phân tích rủi ro quốc gia trường hợp thái lan - Pdf 13

Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
Đề tài:

PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA
TRƯỜNG HỢP THÁI LAN GVHD: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG
NHÓM 7-NH ĐÊM 2-K22
TP.Hồ Chí Minh- Năm 2014
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang Thông
b. Thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt 27
c. Quản lý nợ vay nước ngoài : 28
d. Sử dụng vốn vay nước ngoài hiệu quả 28
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 3

2. Nhóm đề xuất cho rủi ro kinh tế 29
3. Nhóm đề xuất cho rủi ro chính trị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 1

LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ hoạt động đầu tư nào, vấn đề rủi ro luôn được đề cập đến khi đánh giá
tính hiệu quả của hoạt động đầu tư đó. Ngày nay, trong quá trình toàn cầu hóa, sự chu
chuyển vốn giữa các quốc gia càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Vấn đề xem xét đánh giá mức
độ rủi ro của từng quốc gia được đặt ra cũng trở nên phổ biến như việc đánh giá rủi ro
của bất kỳ hoạt động đầu tư nào đó.
Nền kinh tế Thái Lan được xem là nền kinh tế có sự phát triển vượt bậc trong những
năm gần đây so với nền kinh tế các nước Đông Nam Á. Thái Lan có nhiều ngành hàng
đứng đầu thế giới và khu vực như xuất khẩu lúa gao, may mặc, giày dép, hải sản,
ngành công nghiệp sản xuất xe hơi, linh kiện thiết bị điên tử, bên cạnh đó ngành dịch vụ
du lịch cũng đóng góp không kém vào GDP của Thái Lan. Nền kinh tế Thái Lan trong
năm 2014 được hy vọng sẽ tiếp tục phát triển , nhưng tất cả các lĩnh vực cần phải quản lý
rủi ro một cách hiệu quả và đối phó với nhiều thách thức. Trong đó, khủng hoảng chính

Liên quan đến việc cho vay, người đi vay có thể phân loại thành hai nhóm: chính
phủ vay và vay có bảo đảm của chính phủ, và vay từ các công ty tư nhân không có bảo
đảm. Khi thuật ngữ rủi ro quốc gia được sử dụng trong cho vay xuyên biên giới và người
đi vay là chính phủ thì rủi ro tín dụng được biết đến như là rủi ro thể chế (sovereign risk)
hay rủi ro tín dụng quốc gia. Rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay sẽ không hoàn
thành đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng vay mượn dẫn đến những mất mát cho người
cung cấp tín dụng hay người cho vay.
Rủi ro quốc gia đối với nhà đầu tư bao gồm cả khả năng “tăng giá” tiềm tàng và rủi
ro “giảm giá” và có thể đo lường bằng phương sai của thu nhập. Trong hầu hết các
trường hợp khả năng các sự kiện tiêu cực sẽ làm tăng giá trị đầu tư là rất thấp. Do đó rủi
ro quốc gia có thể xem như là những tác động mang tính quốc gia đến thu nhập từ đầu tư.
2. Phân tích rủi ro quốc gia
a. Rủi ro chính trị
 Những hành động của chính phủ:
Đối với nhiều quốc gia đây là loại rủi ro quan trọng nhất. Một quốc gia là một thực
thể chính trị với những luật lệ và quy định áp dụng đối với đầu tư. Thêm vào đó những
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 3

điều luật bảo vệ quyền đối với tài sản cá nhân, sự sẵn sàng và khả năng của một chính
phủ thay đổi những luật lệ và quy định này sẽ tạo thành một nguồn rủi ro đối với đầu tư.
Chính phủ có quyền lực đặc biệt tác động tới nền kinh tế; chính phủ có thể đưa ra
một đạo luật tác động tới một số ngành công nghiệp hoặc một số công ty mà nhà đầu tư
đang đầu tư vào, hoặc chính phủ có thể ban hành luật mới điều chỉnh trần lãi suất ngân
hàng, xoá nợ cho một số nhóm ngành cụ thể của xã hội.
Khi quốc gia có một vị thủ tướng hay tổng thống mới, họ có những hệ tư tưởng kinh
tế và chính trị khác nhau. Trong quá trình này, vận mệnh của nhiều ngành và nhiều công
ty có thể trải qua một sự thay đổi lớn lao. Thay đổi các chính sách chính phủ mới cũng là

