PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.T S T RƯƠNG QUANG THÔNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA
TRƯỜNG HỢP TRUNG QUỐC
GVHD : PGS.TS Trương Quang Thông
SVTH : Nhóm 8 – K22- Ngân hàng Đêm 2
TP.HCM, 03/ 2014
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
LỜI MỞ ĐẦU
Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới với một tốc độ tăng trưởng thần kỳ qua các năm,
2.1.2 Về chính trị và ngoại giao 12
2.1.3 Về các vấn đề xã hội 14
2.2 Phân tích rủi ro quốc gia Trung Quốc 15
2.2.1 Rủi ro kinh tế 15
2.2.2 Rủi ro tài chính 21
2.2.3 Rủi ro chính trị 22
2.2.4 Một số rủi ro xã hội khác 23
2.3 Tóm lược rủi ro quốc gia Trung Quốc 25
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM TRUNG QUỐC VÀ KHUYẾN NGHỊ
KHI ĐẦU TƯ, KINH DOANH VỚI TRUNG QUỐC 26
3.1 Xếp hạng Trung Quốc của các tổ chức xếp hạng quốc tế 26
3.2. Các khuyến nghị khi đầu tư, kinh doanh với Trung Quốc 27
KẾT LUẬN 32
1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO QUỐC GIA
1.Khái niệm rủi ro quốc gia
Bối cảnh xuất hiện thuật ngữ “ Rủi ro quốc gia”
Xét trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển kinh tế không còn giới hạn bởi các đường biên
quốc gia thì việc dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế đến những khu vực có điều kiện kinh
doanh hấp dẫn không còn là vấn đề quá xa lạ. Thách thức xuất hiện khi mỗi quốc gia đều có hệ
thống chính trị và pháp lý đặc trưng, và những nền tảng này góp phần vào việc tạo nên chiến
lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp cần đưa ra
đường lối phù hợp với những luật pháp và quy định áp dụng với giao dịch kinh doanh tại mỗi
quốc gia. Lấy ví dụ, việc chính phủ các quốc gia áp thuế nhập khẩu khiến cho rất nhiều công ty
chọn cách gia nhập thị trường nước ngoài bằng con đường đầu tư FDI thay vì xuất khẩu. Tuy
vậy, những đặc trưng trong hệ thống pháp luật và chính trị ở các quốc gia cũng góp phần tạo nên
cơ hội kinh doanh cho các công ty. Trợ cấp ưu đãi, ủng hộ của chính phủ, sự bảo vệ đối với cạnh
tranh, tất cả những thuận lợi này giúp làm giảm chi phí và ảnh hưởng đến việc hoạch định chiến
lược kinh doanh.
phủ thì rủi ro quốc gia được biết đến như là rủi ro thể chế hay rủi ro tín dụng quốc gia.
Trong khía cạnh tài chính, khi mà một quốc gia không hoàn thành được nhiệm vụ đề ra thì nó sẽ
gây hại đến hoạt động của tất cả các công cụ tài chính khác trong quốc gia đó cũng như đến
những quốc gia mà nó có quan hệ. Trường hợp này cụ thể áp dụng cho cổ phiếu, trái phiếu, quỹ
tương hỗ, quyền chọn và hợp đồng tương lai mà được phát hành trong một quốc gia cụ thể. Trên
khía cạnh này rủi ro quốc gia có thể xem như là những tác động mang tính quốc gia đến thu nhập
từ đầu tư. Tức là nó để cập đến khả năng “tăng giá” tiềm tàng và rủi ro “giảm giá” và khi đó, rủi
ro quốc gia sẽ được lượng hóa bằng phương sai thu nhập.
