PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA
GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 –Nhóm 5.2
Danh sách nhóm:
Nguyễn Hoàng Anh
Nguyễn Thị Ngọc Anh
Đặng Thị Thu Hương
Phạm Quốc Kỳ
Thái Kim Loan
Nguyễn Bùi Thiên Lý
phần rất lớn trong sự tăng trưởng vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam suốt giai đoạn từ
những năm 1990 trở lại đây. Tuy nhiên, dòng vốn quốc tế đang ngày càng trở nên khó tính
trong việc chọn lựa bến đỗ mà rủi ro quốc gia là một nhân tố hết sức quan trọng được các
tổ chức quốc tế hết sức cân nhắc. Hiện tại cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn
đề rủi ro quốc gia của một số tác giả trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều
nghiên cứu chính thức về vấn đề này do đó nhóm 5.2 lớp Ngân hàng đêm 1 xin thực hiện
một nghiên cứu sơ bộ về "Phân tích ảnh hưởng của rủi ro quốc gia đối với hoạt động của
ngân hàng quốc tế" nhằm mục đích làm rõ hơn về khái niệm rủi ro quốc gia và những tác
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
3
động của loại rủi ro này đối với các công ty đa quốc gia nói chung và ngân hàng quốc tế
nói riêng.
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề trọng tâm như sau:
- Lý thuyết về rủi ro quốc gia
- Những ảnh hưởng của rủi ro quốc gia đối với hoạt động của ngân hàng quốc tế
- Thực tế về ảnh hưởng của những rủi ro này đối với hoạt động của ngân hàng quốc tế
trong thời gian qua.
- Một số khía cạnh thực tế về rủi ro quốc gia ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro quốc gia và gia tăng thu hút đầu tư cũng
như hoạt động của các tổ chức đa quốc gia nói chung và ngân hàng quốc tế nói riêng
tại Việt Nam.
Rủi ro quốc gia áp dụng cho cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ, quyền chọn và hợp
đồng tương lai mà được phát hành trong một quốc gia cụ thể. Loại rủi ro này hầu hết
thường được thấy tại các thị trường mới nổi hay các quốc gia bị thâm hụt cán cân thương
mại nghiêm trọng.
Rủi ro quốc gia còn ám chỉ đến khả năng có thể xảy ra khi mà một chính phủ hay
người đi vay từ một quốc gia cụ thể có thể không có khả năng hay không sẵn sàng để thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ của họ đối với một hay nhiều người cho vay nước ngoài hay
nhà đầu tư nước ngoài.
Rủi ro quốc gia theo Bourke (1990) là khả năng của một quốc gia để tạo ra đủ dự trữ
ngoại hối để đáp ứng cho những nghĩa vụ nợ bên ngoài. Những yếu tố quan trọng của rủi
ro quốc gia là tình trạng hoạt động mậu dịch (xuất khẩu trừ nhập khẩu chia cho GNP) và
mức độ nợ nước ngoài. Roy (1994) đã bổ sung định nghĩa này và mô tả rủi ro nợ của chính
phủ. Đây là những khả năng tiềm tàng đối với những mất mát tài chính mà có nguồn gốc từ
các sự kiện kinh tế hay chính trị. Rủi ro này có thể nảy sinh từ việc nắm giữ những trái
quyền công hay tư nhân. Rủi ro quốc gia là một định nghĩa rộng hơn của rủi ro tín dụng và
cho vay xuyên biên giới. Nếu rủi ro này được xem xét từ khía cạnh một danh mục cho vay
thì nó bao gồm cả các yếu tố hệ thống (rủi ro không thể đa dạng hóa) và các yếu tố phi hệ
thống (rủi ro có thể đa dạng hóa).
Một quan điểm chủ yếu của lý thuyết tài chính là rủi ro tổng hợp được cấu thành từ
rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống cũng có thể xem như là rủi ro không
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
5
thể tránh được hay rủi ro không thể đa dang hóa. Rủi ro phi hệ thống cùng một lúc có thể
được mô tả như là rủi ro chính trị và rủi ro có thể đa dạng hóa. Rủi ro này là có thể tránh
được nhưng nó làm giảm tỷ suất sinh lợi và rủi ro này có thể tiến tới 0 khi một lượng các
chứng khoán (các tài sản vay mượn quốc tế) lựa chọn ngẫu nhiên được thêm vào danh
mục. Rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu một cách đáng kể với một lượng vừa phải
các chứng khoán được đa dạng hóa.