khả năng thu hút vốn.
Bạo loạn làm cho tình hình chính trị trong nước không ổn định, những đất nước
nhiều đảng, nhiều tư tưởng sẽ luôn diễn ra tình hình tranh quyền lực, mâu thuẫn nội bộ
làm nổi lên trào lưu đấu tranh ngầm, bạo lạo diễn ra, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh
cũng như lòng tin về chính sách đối với nhà đầu tư.
b. Rủi ro kinh tế
Rủi ro kinh tế là những rủi ro gây ra do sự thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái của
một quốc gia:
 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Khi đầu tư vốn vào một quốc gia hoặc vay mượn bằng ngoại tệ của các công ty
trong nước đều phải chịu rủi ro về tỷ giá hối đoái. Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái làm ảnh
hưởng đến khả năng trả nợ ngoại tệ của công ty trong nước cũng như vốn đầu tư, lợi
nhuận chuyển về của quốc gia đi đầu tư. Tỉ giá ngoại hối của các đồng tiền giao động
nhiều, không nằm trong dự đoán, Rủi ro này giờ đây gặp nhiều (từ sau khi hệ thống
Bretton Woods tan vỡ ), ảnh hưởng nhiều đến các hợp đồng kinh tế cũng như việc quản lí
bản thân nó. Rủi ro này cũng được các quốc gia cho vay quan tâm vì ảnh hưởng đến khả
năng trả nợ của các con nợ khi đến thời hạn.
 Rủi ro lãi suất
Lãi suất ảnh hưởng đến lợi nhuận các doanh nghiệp trong nước cũng như khả năng
thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Khi lãi suất trong nước cao sẽ thu hút được nhiều vốn đầu
tư nhưng với một mức lãi suất quá cao sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nền kinh
tế, nợ công của chính phủ gia tăng. Qua đó có thể làm giảm khả năng trả nợ của chính
phủ cũng như uy tín quốc gia và tác động đến dòng tiền đổ vào.
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 5

Lãi suất tăng cao cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nước,
khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn do suất sinh lợi nhỏ hơn lãi suất. Sự biến động của tình

Nhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 6

3. Các nhân tố tác động đến rủi ro quốc gia
a. Các nhân tố kinh tế vĩ mô
Nhân tố đầu tiên trong các nhân tố này là quy mô và cấu trúc của nợ nước
ngoài
trong mối quan hệ với nền kinh tế của quốc gia đó. Một cách cụ thể hơn
là:

- Mức độ hiện tại của nợ ngắn hạn và khả năng tiềm tàng đưa đến một
cuộc
khủng hoảng thanh
khoản
- Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công, khả năng của chính phủ để tạo
ra
đủ thu nhập, từ thuế và các nguồn khác, để đáp ứng nghĩa vụ
nợ.

Điều kiện và tính dễ tổn thương của tài khoản vãng lai của quốc gia cũng là
một
nhân tố quan trọng, bao
gồm:

 Mức dự trữ quốc tế.
 Mức dự trữ nhập khẩu được cung cấp bởi dự trữ quốc tế của quốc gia.
 Tính quan trọng của hàng hóa xuất khẩu với tư cách là một nguồn thu nhập,
sự hiện hữu của bất kỳ cơ chế ổn định giá, và tính dễ tổn thương của quốc
gia đối với một sự sụt giảm trong thị trường xuất khẩu hay trong giá cả của
một hàng hóa xuất khẩu.
- Khả năng tiềm tàng đối với những biến động đột ngột trong tỷ giá hối đoái và tác