1.2 Phân loại rủi ro quốc gia
1.2.1 Rủi ro kinh tế
Là một sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế hay tỷ lệ tăng trưởng mà tạo ra một thay đổi chủ
yếu trong thu nhập kỳ vọng của một nhà đầu tư. Rủi ro này phát sinh từ khả năng tiềm tang của
những thay đổi bất lợi trong mục tiêu của các chính sách kinh tế chủ yếu ( chính sách tài khóa,
chính sách quốc tế, chính sách phân bổ của cải cách hay chính sách sản xuất) hay phát sinh từ
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
3
một thay đổi đáng kể trong lợi thế so sánh của quốc gia ( như cạn kiệt tài nguyên, suy thoái công
nghiệp, dịch chuyển dân cư)
1.2.2 Rủi ro chuyển giao
Là rủi ro phát sinh từ một quyết định bởi chính phủ một quốc gia về việc hạn chế sự di chuyển
của dòng vốn nước ngoài. Những hạn chế này có thể là: gây khó khăn cho việc di chuyển lợi
nhuận, cổ tức, hay vốn về nước. Rủi ro chuyển giao cũng có thể hiểu là khả năng mà một tài sản
không thể chuyển đổi sang một đồng tiền thanh toán ( đồng tiền có khả năng chuyển đổi) bởi vì
quốc gia vay nợ thiếu ngoại hối cần thiết hay kiềm chế khả năng này.
1.2.3 Rủi ro tỷ giá
Là một sự biến động bất lợi không mong đợi trong tỷ giá hối đoái. Rủi ro tỷ giá bao gồm một sự
thay đổi không mong đợi trong chế độ tỷ giá như một thay đổi từ tỷ giá cố định sang thả nổi. Lý
thuyết kinh tế chỉ ra việc phân tích rủi ro tỷ giá phải trải qua thời kỳ dài ( hơn 1 đến 2 năm). Các
một quốc gia, quá trình ra quyết định trong chính phủ, và lịch sử của quốc gia đó. Việc bảo hiểm
hiện có đối với các rủi ro chính trị, có thể đạt được từ một số các cơ quan chính phủ và các tổ
chức quốc tế.
1.3 Những nguyên nhân gây ra rủi ro quốc gia
1.3.1 Yếu tố kinh tế vĩ mô
a.Quy mô và cấu trúc nợ nước ngoài trong mối quan hệ với nền kinh tế của quốc gia đó
- Mức độ hiện tại của nợ ngắn hạn và khả năng tiềm tàng đưa đến một cuộc khủng hoảng thanh
khoản
- Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công, khả năng của chính phủ để tạo ra đủ thu nhập từ thuế
và các nguồn khác để đáp ứng nghĩa vụ nợ.
b.Điều kiện và tính tổn thương của tài khoản vãng lai của quốc gia
- Tính quan trọng của hàng hóa xuất khẩu với tư cách là một nguồn thu nhập, sự hiện hữu của bất
kỳ cơ chế ổn định giá, và tính dễ tổn thương của quốc gia đối với sự sụt giảm trong thị trường
xuất khẩu hay trong giá cả của một hàng hóa xuất khẩu.
- Khả năng tiềm tang đối với những biến động đột ngột trong tỷ giá hối đoái và tác động lên giá
trị xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
5
c.Vai trò của các nguồn vốn nước ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu tài trợ của quốc gia
- Mối quan hệ của quốc gia với các nhà cấp tín dụng của khu vực tư nhân, bao gồm sự tồn tại của
những cam kết vay mượn và thái độ của các ngân hàng đối với quan hệ trong việc cho vay thêm
đối với các nhà đi vay trong quốc gia đó.
- Vị thế của quốc gia đối với các nhà cấp tín dụng đa phương và chính thức, bao gồm khả năng
của quốc gia có đủ tư cách và chịu đựng được chương trình điều chỉnh kinh tế của IMF hay các
chương trình phù hợp khác.
- Xu hướng trong đầu tư nước ngoài và khả năng của quốc gia trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài trong tương lai.
- Những cơ hội của tiến trình tư nhân hóa của các thực thể thuộc sở hữu nhà nước.
quan xếp hạng tín nhiệm, Chính phủ có thể nhận biết được thực trạng của nền kinh tế, những yếu
kém và triển vọng quốc gia. Làm cơ sở đưa ra chính sách vĩ mô nhầm nâng cao mức tín nhiệm
trên quốc tế, thu hút dòng vốn đầu tư thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Việc cải thiện mức
độ rủi ro quốc gia cũng đồng thời sẽ làm giảm thiểu chi phí vay mượn trên thị trường tài trợ quốc
tế do nguyên tắc tài chính căn bản rủi ro càng cao thì phần bù rủi cũng phải tương ứng.
Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư trong nước thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia để
nhận biết được mức độ rủi ro chung để so sánh với mức độ rủi ro riêng của mình để có các chiến
lược đầu tư cụ thể nhằm đạt mức sinh lời cao nhất. Đối với các nhà đầu tư quốc tế, đánh giá rủo
ro quốc gia cung cấp thông tin tốt nhất cho việc dự báo các khả năng có thể xảy ra, làm công cụ
cho các quyết định cho vay hoặc đầu tư vào một quốc gia cụ thể.
1.5 Các phương pháp đánh giá rủi ro quốc gia
1.5.1 Phân tích định tính:
Các nhân tố kinh tế vĩ mô
a. Nhân tố đầu tiên trong các nhân tố này là quy mô và cấu trúc của nợ nước ngoài trong
mối quan hệ với nền kinh tế của quốc gia đó.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
7
- Mức độ hiện tại của nợ ngắn hạn và khả năng tiềm tàng đưa đến một cuộc khủng hoảng
thanh khoản
- Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công, khả năng của chính phủ để tạo ra đủ thu nhập
từ thuế và các nguồn khác để đáp ứng nghĩa vụ nợ.
b. Điều kiện và tính dễ tổn thương của tài khoản vãng lai của quốc gia cũng là một nhân
tố quan trọng, bao gồm:
- Mức dự trữ quốc tế
- Tính quan trọng của hàng hóa xuất khẩu với tư cách là một nguồn thu nhập, sự hiện hữu
của bất kỳ cơ chế ổn định giá, và tính dễ tổn thương của quốc gia đối với một sự sụt giảm
trong thị trường xuất khẩu hay trong giá cả của một hàng hóa xuất khẩu
- Khả năng tiềm tàng đối với những biến động đột ngột trong tỷ giá hối đối và tác động lên
mang tính thương mại như Moody’s, Standard and Poor’s, Euromoney, Institutional Investor,
Economist Intelligence Unit, International Country Risk Guide và Political Risk Services đã
cung cấp những hạng mức rủi ro quốc gia mang tính định tính và định lượng bằng việc kết hợp
các thông tin đo lường về rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính và rủi ro chính trị để đạt được một hạng
mức tín nhiệm rủi ro quốc gia tổng hợp.
Sau đây là một số các tổ chức xếp hạng rủi ro quốc gia:
Institutional Investor thực hiện việc nghiên cứu xếp hạng rủi ro quốc gia theo nửa năm, dựa trên
ý kiến của các ngân hàng quốc tế hàng đầu. Khoảng 75 đến 100 ngân hàng xếp hạng cho hơn 135
quốc gia với phạm vi từ 0 đến 100 điểm, 100 điểm đại diện cho mức rủi ro thấp nhất. Các nghiên
cứu rủi ro quốc gia của Institutional Investor được phát hành vào tháng 3 và tháng 9.
Euromoney cung cấp những đánh giá và xếp hạng rủi ro quốc gia cho 185 quốc gia và vùng lãnh
thổ cứ 6 tháng một lần. Các quốc gia được cho điểm dựa trên 9 thành phần tương ứng với 9
quyền số(rủi ro chính trị 25%, mức thể hiện kinh tế 25%, các chỉ số nợ 10%, nợ không thanh
toán hay giãn nợ 10%, xếp hạng tín dụng 10%, khả năng tiếp cận đối với tài trợ ngân hàng 10%,
khả năng tiếp cận tài trợ ngắn hạn 5%, khả năng tiếp cận thị trường vốn 5% và chiết khấu trượt
giá 5%). Giá trị cơ sở tốt nhất cho mỗi loại rủi ro đạt được quyền số đầy đủ, trong khi giá trị tệ
nhất là 0. Các nghiên cứu được phát hành vào tháng 3 và tháng 9 trong các tạp chí tháng.