Có nhiều quan niệm trong việc phân loại rủi ro quốc gia, trong đó có những quan
niệm chủ chốt như sau:
a. Quan điểm thứ 1:
Một phân loại tương đối hợp lý đối với rủi ro quốc gia là rủi ro kinh tế, rủi ro thương
mại và rủi ro chính trị.
- Rủi ro kinh tế: Là các rủi ro xảy ra khi có sự thay đổi của các nhân tố kinh tế vĩ
mô của một quốc gia điển hình như lãi suất hay tỉ giá hối đoái gây ảnh hưởng tới lợi
nhuận của đầu tư.
- Rủi ro thương mại: Rủi ro liên quan đến một đầu tư xác định, chẳng hạn như rủi
ro liên quan đến việc hoàn thành đầy đủ các hợp đồng với các công ty tư nhân hay đối
tác địa phương.
- Rủi ro chính trị: Đối với nhiều quốc gia là loại quan trọng nhất. Một quốc gia là
một thực thể chính trị với những luật lệ và quy định áp dụng đối với đầu tư. Thêm vào
đó những điều luật bảo vệ quyền đối với tài sản cá nhân, sự sẵn sàng và khả năng của
một chính phủ thay đổi những luật lệ và quy định này sẽ tạo thành một nguồn rủi ro đối
với đầu tư. Rủi ro chính trị cũng có thể gây ra bởi hành vi của nhà nước hay các công ty
sở hữu nhà nước trên thị trường, hay trong các trường hợp nguy kịch như chiến tranh và
bạo loạn.
b. Quan điểm thứ hai:
Kiểu phân loại rủi ro quốc gia thứ 2 là phân loại rủi ro quốc gia thành rủi ro chính
trị, rủi ro kinh tế, rủi ro tài chính. Đây là cách phân loại phổ biến nhất và thường được
các tổ chức xếp hạng sử dụng.
- Rủi ro chính trị: thể hiện tính ổn định về mặt chính trị của một quốc gia mà có thể
ảnh hưởng đến khả năng và thiện chí trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của
mình. Rủi ro chính trị tăng lên từ các sự kiện như chiến tranh, xung đột nội bộ hay xung
đột bên ngoài, khủng bố… dẫn đến những thay đổi trong chính phủ. Rủi ro chính trị còn
được thể hiện thông qua những vấn đề bất ổn chính trị của quốc gia láng giềng.
- Rủi ro kinh tế: thể hiện sức mạnh hay sự yếu kém của nền kinh tế của một quốc
gia.
Trong ngắn hạn, rủi ro đối với nhiều đồng tiền có thể được loại bỏ ở một chi phí có thể
chấp nhận được thông qua các cơ chế phòng ngừa khác nhau và các hợp đồng tương lai.
Một chính sách tỷ giá hối đoái cố định của một quốc gia có thể giúp cô lập rủi ro rủi ro
tỷ giá. Kiềm chế mức độ thả nổi tỷ giá cùng với việc chính phủ cố gắng kiểm soát đồng
tiền trong một phạm vi chật hẹp, có khuynh hướng gây ra rủi ro cao hơn là hệ thống tỷ
giá cố định hay tỷ giá chuẩn tiền tệ. Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi thông thường duy
trì rủi ro thấp hơn đối với việc gây ra một sự dịch chuyển tỷ giá bất lợi không mong đợi.
Mức độ đánh giá cao hay thấp của một đồng tiền cũng có thể giúp cô lập rủi ro tỷ giá hối
đoái.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
8
- Rủi ro vị trí hay rủi ro vùng lân cận: bao hàm các hiệu ứng dây chuyền gây nên
bởi những khó khăn trong một khu vực, bởi một nước đối tác của một quốc gia, hay
trong các quốc gia với những tính chất tương tự.
- Rủi ro thể chế: liên quan đến việc hoặc một chính phủ sẽ không sẵn lòng hay
không thể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ, hoặc là có thể bội ước các cam đoan đối với
các khoản vay nợ.