giám sát hoạt động ngân hàng và bất kỳ gánh nặng tiềm tàng của các khoản nợ bất ngờ
mà một hệ thống ngân hàng yếu kém có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với
chính phủ.
- Quy mô của vay mượn trực tiếp từ chính phủ hay sự can thiệp khác của chính
phủ có thể tác động bất lợi đến tính hoàn hảo của hệ thống ngân hàng, hay cơ cấu và khả
năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp hay các công ty được ưu đãi.
- Mức độ tác động mà các điều kiện kinh tế vĩ mô có thể gây ra bất lợi đối với rủi
ro tín dụng của các đối tác của nhà đầu tư trong quốc gia đó.
- Viễn cảnh kinh tế của bất kỳ ngành công nghiệp mục tiêu của quốc gia.
b. Môi trường xã hội, chính trị và pháp luật
Việc phân tích rủi ro quốc gia cũng nên đưa vào xem xét môi trường xã hội,
chính
trị, và pháp
luật:

- Tiềm lực tự nhiên và nguồn nhân lực của quốc gia.
- Thiện chí và năng lực của chính phủ để nhận biết những vấn đề kinh tế và vấn đề
ngân sách và hành động để sữa chữa bổ sung thích hợp.
- Mức độ tác động của tư tưởng bè phái, chính trị hay xung đột vũ trang đến chính
phủ của quốc gia đó.
- Bất cứ xu hướng nào về việc đánh thuế giá cả, lãi suất, hay kiểm soát ngoại hối.
- Mức độ mà hệ thống pháp luật có thể bảo vệ một cách công bằng lợi ích của các
nhà tín dụng nước ngoài và nhà đầu tư.
- Các chuẩn mực kế toán trong quốc gia và tính tin cậy, tính minh bạch của thông tin
tài chính.
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 8

Nhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 9

Tên tuổi của các ngân hàng tham gia được giữ bí mật hoàn toàn. Các nghiên cứu rủi ro
quốc gia của Institutional Investor được phát hành vào tháng 3 và tháng 9. Trong tài liệu
rủi ro quốc gia, đánh giá rủi ro quốc gia của Institutional Investor được xem như là đánh
giá, nhận định của các ngân hàng.
- Euromoney cung cấp những đánh giá và xếp hạng rủi ro quốc gia cho 185 quốc gia
và vùng lănh thổ cứ 6 tháng một lần. Các quốc gia được cho điểm tương ứng dựa trên 9
thành phần, và sau đó được xếp hạng theo điểm số này. Để có điểm rủi ro quốc gia tổng
hợp thì mỗi loại trong 9 thành phần sẽ có một quyền số (rủi ro chính trị 25%, mức thể hiện
kinh tế 25%, các chỉ số nợ 10%, nợ không thanh toán hay giăn nợ 10%, xếp hạng tín dụng
10%, khả năng tiếp cận đối với tài trợ ngân hàng 10%, khả năng tiếp cận tài trợ ngắn hạn
5%, khả năng tiếp cận thị trường vốn 5%, và chiết khấu trượt giá 5%). Giá trị cơ sở tốt
nhất cho mỗi loại rủi ro đạt được quyền số đầy đủ, trong khi giá trị tệ nhất là 0. Tất cả giá
trị được tính toán tương xứng với điểm số tốt nhất và tệ nhất. Các nghiên cứu được phát
hành vào tháng 3 và tháng 9 trong các tạp chí tháng.
- Standard & Poor’s (S&P) cung cấp các hạng mức tín dụng được cập nhật hàng
tuần của các chính phủ phát hành và vùng lănh thổ. Hạn mức tín dụng quốc gia (rủi ro thể
chế) không phải là hạng mức quốc gia v́ nó chỉ thể hiện rủi ro tín dụng của chính phủ quốc
gia, không phải là rủi ro tín dụng của các nhà phát hành khác trong nước. Tuy nhiên, xếp
hạng tín dụng quốc gia thiết lập điểm chuẩn cho các hạng mức tín dụng cho các nhà phát
hành khác trong nước. S&P cung cấp xếp hạng ngắn hạn và dài hạn, cũng như một cái
nhìn định tính cho 7 phạm vi chính là nợ dài hạn, thương phiếu, cổ phiếu ưu đăi, chứng
chỉ tiền gửi, quỹ thị trường tiền tệ, quỹ tương hỗ trái phiếu, và trái quyền của các công ty
bảo hiểm. Việc xác định rủi ro tín dụng gắn liền với rủi ro chính trị (sự sẵn sàng trả nợ của
chính phủ) và rủi ro kinh tế (khả năng của chính phủ đối với nghĩa vụ nợ). Xếp hạng các
nhà phát hành ngoại tệ cũng được phân biệt với xếp hạng các nhà phát hành nội tệ để xác
định các trường hợp mà rủi ro thể chế làm cho chính phủ khác biệt với các nhà phát hành