Standard & Poor’s (S&P) cung cấp các hạng mức tín dụng được cập nhật hàng tuần của các
chính phủ phát hành và vùng lãnh thổ. S&P cung cấp xếp hạng ngắn hạn và dài hạn cho 7 phạm
vi chính là nợ dài hạn, thương phiếu, cổ phiếu ưu đãi, chứng chỉ tiền gửi, quỹ thị trường tiền tệ,
quỹ tương hỗ trái phiếu và trái quyền của các công ty bảo hiểm. Các chữ cái được dùng để xếp
hạng từ C (mức thấp nhất) đến AAA (mức cao nhất).
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
9
Moody’s cung cấp phân tích rủi ro tín dụng quốc gia cho hơn 100 nước, hầu như là các nước này
đều tham gia vào thị trường vốn thế giới. Khi thiết lập rủi ro quốc gia, các nhà phân tích của
Moody’s đánh giá các biến số chính trị và kinh tế để rút ra hạng mức rủi ro quốc gia. Bằng cách
sử dụng hạng mức từ Aaa đến C của Moody’s, các trái phiếu ngoại tệ dài hạn của chính phủ và
gia nhập WTO và tận dụng đầy đủ các lợi thế của sự hội nhập kinh tế thế giới. Mô hình tăng
trưởng kinh tế đã mang đặc trưng rõ nét của mô hình hướng ra xuất khẩu, theo đó 5 đặc khu kinh
tế (ĐKKT) đã được thành lập với luật lệ đầu tư được nới lỏng để thu hút vốn nước ngoài.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
11 Kết quả là từ năm 1978, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trường gần 100 lần và là nền kinh tế
tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Theo IMF, tốc độ trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung
Quốc từ 2001 đến 2010 là 10,5%.
=> Nhìn chung chỉ trong vòng 30 năm, Trung Quốc đã chuyển mình từ một nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung thành một mô hình kiểu mẫu của nền kinh tế định hướng thị trường, và thậm chí
đang dần trở thành “sân chơi” lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu. Hiện tại Trung Quốc là quốc
gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là nước xuất khẩu ròng lớn nhất toàn
cầu: Trung Quốc dẫn đầu kinh tế thế giới về sản lượng công nghiệp, khai thác mỏ và các kim loại
khác, sản phẩm tiêu dùng, thiết bị viễn thông, vệ tinh và ô tô. Đây cũng được coi là nhà sản xuất
đi đầu về gạo, lúa mì, cá, ngô, cotton và lạc. Nước này cũng là nhà nhập khẩu hàng hóa lớn thứ
hai trên thế giới. Theo dự đoán của một số chuyên gia trên thế giới thì Trung Quốc có thể trở
thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2030, thậm chí là năm 2020.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
12 2.1.2 Về chính trị và ngoại giao
Chính trị
Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Trong đó,
Nhà nước dùng các phương pháp độc quyền để ứng xử với các thách thức đối với sự thống trị
cũng như không có quan hệ chính thức với Trung Hoa Dân Quốc là điều kiện tiên quyết để thiết
lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính quyền Trung Quốc cũng cực
lực phản đối các chuyến công du nước ngoài của những lãnh đạo chính trị Đài Loan như Lý
Đăng Huy và Trần Thủy Biển, cũng như Đạt-lai Lạt-ma thứ 14.
Sau nhiều thập niên cải cách, việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc đã có nhiều
thay đổi. Từ chủ trương dùng vũ lực hoặc hăm dọa dùng vũ lực, Trung Quốc đã thay đổi chủ
trương giải quyết bất đồng thông qua đàm phán và thương lượng, cùng gạt qua bất đồng chủ
quyền để hợp tác khảo sát và khai thác tài nguyên biển, cũng như các hoạt động ngoại giao thiện
chí với Ấn độ và Pakistan. Trung Quốc hiện nay tỏ rõ quyết tâm về "sự trỗi dậy trong hòa bình
của Trung Quốc".
