Tài liệu Báo cáo: Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ quốc tế. Phân tích rủi ro tiềm ẩn của nền kinh tế Việt Nam - Pdf 99

Đề tài : “ Khủng hoảng tài chính và khủng
hoảng nợ quốc tế. Phân tích rủi ro tiềm ẩn của nền kinh
tế Việt Nam”

MỤC LỤC
I. KHÁI NIỆM KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH……………………4
II. DIỄN BIẾN, NGUYÊN NHÂN
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI HIỆN NAY………… 6
III. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN THẾ GIỚI………12
IV. NGUY CƠ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG SAU
KHỦNG HOẢNG KINH TẾ……………………………………….22
V.TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG
ĐẾN VIỆT NAM…………………………………………………….24
VI. MỘT SỐ CUỘC KHỦNG HOẢNG
TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ KHU VỰC……………………… 28
VII. CÁC NGUY CƠ RỦI RO TIỀM ẨN CỦA
KINH TẾ VIỆT NAM…………………………………………….35
VIII. KẾT LUẬN , GIẢI PHÁP CHO CÁC RỦI RO
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY………………………………………47
CÁCH TIẾP CẬN CỦA NHÓM
Theo quản điểm của nhóm về đề tài thảo luận. Đây là một đề tài hay có
tính thời sự, đang được rất nhiều người quan tâm. Song với đề tài thảo
luận này thì đây là một đề tài rộng và sâu. Vì nó mang tính bao quát về
nền kinh tế thới giới và nền kinh tế Viêt Nam. Với những kiến thức đã
được học dưới đây là quan điểm của nhóm thảo luận O’ Star. Bài thảo
luận của nhóm nói cách bao quát về diễn biến của cuộc khủng hoảng thế
giới hiện nay, mà bắt nguồn của nó là tại Mỹ.
Với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam, nhóm đưa ra các nguy cơ
tiềm ẩn của nền kinh tế Việt Nam. Theo quan điểm của nhóm thì các
tiềm ẩn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là do cách thức quản lý,
kinh tế vĩ mô. Chứ không phải do nguyên nhân chính là do khủng

+ Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, cầu tín
dụng sụt giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm.
+ Hệ thống ngân hàng bị tê liệt
+ Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
+ Các hoạt động kinh tế bị suy giảm
Khủng hoảng tài chính bao gồm khủng hoảng tiền tệ, khủng
hoảng ngân hàng và khủng hoảng nợ nần.
Khủng hoảng tiền tệ : Theo nghĩa hẹp khủng hoảng tiền tệ gắn liền
với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, tức trong hoàn cảnh hết sức bị động như
kinh tế đi xuống hoặc vấp phải lan sóng đầu cơ cực lớn. Một quốc gia đang
áp dụng chế độ tỷ giá cố định sẽ phải tiến hành điều chỉnh chế độ này ở
trong nước và phải chuyển sang áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi và mức độ tỷ
giá mà thị trường quyết định thường cao hơn rất nhiều so với mức độ tỷ giá
mà chính phủ cố gắng duy trì. Mức biến đổi của tỷ giá hối đoái thường rất
khó kiểm soát. Hiện tượng này chính là khủng hoảng tiền tệ. Theo nghĩa
rộng, khủng hoảng tiền tệ chỉ sự biến động của tỷ giá hối đoái vượt quá
phạm vi mà một quốc gia có thể gánh chịu.
Khủng hoảng ngân hàng: là hiện tượng ngân hàng can thiệp quá sâu
hoặc cho vay vốn đối với các doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động kinh
doanh có độ rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán. Tín dụng được đầu
tư quá nhiều cho bất động sản và lĩnh vực phi sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng
mất cân đối tài chính kinh tế. Tỷ lệ nợ xấu quá lớn khiến hoạt động kinh
doanh trì trệ dẫn đến nguy cơ phá sản.
Khủng hoảng nợ nần : là cuộc khủng hoảng xảy ra ở các nước đang
phát triển vào thập kỷ 80 thể kỷ XX. Có nhiều khả năng đánh giá khả năng
thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chỉ tiêu quan
trọng nhất là tỷ lệ thanh toán nợ nước ngoài tức là tỷ lệ giữa nguồn vay nước
ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch
xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc trong năm trước đó. Bình
thường chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ

dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh
mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân
hàng Trung Quốc. Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà. Cục
dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp.
Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn
nhất nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ
một nhóm các ngân hang khác.
Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50
điểm cơ bản từ mức 6.25% xuống 5.75%.
Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng
về khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.
Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ
thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán
được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do
khủg hoảng vay dưới chuẩn. Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và
Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm
của việc vỡ bong bóng bất động sản.
Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống
4,5%
Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng
vay với lãi suất thấp. Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang
kể từ 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:
Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một
cổ phiếu để tránh phá sản. Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để
trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn.
Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã
báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla.
Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn
Fannie Mae và Freddie Mac