với các khoản đi vay của quốc gia), và rủi ro khu vực ngân hàng (gắn liền với các khoản
cho vay ngoại tệ đối với ngân hàng). Hạng mức rủi ro đầu tư xác định cũng được xác định
bởi 4 nhân tố như trên nhưng với quyền số khác. Đối với rủi ro tiền tệ, chính sách kinh tế
có quyền số cao nhất là 65%, các nhân tố cơ cấu kinh tế, chính trị, thanh khoản lần lượt có
quyền số là 17%, 14%, và 4%. Trong trường hợp của rủi ro vỡ nợ quốc gia, thanh khoản
có quyền số cao nhất là 31%, chính sách kinh tế và cơ cấu kinh tế có quyền số là 27%, và
nhân tố chính trị là 15%. Cuối cùng, đối với rủi ro khu vực ngân hàng, cơ cấu kinh tế là
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 11

nhân tố có quyền số cao nhất 44%, các nhân tố chính sách kinh tế, thanh khoản và chính
trị có quyền số lần lượt là 35%, 15%, và 6%.
Chương II. PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA DƯỚI GÓC ĐỘ CỦA THÁI LAN
1. Giới thiệu sơ nét về Thái Lan
a. Lịch sử hình thành
Theo sử sách Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng núi Altai, Đông Bắc tỉnh Tứ
Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dần xuống vùng đất hiện nay là Thái
Lan. Vào năm 1238, người Thái thành lập một Vương quốc Phật giáo tên Sukhothai (ở
miền Bắc Thái Lan), dần thay thế vai trò của Đế chế Khmer đang tàn lụi (vào thế kỷ 13 –
thế kỷ 15).
Năm 1283 người Thái có chữ viết. Sau đó người Thái mở rộng lãnh thổ xuống phía
nam, và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayuthaya (phía bắc Bangkok 70 km). Năm
1431, quân Xiêm cướp phá Angkor. Nhiều bảo vật và trang phục của văn hóa Hindu đã
được họ đem về Ayutthaya, lễ nghi và cách ăn mặc của người Khmer được dung nhập
vào thượng tầng văn hóa Xiêm.
Trong khoảng 400 năm, từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18, giữa người Thái và người Miến
Điện láng giềng luôn xảy ra các cuộc chiến tranh và kinh đô Ayuthaya bị huỷ diệt ở thế
kỷ 18. Năm 1767, một tướng người Thái gốc Hoa, Taksin, đứng lên chống quân Miến

hình an ninh trật tự của Thái Lan trở nên rối loạn, hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức
bị đình trệ, thiệt hại về người, về của là điều không thể tránh khỏi.
Về đối ngoại: Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực chưa từng bị đô hộ. Thái
Lan theo đuổi một chính sách ngoại giao được biết với tên gọi là “không đứng về phía
nào”, hoặc cũng có thể gọi theo cách khác là “đứng trung lập”. Nhưng có một đặc tính là
Thái Lan chắc chắn sẽ thay đổi chính sách nếu có một bên giành chiến thắng. Những ví
dụ rõ rệt là trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Thái Lan đã chuyển từ đồng minh với Nhật
Bản sang ủng hộ Mỹ, hay như việc hợp tác quân sự với Cộng sản Trung Quốc trong xung
đột tại Campuchia vào những năm 1980.
Chính sách ngoại giao này khá hữu dụng, giúp cho Thái Lan có thể ứng phó với
những thách thức từ bên ngoài. Trong suốt 6 thập kỷ vừa qua, là một đồng minh của Mỹ,
chính sách ngoại giao của đất nước đã đi theo con đường chiến lược được Washington
vạch ra. Tuy nhiên những bất ổn và mâu thuẫn trong nước có thể gây cản trở đối với
chính sách đối ngoại linh hoạt của Thái Lan
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 13