Tại diễn đàn về ngoại giao Trung Quốc năm 2013, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Vương
Nghị nhấn mạnh: “Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng khuôn khổ cho sự hợp tác với các cường
quốc, giúp tạo ra sự phát triển lành mạnh và bổ trợ cho nhau”. Theo như phát biểu này có thể
thấy Trung Quốc đã đề ra một đường lối ngoại giao đúng với vị thế của một nước lớn, thể hiện
năm 2014 là một năm đầy những hứa hẹn với những động thái tích cực nhằm xoá bỏ những mâu
thuẫn trước đây, cùng hợp tác vì một thế giới tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, theo các nhà ngoại giao
nhận định thì Trung Quốc thường không thể hiện được như những điều mình thể hiện, như:
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
14
- Trong vấn đề tăng cường thúc đẩy mối quan hệ với các cường quốc, Trung Quốc đã có mối
quan hệ thế nào với nền kinh tế thứ ba thế giới Nhật Bản? Mặc dù hợp tác thương mại giữa hai
quốc gia đã có dấu hiệu ấm lên tuy nhiên rào cản lớn nhất giữa hai quốc gia vẫn là vấn đề tranh
chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
- Bản thân Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã nhiều lần đề nghị những cuộc đối thoại song
phương để giải quyết bất đồng, thúc đẩy hợp tác kinh tế nhưng phía Trung Quốc đã thẳng thừng
từ chối.
- Gần đây nhất, vụ tàu đổ bộ của Trung Quốc chắn ngang đường khiến tuần dương hạm USS
Cowpens của Mỹ phải bẻ lái gấp đã đẩy sự căng thẳng trong quan hệ giữa hai quốc gia lên cao
Một vấn đề nữa mà Trung Quốc phải đối mặt là các dịch bệnh cúm gia cầm bùng nổ trong những
năm gần đây cho các loài gia cầm và chim chóc, cùng với một số người nhiễm. Loại virus này
chủ yếu lây từ gia cầm sang người, tuy vậy mối lo ngại hiện nay theo các chuyên gia là dự báo
loại virus gây ra dịch bệnh toàn cầu này có khả năng biến thể sang hình thức lây nhiễm từ người
sang người.
Gần đây ngày càng xuất hiện nhiều chủng cúm gia cầm mới, theo thống kê trong tháng 01/2014
Trung Quốc đã báo cáo khoảng 50 trường hợp lây nhiễm H7N9, đây là chủng virus mới rất khó
kiểm soát do gia cầm nhiễm bệnh không biểu hiện triệu chứng và dễ dàng lây từ người sang
người.
2.2 Phân tích rủi ro quốc gia Trung Quốc
2.2.1 Rủi ro kinh tế
Trong một nền kinh tế toàn cầu đầy rẫy nguy cơ thì cơ hội và thách thức luôn song hành với
nhau. Trong đánh giá về triển vọng kinh tế Trung Quốc năm 2014, Phó Viện trưởng Viện Khoa
học xã hội Trung Quốc Lý Dương nhận định hiện nay kinh tế Trung Quốc đối mặt với 5 nguy cơ:
Kinh tế giảm tốc
Là một nước có thế mạnh về xuất khẩu nhưng do tình hình kinh tế thế giới còn nhiều biến động
phức tạp nên thị phần quốc tế bị co hẹp. Chính điều này đã làm xuất khẩu bị giảm mạnh, đặc biệt
là xuất khẩu bằng phương thức gia công chế xuất lần đầu tiên trong 10 năm qua giảm mạnh.
Bên cạnh đó, giá trị đồng nhân dân tệ tăng chậm so với đồng USD, trong khi đồng tiền của các
nước khác có quan hệ cạnh tranh với Trung Quốc phần lớn lại tăng chậm so với đồng nhân dân
tệ, như thế sẽ tiếp tục làm yếu đi sức cạnh tranh giá cả của các mặt hàng xuất khẩu Trung Quốc.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
16
Nhìn chung nền kinh tế Trung Quốc đang trên đà suy giảm, điển hình nhất là năm 2013 chỉ số
giá sản xuất (PPI) giảm 1,4% so với năm 2012 đã nói lên những khó khăn và thách thức mà
Trung Quốc phải đối mặt trong bối cảnh nền sản xuất bị đè nặng bởi lãi suất cao, kiểm soát tăng
trưởng tín dụng để kiểm soát nợ xấu.