Rất nhiều quốc gia phụ thuộc vào Mỹ. Vì vậy đã có rất nhiều phân tích
nguyên nhân và thực trạng cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và ảnh hưởng
của nó đến kinh tế các nước, trong đó có Việt Nam.
3. NGUYÊN NHÂN
3.1 Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng
tài chính lần này là sự suy sụp của thị trường bất động sản.
Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàg và trả
lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài (20-30 năm) sau đó, với lãi suất thả
nổi (điều chỉnh tăng theo thời gian). Do đó, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa
lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay
mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất
cao thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp. Có 3 yếu tố
chính tạo bong bóng thị trường bất động sản
Thứ nhất, từ đầu năm 2001, đặc biệt là sau cuộc khủng bố 11 tháng 9, khi
mà sau vụ khủng bố giá các cổ phiếu mỹ sụt giảm ,để giúp nền kinh tế thoát
khỏi trì trệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn
đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản. Vào
giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất
này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%.
Hai là, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo có nhà ở
của Chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo
được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện
thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie
Mac. Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách
mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành
các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp, rồi bán lại cho
các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như
Bear Stearns và Merrill Lynch.
Ba là kế ước nhận nợ của người mua nhà trở thành một loại chứng khoán
(chứng khoán phái sinh), được ngân hàng thông qua người môi giới đưa vào

người đi vay. Người đi vay dể dàng trong việc định giá lại tài sản để tiếp tục
một khoảng vay mới nhằm trả cho khoản vay cũ. Bên cạnh đó, việc cung cấp
tín dụng dễ dàng như: không cần tài sản thế chấp, tỷ lệ trả trước rất thấp, chỉ
cần có mã số thuế. Hoạt động cho vay này thật sự không đáp ứng đầy đủ
những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn được vay đã làm gia tăng
rủi ro cho các ngân hàng, và bất động sản tăng giá họ sẽ được hưởng lợi. Về
phía ngân hàng, tuy hình thức cho vay này rủi ro rất lớn, nhưng các ngân
hàng vẫn chấp nhận để đổi lại một mức lãi suất rất cao. Mặt khác các công
ty tài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và
chuyển rủi ro qua ngân hàng và nhà đầu tư thông qua một sản phẩm tài
chính gọi là “mua lại các khoản nợ hay khoản phải thu”.
Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho ngân hàng với một
chiếc khấu cao, ngân hàng và các tổ chức tài chính chuyên biệt sẽ chứng
khoán hoá các khoản phải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay
tiền với lãi suất rất cao. Rõ ràng là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên là các
chứng khoán có mức độ xếp hạng tín nhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi
càng cao, thậm chí có chứng khoán không có mức độ xếp hạng tín nhiệm
nhưng vẫn được nhà đầu tư trên toàn thế giới chấp nhận do lãi suất siêu
hạng.
Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất
động sản Mỹ và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ
dây chuyền đã xảy ra. Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả
năng trả lãi vay, bất động sản không bán được, chứng khoán phát hành trên
các khoản phải thu này sụt giá thê thảm, các ngân hàng không đủ khả năng
trả các khoản nợ lâm vào tình trạng phá sản.
Sản phẩm tài chính hiện đại nhưng nhiều rủi ro này chính là nguyên nhân
cho cuộc khủng hoảng tài chính cho vay dưới chuẩn.
3.3 Một số nguyên nhân khác:
a) Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến

Hệ thống các ngân hàng trong con mắt mọi người trở nên monmh manh khi
mà ba trong năm ông lớn tại thị trường phố Wall sụp đổ là Merrill Lynch,
Lehman Brothers, Bearstearns.
Thị trường tài chính dựa trêm nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã
bị xói mòn, xuống cấp. Sự sụp đổ của Lehman Brothers là biểu tượng đánh
dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp
tục. Một ngân hàng tồn tại hơn 158 đã cùng người Mỹ trải qua rất nhiều khó
khăn, trải qua các cuộc suy thoái cùng nước Mỹ lại sụp đổ. Quả thật là một
cú sốc lớn đối với toàn bộ người dân Mỹ.
3.4 Sự lầm tưởng sức mạnh của nước MỸ
Đã từ lâu từ sau chiến tranh thế giới thứ II người dân vẫn nghĩ họ là một
quốc gia hùng mạnh với kinh tế “khỏe mạnh”. Họ vẫn nghĩ mình là nước
giàu có hơn bất kỳ quốc gia nào. Cùng với những hình thức thanh toán mới
người tiêu dùng nhiều hơn trong khi bản thân họ không thể sản xuất đáp
ứng được nhu cầu đó. Hàng năm người dân Mỹ tiêu thụ một lượng hàng hóa
mà họ không có khử năng chi trả khoảng 80 tỷ USD.
Người dân MỸ không có xu thế tích kiệm trước khi khủng hoảng diễn ra. Ví
dụ là các công ty ôtô Mỹ khi các loại ôtô cùng loại của Nhật(Toyota,
Honda…) và Châu Âu tốn ít xăng hơn thì những chiếc ôtô Ford, GM thường
tiêu hao nhiên liệu gấp đôi.
III. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN THẾ GIỚI
1.NGẮN HẠN
Trong ngắn hạn, năm 2009, chắc chắn kinh tế Mỹ không tránh khỏi suy
thoái trầm trọng. Dù được chính phủ bơm tiền vào các ngân hàng thương
mại và mua các chứng khoán chỉ còn ít giá trị, hệ thống tín dụng không thể
hoạt động bình thường lại ngay. Thông qua hai gói kích cầu của hai vị tổng
thống G.W. Bush 700 tỷ và B. Obama 787 tỷ usd.
Hơn nữa, các nhà đầu tư vẫn còn hoang mang cao độ do chưa biết rõ
hết mức độ nghiêm trọng của sự mất mát. Họ nghĩ rằng tin xấu rồi sẽ hiện
ra nữa.

giảm lãi suất ngắn hạn hàng loạt (Mỹ còn 1,5%, khối Euro 3,75% ). Riêng
Nhật lãi suất đã ở mức quá thấp (0,5%) nên kỳ này không thay đổi. Nỗ lực
này có mục đích giảm phí tổn điều động vốn của ngân hàng, giảm phí tổn
vay vốn của doanh nghiệp và người tiêu thụ nhằm kích thích sản xuất và chi
tiêu. Trong những ngày tới, nếu cần, các nước sẽ can thiệp trực tiếp vào thị
trường ngoại hối để tránh sự biến động đột ngột trong tỷ giá các đồng tiền
chính.
Thêm vào đó, khác với thập niên 1930, hồi đó Mỹ và nhiều nước khác
đều gặp khó khăn ở mức độ gần như nhau, hiện nay kinh tế thế giới ngoài
Mỹ phát triển khá mạnh. Năm 2007, tăng trưởng ở Mỹ chỉ có 2% trong khi
thế giới là 5%. Theo dự báo của IMF, năm 2008 Mỹ tăng trưởng 1,6% trong
khi thế giới 3,9%.
Cùng với cơ chế hợp tác đã có của các nước lớn, sự năng động của kinh
tế thế giới là điều kiện về thị trường giúp kinh tế Mỹ mau hồi phục. Hiện
nay tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ độ 6%, có thể sẽ tăng lên trong năm 2009
nhưng, với các lý do vừa nói, không thể có chuyện tăng lên tới mức 25% của
thập niên 1930.
Một điểm nữa là chính phủ ngày nay đóng vai trò quan trọng hơn và
hiệu quả hơn vì có các cơ chế làm dịu tác động của khủng hoảng so với thập
niên 1930. Để giảm sự lo âu cho những người gửi tiết kiệm ở ngân hàng với
số tiền lớn, chính phủ đã nâng mức bảo hiểm số tiền gửi từ 100.000 USD lên
250.000 USD trong đầu tháng 10 này.
So với Nhật vào thập niên 1990, tình hình của Mỹ hiện nay cũng khác ít
nhất ở hai điểm. Thứ nhất, thị trường bất động sản của Nhật cuối thập niên
1980 và đầu thập niên 1990 tăng nhanh đến mức quá cao một cách bất
thường, hình thành nền kinh tế bong bóng quá lớn nên khi nổ tác động rất
mạnh đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ.
Tình hình của Mỹ hiện nay phức tạp hơn do các công cụ đầu tư tinh vi,
khó kiểm soát, nhưng riêng về giá bất động sản, sự biến động tăng giảm
không lớn lắm so với Nhật Bản 15 năm trước. Thứ hai, trong thập niên 1990