c. Kinh tế
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống. Trước năm 1960, công nghiệp
Thái Lan khá manh mún, chủ yếu là các xí nghiệp tư nhân nhỏ và một số công ty quốc
doanh cỡ vừa. Thế nhưng, sau năm 1960, Thái Lan đã thay đổi về tầm nhìn lẫn chính
sách tăng trưởng. Nước này chuyển sang đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật cao thay cho lao
động giá rẻ. Họ không sử dụng chiến lược sản xuất thay thế hàng nhập khẩu nữa, mà
hướng đến xuất khẩu. Tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế ngày càng tăng, hiện chiếm
gần 50% tổng sản phẩm quốc nội so với 44,9% của năm 2006.
Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới. Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn
105 tỷ đô la hàng năm. Các sản phẩm xuất khẩu chính bao gồm gạo, hàng dệt may, giầy
dép, hải sản, cao su, nữ trang, ô tô, máy tính và thiết bị điện. Thái Lan đứng thứ 1 thế giới

Đứng thứ hai là đạo Hồi với 4,6%. Một số tỉnh, thành phía nam Chu mphon (cách
Bangkok 463 km về phía tây nam) là điạ bàn cư trú chủ yếu của người Hồi giáo. Họ
thường tập trung thành những cộng đồng tách riêng với các cộng đồng khác. Tập trung
nhiều nhất tại bốn tỉnh cực nam của Thái Lan là người Mã Lai. Kitô giáo, chủ yếu
là Công giáo Rôma, chiếm 0,75% dân số. Ngoài ra còn một số nhóm người theo Ấn Độ
giáo và đạo Sikh có thế lực, sống tại các thành phố.
Tiếng Thái là ngôn ngữ hành chính tại Thái Lan, có bảng chữ cái riêng. Bên cạnh
đó tại Thái Lan tồn tại nhiều ngôn ngữ khác như tiếng địa phương chủ yếu là tiếng
Isan hoặc tiếng Môn–Khmer. Đồng thời tiếng Anh cũng được giảng dạy rộng rãi tại Thái
Lan.
Văn hóa Thái Lan chịu ảnh hưởng sâu nặng từ nền văn minh rực rỡ Khmer
(Campuchia ngày nay), và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Phật giáo - tôn
giáo chính thức được công nhận là quốc giáo ở đất nước này và từ nền sản xuất phụ thuộc
vào nguồn nước. Có thể thấy rõ hai điểm trên qua các ngày lễ hội. Trong văn hóa ứng
xử, người Thái tỏ rõ sự sùng đạo, tôn kính hoàng gia và trọng thứ bậc cũng như tuổi tác.
Mọi người đàn ông Thái trong đời mình đều vào chùa tu tập ít nhất 3 tháng. Các lễ hội
Phật giáo ở Thái hết sức long trọng và thân kính. Thái Lan đâu đâu cũng có chùa rất đẹp,
nên Thái lan còn được gọi là Đất nước chùa vàng. Cả nước có gần 3 vạn ngôi chùa, riêng
Bangkok có trên 300 ngôi chùa, làng nào cũng có từ 1 đến 2 chùa.
Mối liên kết Đất – Nước – Lúa đã làm ra văn hóa lễ hội của Thái. Lễ lớn nhất trong
năm là TếtThái (Soỏng Kram) được định vào đầu mùa mưa (khoảng giữa tháng 4). Trong
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 15

ngày lễ hội này, mọi người mặc đẹp, áo quần sặc sỡ, nhà cửa trang hoàng lộng lẫy. Mỗi
gia đình thường có một bình nước thơm, khi có khách đến thăm, chủ nhà cầm cành hoa
nhúng vào nước rồi rẩy lên áo người khách để chúc mừng năm mới yên vui may mắn.
Hội té nước là nét đặc trưng của ngày tết Soỏng Kram ở Thái Lan, Lào và Campuchia.

