vấn đề '' comming pool'' là có một tác động tiêu cực trực
tiếp vào vị thế ngân sách của chính phủ trung ương như sau. Trong trường

4
Note 12
15

hợp thỏa thuận chuyển giao tài khóa cứng nhắc, sự chuyển giao là tự động,
mỗi khi chính quyền trung ương tăng thuế để cải thiện vị thế tài chính của
mình, chính quyền địa phương nhận được một lợi ích nguồn thu tương ứng
mà họ được tự do chi tiêu. Những lợi ích “trời cho” này có xu hướng hạn
chế khả năng giảm thâm hụt tài khóa gộp bằng cách tăng gánh nặng thuế.
Đây cũng là trường hợp của các chương trình chi tiêu quốc gia được tài trợ
hoàn toàn bởi chính quyền trung ương, không điều kiện và / hoặc đồng tài
trợ cho địa phương.
5
Động cơ trì hoãn điều chỉnh là một hệ quả tiếp theo
của vấn đề '' comming pool'', vì từng khu vực pháp lý có động cơ hạn chế
hành động một mình và có động cơ mạnh mẽ để free-ride, nếu gánh nặng
của việc cắt giảm tài khóa có thể được chia sẻ theo chiều ngang qua pháp lý,
và theo chiều dọc giữa các cấp chính quyền.
6
Free-riding cũng gây ra bội

VÀ VỊ THẾ TÀI KHOÁ: BẰNG CHỨNG MẠNH MẼ HƠN
Phần này trình bày bằng chứng thực nghiệm mạnh hơn về mối quan
hệ giữa phân cấp tài khoá, thất bại trong phối hợp các mối quan hệ tài khoá
giữa các cấp chính quyền, và sự thâm hụt ngân sách
7
. Bởi vì thất bại trong
phối hợp không thể đo lường trực tiếp, tác động của chúng lên vị thế tài
khoá có thể được ước tính gián tiếp khi có được dữ liệu đại diện cho các
nguồn tiềm năng của việc phối hợp thất bại. Sự thâm hụt ngân sách, tính
bằng tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, có thể hồi quy theo một tập hợp
các biến theo hai loại
8
: (a) Các đại diện cho các nguồn tiềm năng của thất
bại phối hợp trong các mối quan hệ tài khoá giữa các cấp chính quyền, và
(b) một số biến kiểm soát đã trở thành tiêu chuẩn trong các tài liệu tài chính
công (ví dụ, Roubini & Sachs, 1989; Alesina, Cohen & Roubini, 1993;
Eichengreen & Bayoumi, 1994). Các đại diện cho những thất bại phối hợp
được sử dụng ở đây là: (a) kích thước chính phủ địa phương, giúp đo lường
mức độ phân cấp tài khoá và do đó đo lường mức độ thất bại phối hợp trong
các mối quan hệ tài khoá giữa các cấp chính quyền, (b) chỉ số về sự tự chủ
của thuế địa phương, giúp đo lường việc huy động nguồn thu của địa
phương, và do đó có thể sẽ là sự đánh giá tốt cho rủi ro đạo đức trong phân
cấp hoạch định chính sách, và (c) sự phụ thuộc của địa phương vào chi
chuyển nhượng, giúp đánh giá tốt sự thất bại phối hợp do vấn đề “sử dụng

7
Phn này da rt nhiu vào de Mello (1999b).
8
Mt bn tóm tt các ngun d liu và bn mô t các bin đc trình bày ti Bng 3, ph lc. Thng kê mô t đc
trình bày trong bng 2 ph lc.

thuc ngân sách. Các bin kinh t chính tr này thng không tn ti nu các bin hi quy khác mnh hn, chng
hn nh các ch s phân cp tài khoá đc xem xét  đây, đc tính ti trong phng trình c lng. Đ bit thêm
chi tit, xem Roubini và Sachs (1989), Roubini (1991), Grilli Masciandaro và Tabellini (1991), Alesina, Cohen và
Roubini (1993), Borrelli và Royed (1995) và von Hagen và Harden (1995). Đi vi trng hp c th ca châu M La
tinh, xem Alesina et al. (1996).
18

drinking water. Both the manufacturing plant and the city benefits from the
river jointly, but if the plant dumps pollution into the river it cannot be used
by the city for drinking water. Common pool items are typically regulated in
order to reduce the possibility of a tragedy of the commons situation.