đương với 1/3 GDP của Trung Quốc. Căn nguyên của vấn đề nằm ở chỗ, tình trạng nợ tồn đọng
xảy ra phổ biến, trong khi nguồn thu để trả nợ thì bị hạn chế. Nguồn thế chấp chủ yếu để vay nợ
của chính quyền địa phương đều là đất đai và tài nguyên. Khi thị trường bất động sản bị đóng
băng, cái vòng luẩn quẩn của khủng hoảng sẽ xuất hiện vì khả năng vay mới cũng như trả nợ của
các địa phương Trung Quốc sẽ bị tổn thương nặng nề.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
18
Cơ cấu chi tiêu 10.900 tỷ NDT vay nợ của chính quyền địa phương (%)
Tính chung cả nợ của Nhà nước lẫn tư nhân, thì tỷ lệ này tăng từ 131% năm 2008 lên thành
215% vào năm 2013. Đành rằng nợ công của Trung Quốc không thấm vào đâu so với Nhật Bản
(250 % GDP) hay của Hy Lạp (160% GDP), nhưng các con số nói trên cho thấy khu vực kinh tế
Nhà nước Trung Quốc mắc nợ quá nhanh trong thời gian từ 4 đến 5 năm trở lại đây. Các con số
nói trên càng đáng quan ngại hơn, khi tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc có khuynh hướng giảm
sụt.
Trong trung và dài hạn, mối đe dọa lớn nhất tới tình hình tài khóa của Trung Quốc đến từ hệ
thống bảo lãnh ngầm mà chính phủ và ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) cho khoản nợ
của chính quyền địa phương. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hy vọng có thể kiểm soát những rủi
ro tiềm ẩn bắt nguồn từ công cụ đầu tư của chính quyền địa phương (LGIV), bằng cách hạn chế
nguồn vốn vay từ ngân hàng. Tuy nhiên trên thực tế, LGIV đã nhận được nguồn tài chính lớn vào
năm 2012, bằng cách phát hành trái phiếu và các khoản vay ủy thác. Do nền kinh tế đang rơi vào
suy giảm nên nguồn thu cũng giảm, trong khi nguồn chi tăng mạnh đã tạo áp lực mạnh lên nền
kinh tế. Vì vậy Trung Quốc cần phải thiết lập hệ thống ngân sách công và kiểm soát tài chính
một cách hiệu quả, Chính phủ cần phải tăng cường giám sát tài chính, cải thiện quản lý ngân
sách và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính sách tài khóa.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
19
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
20
đóng góp 12% GDP (năm 2011) của Trung Quốc. Đối với chính quyền địa phương, khoảng 80%
chi tiêu công nghiệp và thu nhập ngân sách địa phương có liên quan đến lĩnh vực bất động sản.
Tháng 01 năm 2014, theo thống kê với 70 thành phố lớn của Trung Quốc, chỉ có 2 thành phố là
giảm giá nhà, 6 thành phố có giá cả tương đối giữ nguyên. Tuy nhiên, mức tăng giá trung bình
cho các ngôi nhà mới là 0,49% giảm nhẹ so với tháng 12/2013 là 0,51%. Còn tại các thành phố
lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu và Thâm Quyến chỉ tăng 0,1%. Giá nhà tăng nhẹ
một phần do tác động của các biện pháp chính phủ nhằm hạ nhiệt giá bất động sản và đưa giá bất
động sản về mức hợp lý, nhằm dập tắt mối hiểm họa tiềm tàng dẫn đến bất ổn xã hội. Theo đó
một số ngân hàng thương mại ở Trung Quốc đã thắt chặt cho vay đối với lĩnh vực bất động sản
sau khi họ bị ảnh hưởng bởi cơn khủng hoảng thanh khoản nghiêm trọng vào năm 2013. Đồng
thời Ngân hàng Công nghiệp Trung Quốc đã ra lệnh cho các chi nhánh địa phương đình chỉ các
khoản vay của một số lĩnh vực cho đến cuối tháng 3/2014, trong đó có một số dự án phát triển
bất động sản, cũng như thép, xi măng, xây dựng và các lĩnh vực liên quan khác.