Lan hiện ra trong mắt mọi người lại là một hình ảnh bất ổn, bạo loạn và tiềm ẩn nguy cơ
chiến tranh. Hàng ngàn người đổ xuống đường biểu tình làm ảnh hưởng đến hoạt động
chung của cả đất nước, nhiều cơ quan, tổ chức, xe cộ bị đập phá, đốt cháy; hàng ngàn
phải nghỉ làm vì sợ va chạm với đám đông đang bị kích động. Tất cả tạo nên một đất
nước Thái Lan hỗn loạn và đầy bất ổn.
Đến ngày 27/1, phía quân đội vẫn luôn giữ thái độ trung lập. Khủng hoảng chính
trị rối loạn ở Thái Lan kéo dài đến hiện nay, theo các nhà quan sát,ông Thaksin mặc dù
đóng vai trò vô cùng then chốt nhưng không hề là “cá nhân đã thay đổi lịch sử”. Phân
tích sâu hơn, cho thấy mâu thuẫn giữa phe “chống đối Thaksin” và “ủng hộ Thaksin” chỉ
là hiện tượng bên ngoài. Cuộc khủng hoảng chính trị ở Thái Lan có nguyên nhân căn bản
sâu sắc của nó.
Thứ nhất, sự đối lập căn bản về lợi ích giai cấp. “Phe chống đối Thaksin” chủ yếu
là chính giới địa phương, doanh nghiệp và các nhóm chính trị, quan chức và một bộ phận
giai cấp trung lưu thành phố. Đây là lực lượng trụ cột của cấu trúc chính trị tinh hoa
truyền thống Thái Lan. Phe “ủng hộ Thaksin” là tầng lớp bình dân chủ yếu là nông dân ở
phía Đông Bắc, họ theo đuổi cấu trúc chính trị “mô hình toàn dân” cân bằng và công
bằng hơn. “Phe chống đối Thaksin” có lợi thế từ thể chế chính trị tinh hoa truyền thống
của Thái Lan trong khi “phe ủng hộ Thaksin” lại coi chính sách mà Thaksin thực hiện
trong thời gian cầm quyền là đại diện cho lợi ích của họ.
Từ những năm 1960 đến nay kinh tế Thái Lan phát triển rất nhanh, được coi là
một “con rồng nhỏ” Đông Á, đứng vào hàng các nước có mức thu nhập trung bình, hơn
nữa tỉ lệ đói nghèo giảm đi đáng kể, nhưng dưới thể chế chính trị tinh hoa truyền thống,
Thái Lan đã thực hiện chính sách kinh tế “coi trọng thành thị, xem nhẹ nông thôn” trong
thời gian dài, tầng lớp nông dân không được chia sẻ lợi tức phát triển về kinh tế-xã hội
của đất nước, dẫn tới khoảng cách giàu nghèo ở trong nước, ở thành thị và các khu vực
ngày càng cách xa. Đồng thời về chính trị, tầng lớp nông dân cũng bị vứt bỏ ngoài thể
chế chính trị tinh hoa thời gian dài, vừa không có bất cứ quyền phát ngôn nào về chính
trị, vừa không có ý thức và đòi hỏi chính trị rõ ràng, tầng lớp nông dân chiếm gần 70%
dân số Thái Lan trở thành “đa số thầm lặng”.
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang Thông