- Rủi ro chính trị: liên quan đến một thay đổi trong thể chế chính trị xuất phát từ
một thay đổi trong quyền lực kiểm soát chính phủ, cơ cấu xã hội, hay nhân tố phi kinh tế
khác. Loại rủi ro này bao hàm khả năng tiềm tàng đối với những xung đột bên trong và
bên ngoài, rủi ro sung công. Đánh giá rủi ro này đòi hỏi phân tích nhiều nhân tố, bao
gồm các mối quan hệ của các đảng phái khác nhau trong một quốc gia, quá trình ra quyết
định trong chính phủ, và lịch sử của quốc gia đó.
3. Các nhân tố tác động đến rủi ro quốc gia
a. Các nhân tố kinh tế vĩ mô
Nhân tố đầu tiên trong các nhân tố này là quy mô và cấu trúc của nợ nước ngoài trong
mối quan hệ với nền kinh tế của quốc gia đó, bao gồm:
- Mức độ hiện tại của nợ ngắn hạn và khả năng tiềm tàng đưa đến một cuộc khủng
- Tiềm lực tự nhiên và nguồn nhân lực của quốc gia.
- Thiện chí và năng lực của chính phủ để nhận biết những vấn đề kinh tế và vấn đề
ngân sách và hành động để sữa chữa bổ sung thích hợp.
- Mức độ tác động của tư tưởng bè phái, chính trị hay xung đột vũ trang đến chính
phủ của quốc gia đó.
- Bất cứ xu hướng nào về việc đánh thuế giá cả, lãi suất, hay kiểm soát ngoại hối.
- Mức độ mà hệ thống pháp luật có thể bảo vệ một cách công bằng lợi ích của các nhà
tín dụng nước ngoài và nhà đầu tư.
- Các chính sách khuyến khích của chính phủ trong việc quản lý hiệu quả rủi ro của
các tổ chức định chế.
- Mức độ gia nhập của quốc gia vào hệ thống pháp luật và các chuẩn mực kinh doanh
quốc tế.
e. Một số các nhân tố kinh tế vĩ mô quan trọng khác, bao gồm:
- Mức độ mà nền kinh tế của quốc gia có thể bị tác động bất lợi thông qua sự lây lan
các vấn đề khó khăn từ các quốc gia khác.
- Quy mô và tình hình của hệ thống ngân hàng của quốc gia, bao gồm hệ thống giám
sát hoạt động ngân hàng và bất kỳ gánh nặng tiềm tàng của các khoản nợ bất ngờ mà một
hệ thống ngân hàng yếu kém có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với chính phủ.
- Quy mô của vay mượn trực tiếp từ chính phủ hay sự can thiệp khác của chính phủ
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
10
có thể tác động bất lợi đến tính hoàn hảo của hệ thống ngân hàng, hay cơ cấu và khả năng
cạnh tranh của các ngành công nghiệp hay các công ty được ưu đãi.
- Mức độ tác động mà các điều kiện kinh tế vĩ mô có thể gây ra bất lợi đối với rủi ro
tín dụng của các đối tác của nhà đầu tư trong quốc gia đó.
- Viễn cảnh kinh tế của bất kỳ ngành công nghiệp mục tiêu của quốc gia.
- Đầu tư nước ngoài trong tương lai.