Công suất dư thừa
Một cuộc điều tra vào tháng 09/2013 cho thấy năng lực sản xuất của các nhà máy đang dư thừa
một cách hết sức nghiêm trọng. Hiện nay, hoạt động sản xuất của xí nghiệp chỉ cần sử dụng 72%
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA –TRUNG QUỐC GVHD:PGS.TS T RƯƠNG QUANG THÔNG
21
trang thiết bị hiện có của xí nghiệp là được, thấp hơn thời điểm cuối năm 2012 là 0,7 điểm phần
trăm, trong đó tỉ lệ sử dụng thiết bị của ngành sản xuất chế tạo chỉ có 70,8%, thấp hơn cuối năm
ngoái 1 điểm phần trăm. Những xí nghiệp có tỉ lệ sử dụng trang thiết bị dưới mức 75% chiếm
55% tổng số xí nghiệp sản xuất chế tạo. Đồng thời, năng lực sản xuất dư thừa cho thấy đặc điểm
là số lượng các xí nghiệp có năng lực sản xuất dư thừa tồn tại rất đông trên diện rộng, năng lực
muốn khôi phục tăng trưởng kinh tế vừa muốn kìm chế tăng trưởng tín dụng, song song đó là
những khoản nợ công khổng lồ.
Tỷ giá hối đoái – Dự trữ ngoại hối
Sau 10 năm chịu chỉ trích vì định giá thấp, nhân dân tệ đang trở lại mạnh mẽ cùng tham vọng lớn
trở thành tiền tệ tự do chuyển đổi quốc tế. Kể từ giữa năm 2012, tỷ giá đồng nhân dân tệ đã được
thả nổi với biên độ 1%. Cũng từ năm 2012 tốc độ thả nổi của tài khoản vốn đã tăng nhanh rõ rệt:
85% các tiểu mục trong tài khoản vốn của Trung Quốc hiện nay ở trên mức tiêu chuẩn của IMF,
không có hạng mục nào hoàn toàn không có khả năng chuyển đổi .
Cải cách tài khoản vốn được kỳ vọng sẽ diễn ra với tốc độ nhanh hơn do Trung Quốc đã cam kết
sẽ "tăng khả năng" chuyển đổi của tài khoản vốn bằng đồng NDT trong chương trình cải cách
mới của mình. Điều này đi xa hơn so với báo cáo trước đó là "dần dần thực hiện" chuyển đổi tài
khoản vốn. Hay nói một cách khác đồng tiền nhân dân tệ đang đi vào ổn định hơn mới tham
vọng trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi quốc tế
Số liệu mà Bắc Kinh công bố mới đây cho thấy, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tính đến cuối
tháng 12-2013 đạt mức kỷ lục 3,82 ngàn tỉ USD, cao hơn dự trữ ngoại hối của bất kỳ quốc gia
nào khác trên thế giới từ trước đến nay. Tuy nhiên việc dư thừa dự trữ ngoại hối cũng gây sức ép
lên công tác điều hành của Ngân hàng Trung ương, điển hình như: tờ China Securities Journal
cách đây vài tháng cho biết, 65% dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc là USD, 26% là euro, 5% là
bảng Anh và 3% là yên Nhật. Trung Quốc là chủ nợ lớn thứ 2 của Mỹ chỉ sau Cục dự trữ liên
bang Mỹ (Fed).
=> Với đồng tiền tương đối ổn định và dự trữ ngoại hối lớn cho phép Trung Quốc có thể “miễn
nhiễm” trước sự rút vốn của các làn sóng FDI khi có khủng hoảng xảy ra.
2.2.3 Rủi ro chính trị
Một trong những vấn đề lớn được đặt ra cho Trung Quốc trong thời gian gần đây là tệ nạn tham
nhũng. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình coi tình trạng tham nhũng là mối đe dọa đối với
tương lai của đảng cầm quyền và tuyên bố sẽ trấn áp tham nhũng ở mọi cấp chính phủ.