Definition of 'Terms of Trade - TOT'
The value of a country's exports relative to that of its imports. It is
calculated by dividing the value of exports by the value of imports, then
multiplying the result by 100. If a country's terms of trade (TOT) is less
than 100%, there is more capital going out (to buy imports) than there is
coming in. A result greater than 100% means the country is accumulating
capital (more money is coming in from exports).
Investopedia Says
Investopedia explains 'Terms of Trade - TOT'
Using the terms of trade to determine the health of a country's economy can
draw the wrong conclusions. It is important to know why exports increase
relative to imports, especially since the terms of trade are directly impacted
by changes in export and import prices. Terms of trade measurement is
often recorded in an index for economic monitoring.
Phương trình được ước tính cho một nhóm 30 quốc gia mà có các chỉ số tài
khoá cơ bản thể hiện trong hình 1-3 trong Thống kê tài chính chính phủ của
IMF
10

quyền địa phương phụ thuộc nhiều vào chính quyền trung ương trong việc
chi tiêu. Những phát hiện quan trọng nhất là.
Decentralization implies delegation of spending functions to subnational
jurisdictions and hence creates vertical imbalances which tend to be
corrected via revenue-sharing.
Definition of 'Fiscal Imbalance'
A situation where all of the future debt obligations of a government are
different from the future income streams. Both of the obligations and the

11
Cho rng Mexico không phi là mt nc thành viên OECD trong hu ht các thi kỳ mu đc kim tra  đây, và
khi đi mt vi các ch s kinh t xã hi ca đt nc, nó đc bao gm trong mu không thuc OECD.
12
Ch s quyn t ch phi thu cũng đc th nghim nhng không đt đc mc ý nghĩa thng kê  khong tin cy
c đin. Ngun thu ngoài thu có xu hng bin đng, khi mà chúng bao gm tin thuê tài nguyên thiên nhiê n, và
do đó có th s làm trm trng thêm tình hình tài khoá.
20

income streams are measured at their respective present values, and will be
discounted at the risk free rate plus a certain spread.
A vertical fiscal imbalance describes a situation where revenues do not
match expenditures for different levels of government. A horizontal
imbalance describes a situation where revenues do not match expenditures
for different regions of the country.
Investopedia explains 'Fiscal Imbalance'
To measure the fiscal imbalance, take the difference between the present
value of all future debt and the present value of all income streams.
At any given time, there will be a fiscal imbalance for a particular
government; a sustained and positive balance will be detrimental to society
and the economy. If there is a sustained positive fiscal imbalance, then tax

cả mẫu OECD và mẫu đầy đủ, tình hình tài khoá được tìm thấy là đã bị làm
xấu đi do các khoản nợ bảo hiểm xã hội liên quan tới tỷ lệ người phụ thuộc.
Xử lý các khoản nợ dài hạn là thách thức quan trọng nhất đối với các nhà
hoạch định chính sách trong một xã hội đang già đi nhanh chóng. Cuối
cùng, đúng như mong đợi, một sự cải thiện trong cán cân thương mại có xu
hướng cải thiện tình hình tài khoá trong mẫu không thuộc OECD
15
.
5. KẾT LUẬN
Phân cấp tài khoá đã trở thành một phần không thể thiếu trong cải cách tổng
thể khu vực nhà nước tại một số quốc gia, cả phát triển và đang phát triển,
và bao gồm chủ yếu là việc tái phân công chức năng chi tiêu và các nguồn
thu cho các cấp thấp hơn của chính phủ. Trong số các giá trị của phân cấp
tài khoá, các nhà hoạch định chính sách đã nhấn mạnh vào sự hiệu quả,
giảm chi phí hoạt động, và cải thiện hiệu suất của khu vực công trong cung
cấp dịch vụ. Nói chung, những cạm bẫy của việc phân cấp và hoạch định
chính sách tài khoá bao gồm, đó là sự mất kiểm soát tài chính của địa