ngay cả các nước lớn những đầu tàu kinh tế thế giới. Ngay cả đầu tau kinh tế
Mỹ cũng đã nợ tới 11500 tỷ USD , tổng số nợcủa Mỹ chiếm tới 80% GDP
của nước này.Hay nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới là Nhật cũng đã nợ
tới 10000 tỷ USD gấp đôi GDP của nước này.
Có thể nói chưa bao giờ các nước trên thế giới lại vay nợ nhiều như bây giờ
kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II 1945. Việc vay nợ nhiều đã trở thành
một vấn đề ngay từ bây giờ không phải là câu chuyện trước mắt.
Nếu như sau chiến tranh thế giới thứ II với kế hoạch Mashall của mình thì
Mỹ là chủ nở của các nước châu Âu thì hiện tại tất cả đều là những người
đang phải chịu nợ.
Thứ nhất ở các nước phát triển đứng trước tình thế là đảm bảo an sinh xã
hội. Khi mà ở các nước này tình hình dân số già và việc phải trả một khoản
tiền lớn cho lương hưu hay trợ cấp sẽ khiến tình hình nợ công trở nên khó
khăn hơn. Đơn cử Nhật Bản với tuổi thọ bình quân khoảng 86 tuổi thì việc
đáp ứng nhu cầu của người dân sẽ là thach thức lớn. Cộng thêm khoản trợ
cấp thất nghiệp khi mà tinh hình thất nghiệp đang ngày càng cao.
Thứ hai : Với các gói kích cầu của từng quốc gia. Với những số tiền lớn
như vậy cũng tạo nên khoảng thâm hụt ngân sách của mình. Nguy cơ vỡ nợ
ở các quốc gia yếu. Và điều đó đã được minh chứng tai Ireland và Rumani.
Hay một số các quốc gia Hy Lạp , Italia, Tây Ban Nha.
Dưới đây là bảng cho thấy tình trạng nợ công của các nước phát triển
nhất thế giới ( theo buttonwood.economist.com)
Series
Nominal
GDP
(US$)
Public
debt
Public
debt

Y 3097.9
2462.
3 78.4 82.8 0.1

29,73
8
UNITED
KINGDOM 2110.6
1493.
7 68.4 61.9 0.7

24,14
7
FRANCE 2621.9
2057.
4 77.4 62.6 0.5

32,87
2
ITALY 2067.3 2413. 115.2 58.1 0.0
6
41,52
0
SPAIN 1404.1 829.4 58.3 45.8 0.5

18,12
4
RUSSIAN 1283.2 187.8 14.7 141.4 -0.3

1,328


3,922
Những con số biết nói. Qua đó ta thấy được tình trang của một số nước.
V. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG ĐẾN VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ có tác động trực tiếp thế nào đến
Việt Nam? Điều đó phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa 2 nước.Tình
hình hội nhập mở cửa của Việt Nam có sâu rộng với kinh tế Mỹ và thế giới
hay không? Xét trên khía cạnh Đầu tư, hiện nay, Mỹ đứng thứ 6 trong số các
nước đầu tư vào Việt Nam. Mỹ cũng là nhà đầu tư (NĐT) lớn, nếu cộng cả
giá trị đầu tư qua các nước thứ 3 thì Mỹ là NĐT số 1 vào Việt Nam trong
nhiều năm qua. Các dự án từ Mỹ vào Việt Nam phần lớn là giai đoạn đầu và
tập trung nhiều vào hạ tầng dài hạn. Ngược lại, quan hệ về ngắn hạn chúng
ta xuất sang Mỹ nhiều hơn. Trên lĩnh vực thương mại, Mỹ hiện là thị trường
xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 23-25%. Còn lại,
quan hệ giữa 2 hệ thống tài chính, ngân hàng gần như không đáng kể.
Về các tác động gián tiếp, Việt Nam chưa vào sâu trong cuộc chơi toàn
cầu nên đang có lợi thế là cơn tác động này chưa lan tới. Các nền kinh tế
khác trong những ngày qua đã bị ảnh hưởng. Lợi thế này tạo cho chúng ta
cái nhìn tốt về một nền kinh tế “an bình” không bị bão táp làm tan vỡ. Chính
điều này đã quyết định tính chất và quy mô của cơn địa chấn này đến nền
kinh tế nước ta.
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ
không đáng kể. Những loại chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của
những công ty chứng khoán và bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam. Hệ
thống tiền tệ và thị trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa
lành mạnh, dễ tổn thương, dễ lâm vào bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong
nội bộ Việt Nam như thiếu tính công khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó
tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián , chứ không liên quan nhiều đến cuộc
khủng hoảng ở Mỹ.
Ngành ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng không đáng kể bởi hầu hết

dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo hướng cao cấp hơn, đa dạng hơn.
Trong thời gian trước mắt, Việt Nam nên củng cố sức cạnh tranh của các
ngành công nghiệp để khi kinh tế Mỹ hồi phục sẽ triển khai chiến lược xuất
khẩu với nhiều mặt hàng đa dạng hơn.
Đối với Bất động sản:
Chỉ có FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort cao cấp là có
thể bị ảnh hưởng, tuy nhiên sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư này không
phải là điều đáng quan ngại.
Đối với Thị trường chứng khoán:
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu
tư (NĐT). Còn hoạt động của thị trường chứng khoán vẫn do các yếu tố nội
tại của nền kinh tế nước ta quy định. Điều này thấy rõ nhất khi mà thị trường
chứng khoán Việt Nam không còn quá bị ảnh hưởng của khối ngoại. Nhưng
tháng qua mặc cho các quỹ đầu tư nước ngoài thoái vốn hay khối ngoại bán
ròng thì thị trường chứng khoán VIệt Nam vẫn sôi động . Về mặt tâm lý ảnh
hưởng lớn đến thị trường do thị trường chứng khoán Việt Nam mới được
hình thành vì vậy việc chạy theo đám đông là điều không thể chánh khỏi ở
thị trườn Việt Nam. Mặc cho các công ty chứng khoán tại VIệt Nam có mối
quan hệ làm ăn với các công ty tổ chức nước ngoài hay không thì thị trường
vẫn bị ảnh hưởng theo.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng ở thị trường nước ngoài có thể khiến
nguồn vốn đầu tư vào TTCK Việt Nam không được dồi dào. Nguồn tiền của
các tổ chức đầu tư ở Việt Nam cũng là tiền từ các công ty mẹ ở nước ngoài.
Nếu các công ty ở nước ngoài khó khăn thì công ty con ở Việt Nam cũng
phải dè dặt trong đầu tư. Điều này làm hạn chế nguồn cung của thị trường,
làm cho TTCK khó có thể tăng quá nhanh như vừa qua.
Đối với ngành du lịch:
Ngành du lịch Việt Nam cũng sẽ không bị tác động nhiều vì khách du
lịch vào Việt Nam rất đa dạng chứ không tập trung ở phân khúc khách cao
cấp.

phá giá 14% đã góp phần đẩy nhanh cuộc khủng hoảng USD đi đến sụp đổ
năm 1971.
Giới đầu cơ đã tung ra thị trường hàng tỷ USD để mua vàng, hoặc săn
lùng những đồng tiền ổn định. Thị trường hối đoái Frankfurt, Tokyo, Zurich
đã bị chao đảo bởi làn sóng USD tràn vào từ các nơi trên thế giới, NHTW
Đức, Nhật, Thụy Sĩ …đã thả nỗi đồng tiền trong nước, vì không thể can
thiệp để cứu vãn sự xuống dốc của USD.
Trong sự khủng hoảng nghiêm trọng đó của USD, tháng 12/1971 tổng
thống Hoa Kỳ tuyên bố: “Đình chỉ chuyển đổi USD ra vàng”, “Phá giá USD
7,89%”. Sau đó tháng 2/1973 lại phá giá 10%. Hệ thống tiền tệ Bretton
Woods (còn gọi là hệ thống bán vị USD) với tỉ giá cố định đã bị sụp đổ hoàn
toàn
4. Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Mexico
Với sự ảnh hưởng rộng lớn và rất nghiêm trọng đến các nước châu Mỹ
la tinh cuối năm 1994
Nguyên nhân
Sau cuộc khủng hoảng nợ năm 1982, Mexico đã tiến hành một loạt cải cách
giúp khôi phục được nền kinh tế. Kinh tế tăng trưởng trở lại trong khi peso
Mexico lại được neo vào dolla Mỹ đã dẫn tới hiện tượng Peso lên giá so với

Trích đoạn CÁC RỦI RO TIỀM ẢN MÀ KINH TẾ VIỆT NAM GẶP PHẢI Thông qua các cuộc khủng hoảng ở trên và dựa vào thực tại nền kinh VIII.KẾT LUẬ N, CÁC GIẢI PHÁP CHO CÁC RỦI RO KINH TẾ VIỆT NAM HIÊN NAY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status