Tập đoàn này trước tiên đã thực hiện trỗi dậy về kinh tế vào cuối những năm 80
của thế kỷ 20, chủ yếu dựa vào vốn hoặc các ngành nghề mới nổi. Vì vậy, tuy họ có mối
liên hệ chằng chịt với tầng lớp tinh hoa chính trị truyền thống nhưng có sự khác biệt rõ
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 18

rệt về phạm vi ngành nghề, kênh góp vốn và quan điểm kinh doanh, lợi ích kinh tế làm
cho tập đoàn này rất cần một thị trường thống nhất trên cả nước nhằm xóa bỏ ngăn cách
giữa thành thị và nông thôn, vì vậy tư duy chính trị của tập đoàn này có lực ly tâm xa rời
truyền thống.
Nhờ sự ủng hộ về tiền vốn dồi dào, số lượng lớn phiếu bầu của nông dân do
“chính sách dân túy” mang lại, chế độ của “Hiến pháp năm 1997” có lợi, cộng với kinh tế
Thái Lan xuống dốc sau cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á năm 1997, sự mong
đợi vai trò lãnh đạo của người hùng về kinh tế như Thaksin, tập đoàn Thaksin gặp được
thiên thời địa lợi, lực lượng nhanh chóng mở rộng.
Tập đoàn Thaksin không những trở thành chính đảng “một đảng cầm quyền” đầu
tiên trong lịch sử Thái Lan, mà còn tìm cách lợi dụng sức mạnh nguồn vốn dồi dào của
mình tiến hành thâm nhập vào các cơ quan độc lập khác, mở rộng quyền lực của nội các
và thủ tướng, cộng với phong cách cầm quyền theo kiểu người hùng và phương thức cải
cách cấp tiến của Thaksin, đã phá vỡ hoàn toàn cấu trúc quyền lực của chính trị tinh hoa
truyền thống. Do đó năm 2006, lực lượng “chống đối Thaksin” đã liên kết với nhau phát
động đảo chính lật đổ Thaksin, và trong 8 năm sau đó dùng mọi cách dốc toàn lực chèn
ép tập đoàn Thaksin ngóc đầu dậy.
Tuy nhiên, do ý thức tham gia chính trị của nông dân lên cao và sự nổi lên như là
lực lượng chính trị độc lập của họ, Thái Lan chắc chắn không thể trở lại sự cân bằng dưới
cấu trúc chính trị tinh hoa truyền thống.
Thứ ba: Thêm vào đó là sự khiếm khuyết của thể chế chính trị dân chủ. Sở dĩ các
phe phái có thể giữ được cân bằng dưới nền chính trị tinh hoa truyền thống là nhờ vai trò

bath cũng mất 4.9% giá trị trong vòng 2 tháng và rơi vào mức thấp nhất trong 3 năm trở
lại, và các công ty cũng đã cắt giảm nhiều chương trình quảng cáo để thu hút khách hàng
trong bối cảnh khủng hoảng chính trị tiếp tục leo thang.
Xu hướng đầu tư ra nước ngoài mà chủ yếu sang Mỹ theo xu hướng chung càng
được thể hiện rõ nét hơn, hiện chư có thông kê cụ thể nhưng đã có một số tuyên bố của
các công ty nước ngoài về việc xem xét đầu tư vào Thái Lan như Toyota đã xem lại
khoản đầu tư 600 triệu USD của mình, bên cạnh đó Cơ quan du lịch nước này dự báo du
khách đến Thái Lan sẽ giảm 7.3% trong quý I sẽ giảm so với cùng kỳ năm ngoái (Ngành
du lịch nước này đóng góp 5% trong tổng GDP mỗi năm của Thái Lan).
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 20