13
Úc có mt s sp xp tài khoá thú v: mc dù nó là mt liên bang, nhng chính quyn đa phng li b hn ch
quyn hn đánh thu. Thu s do trung ng thu và sau đó chuyn giao cho khu vc pháp lý đa phng cho mc
đích cân bng ngân sách. Tuy nhiên, t l ngi ph thuc cao đã không chuyn thành s mt cân bng ln tài khoá
đa phng, điu này gi ra vic hn ch vn đ “s dng chung” trong các mi quan h tài khoá liên chính quyn.
14
Xem Eichengreen và Bayoumi (1994) đ bit thêm chi tit da trên bng chng đi vi M.
15
C phiu ca n công cũng đã đc th nghim nh là mt bin kim soát b sung, nhng b phát hin là đã đa
cng tuyn collinear vi các bin kim soát khác, đc bit là t l ngi ph thuc.
22


mất cân bằng theo chiều dọc trong mối quan hệ giữa các cấp chính quyền sẽ
không làm xấu đi tình hình tài khoá của cả quốc gia và địa phương. Trường
hợp của các nước OECD là một ví dụ. Các quốc gia này đã có phần chi tiêu
địa phương cao hơn trong một khoảng thời gian dài hơn nhiều so với hầu
hết các nước đang phát triển được xem xét ở đây, nhưng họ lại không làm
mất cân bằng tài khoá lớn tại trung ương. Sự kiểm soát nghiêm ngặt hơn về
tài chính địa phương được tin là đã ngăn chặn sự sụt giảm tình hình tài khoá
quốc gia và địa phương, và giữ cho những thất bại trong phối hợp giữa các
cấp chính quyền trong tầm kiểm soát
Trong các trường hợp khác, việc huy động nguồn thu địa phương có lẽ đã
không được khuyến khích và sự mất cân bằng theo chiều dọc trầm trọng đã
làm vấn đề “sử dụng chung” trầm trọng theo, mà có xu hướng làm xấu đi

16
Xem von Hagen và Harden (1996), đ bit thêm chi tit. Đ xem xét các khía cnh kinh t chính tr ca vic thc
thi ngân sách, phân cp và hp đng tài khoá, xem Hallerberg và von Hagen (1998).
24

tình hình tài khoá ở cấp trung ương. Trong thực tế, một số nước đang phát
triển gần đây đã tiến được một bước dài trong việc phân cấp quản lý tài
khoá, bằng cách tăng đáng kể quyền chi tiêu của địa phương, uỷ thác việc
thu ngân sách và các chức năng chi tiêu là quyền của địa phương, và trao
quyền tự chủ đáng kể trong hoạch định chính sách ở cấp địa phương. Tuy
nhiên, việc chuyển giao căn cứ tính thuế cho chính quyền địa phương có thể
làm giảm tính hiệu quả của các công cụ thuế và tạo ra rủi ro đạo đức trong
phân cấp hoạch định chính sách. Việc chuyển giao nhiệm vụ chi tiêu cho
chính quyền địa phương có thể không được trùng khớp với sự giảm trong
phần chi tiêu của khu vực trung ương. Cuối cùng, khi phân cấp quản lý tài
chính được thực hiện một cách vội vàng như trong trường hợp như của
nhiều nước đang phát triển, sự mất cân bằng tài chính địa phương cũng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status