 Quan điểm về vấn đề khủng hoảng chính trị của Thái Lan.
Nền chính trị Thái Lan Là một nền chính Quân chủ Lập hiến, kể từ năm 1932 Thái
Lan đã trải qua hơn 20 lần đảo chính, chính bởi số lần đảo chính nhiều như vậy, có thể
nói trong Thái Lan đã hình thành nên nét “văn hóa đảo chính”, dùng để giải quyết và
phân xử các vấn đề quốc gia, Nhà Vua hiện nay của Thái Lan là vị vua tại vị lâu nhất trên
thế giới qua quá trình trị vị của mình đã tích lũy được một vị thế quyền lực nhất định,
ông có ảnh hưởng rất lớn đến Quân đội Thái Lan. Đã dẫn đến Việc giải quyết các xung
đợt bằng cách năm ngoài hiến pháp tại Thái Lan trở thành Bình thường.
Hiện nay, nhà vua đã trở và yêu đi, không có thể gây ảnh hưởng lớn như trước
đây, nên khó có thể đứng ra giải quyết được các vấn đề quốc gia, trong khi mâu thuẩn
giữa hai phe phái hiện nay xuất phát từ quyền lợi, một bên bắt nguồn từ bảo vệ các quyền
lợi trước giờ của mình, và một bên giành lại quyền lợi của mình, nếu mâu thuẩn tiếp tục
kéo dài thì một cuộc nội chiến có lẽ là cần thiết để có thể lập lại trật tự là cần thiết, Đưa
quân đội về dưới quyền của kiểm soát của chính phủ, tạm thời xây dựng chế độ chuyên
chế, loại bỏ thành phần chống đối, sau đó mới quay trở về lại dân chủ.
b. Rủi ro kinh tế - tài chính:

lại cho Thái Lan 17 tỷ USD, góp phần đưa đất nước này ra khỏi khủng hoảng. Nhưng
trong thời gian gần đây, bất ổn chính trị làm cho lượng khách du lịch đến Thái Lan giảm
rõ rệt. Trong năm 2013 Thái Lan dự kiến chỉ đón được khoảng 26 triệu lượt du khách,
thấp hơn mục tiêu 28 triệu lượt. Doanh thu dự kiến cũng chỉ đạt khoảng từ 1.150 tỷ baht
đến 1.170 tỷ baht, thấp hơn mức mục tiêu 1.300 tỷ baht.
Thâm hụt ngân sách của Thái Lan đã được cải thiện đôi chút trong năm 2013 và dự
kiến sẽ vẫn ổn định trong năm 2014. Mặc dù một số biện pháp kích thích kinh tế đang sắp
kết thúc, chi tiêu công sẽ tiếp tục hỗ trợ một số hoạt động : đầu tư cơ sở hạ tầng , tăng
lương, chương trình hỗ trợ gạo… Nợ công dự kiến sẽ vẫn ổn định và rủi ro từ nó vẫn
đang được kiềm chế.
Theo số liệu thống kê, cán cân vãng lai của Thái Lan trong năm 2013 và 2014 giảm
sút, do xuất khẩu chậm chạm. Tuy nhiên , đầu tư trực tiếp nước ngoài dự kiến sẽ tăng
trưởng mạnh mẽ. Chính phủ Thái Lan vẫn còn những chính sách ủng hộ cho các ngành
công nghiệp ô tô và điện tử. Các dòng vốn vào và ra ổn định, nên đáp ứng được nhu cầu
tài chính của mình. Tuy nhiên, Thái Lan cũng như các nên kinh tế mới nổi khác đang bị
ảnh hưởng bởi quyết định co hẹp dần lại gói nới lỏng định lượng của Mỹ (QE3). Điều
Phân tích rủi ro quốc gia Thái Lan GVHD: PGS.TS Trương Quang ThôngNhóm 7 – NH Đêm 2 – K22 Page 22

này làmBaht giảm so với đồng đô la 11% từ cuối tháng 4/2013 và đầu thán 09/2013. Nó
làm tăng chi phí giao dịch ngoại tệ và tác động tiêu cực đến xuất khẩu của nước này.
 Chính sách lạm phát mục tiêu:
Thái Lan là quốc gia Đông Nam Á đã áp dụng rất thành công chính sách LPMT.
Sau thế chiến thứ hai, Thái Lan áp dụng chính sách cố định tỷ giá nhưng không mang lại
hiệu quả mà còn gây ra những bất ổn về tài chính cho đất nước này do dẫn đến tình trạng
đầu cơ tiền tệ và di chuyển vốn tự do. Để giải quyết tình trạng này, NHTW Thái Lan đã
quyết định thả nổi đồng Bath và thử nghiệm khuôn khổ đặt mục tiêu tiền tệ trong một
thời gian ngắn bằng cách duy trì lãi suất ngắn hạn ở mức cao nhằm ngăn chặn sự biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status