4. Rủi ro quốc gia và hoạt động của ngân hàng quốc tế
đa quốc gia mà loại rủi ro nghiêm trọng nhất phải đề cập đến là rủi ro quốc gia. Cụ thể như:
1.Rủi ro xuất phát từ chế độ chính trị và luật pháp của một quốc gia
Sự chiếm hữu tài sản doanh nghiệp của chính phủ các nước
Chính phủ các nước có thể chiếm hữu tài sản của các công ty đa quốc gia nói chung
và ngân hàng quốc tế nói riêng bằng hai con đường chính: tịch thu và sung công. Tịch thu
được hiểu là sự thu hồi các tài sản của các doanh nghiệp nước ngoài mà không có bất kỳ
một sự đền bù nào. Ví dụ, Bộ Tư pháp Mỹ ngày 18/9/2013 cho biết nước này đã giành lại
quyền kiểm soát một tòa cao ốc ở khu vực Manhattan được cơ quan công tố cho là thuộc sở
hữu bí mật của Iran. Việc thu và bán tòa nhà 36 tầng nằm ở Đại lộ số 5 tại trung tâm New
York sẽ là "vụ thu giữ lớn nhất từng liên quan tới chủ nghĩa khủng bố" như tuyên bố của
Bộ Tư pháp. Các công tố viên cáo buộc những chủ nhân của tòa nhà là Quỹ Alavi và Quỹ
Assa, đã chuyển tiền cho thuê tòa nhà và các khoản tiền khác tới ngân hàng Meli do chính
quyền Iran sở hữu. Alavi cũng điều hành một tổ chức từ thiện cho Iran và quản lý tòa nhà
cho chính quyền. Theo cáo buộc của cơ quan công tố, tòa nhà được xây dựng vào những
năm 1970 bởi một tổ chức phi lợi nhuận do Shah Iran điều hành và được cấp vốn bởi Ngân
hàng Meli. Nó đã bị chính quyền Iran mới sung công sau cuộc cách mạng 1979. Họ nói
rằng tổ chức phi lợi nhuận của Shah là quỹ Pahlavi đã được đổi tên thành Quỹ Mostazafan
ở New York, sau đó là quỹ Alavi. Cựu chủ tịch quỹ Alavi đã thừa nhận có tội hồi năm
2009 vì cản trở chính quyền, khi hủy bỏ các chứng cứ liên quan tới vụ việc, vốn được
chính quyền đệ trình lên tòa án hồi năm 2008. Quỹ Alavi tuyên bố sẽ kháng án. Quỹ nói
trên trang web rằng họ "thất vọng" trước phán quyết và đã "không có cơ hội phản bác
chứng cứ của chính quyền trước một thẩm phán".
Cấm vận và trừng phạt thương mại (Embargo and Sanction)
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã ký kết các bản hiệp định và thỏa thuận
quốc tế về những luật lệ, nguyên tắc, tiêu chuẩn trong hành vi giao dịch thương mại trên
phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, chính phủ các quốc gia vẫn có thể đơn phương dùng đến các
chính sách trừng phạt và cấm vận thương mại nhằm đối phó với các động thái gây hấn của
các nước khác. Trừng phạt thương mại là một hình thức cấm các giao dịch thương mại
quốc tế, thường được một hoặc một nhóm các quốc gia sử dụng để đối phó với một quốc
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
cho rằng hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp đó là không phù hợp. Tẩy chay
(boycotts) được hiểu là động thái tự nguyện từ chối việc tham gia các giao dịch thương
mại đối với một quốc gia hay một công ty nào đó. Tẩy chay và các hình thức phản đối giao
dịch thương mại khác của người dân sẽ dẫn đến doanh số bán hàng giảm, còn các chi phí
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
13
liên quan đến hoạt động quan hệ cộng đồng sẽ tăng lên do doanh nghiệp phải tăng cường
cải thiện hình ảnh của công ty trong dân chúng. Đối với hệ thống ngân hàng quốc tế, khi có
động thái tẩy chay từ phía khác hàng đối với chính ngân hàng hoặc chính phủ nơi mà ngân
hàng có trụ sở thì tình hình kinh doanh của ngân hàng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng không
nhỏ.
Ví dụ như ngày 4/3/2014, Chính phủ Nga đã tuyên bố trong trường hợp Mỹ tiến
hành các biện pháp trừng phạt do vấn đề Ukraine, Nga sẽ buộc phải chuyển sang loại tiền
tệ khác, tạo lập hệ thống thanh toán riêng. Chính phủ Nga cũng cảnh báo: “Ý đồ áp đặt
trừng phạt chống Nga sẽ biến thành sự phá sản của hệ thống tài chính Mỹ, dẫn đến chấm
dứt sự thống trị của Mỹ trong hệ thống tài chính toàn cầu”. Và cũng theo thông tin chính
phủ Nga công bố, ngay cả khi lệnh trừng phạt được tiến hành, Nga sẽ buộc phải xác nhận
thực tế không thể trả nợ cho các ngân hàng Mỹ. Phía Nga cũng cho hay, các lệnh trừng
phạt của Mỹ là con dao hai lưỡi, nếu Mỹ đóng băng các tài khoản của Nga, thì, tương tự,
các khoản nợ của Nga bằng đồng đô-la cũng sẽ bị đóng băng. Điều này có nghĩa là các
ngân hàng và các doanh nghiệp của Nga sẽ không phải trả nợ cho các đối tác Mỹ và nếu
Mỹ đóng băng các tài khoản của doanh nghiệp và công dân Nga, thì Moscow “sẽ kêu gọi
tất cả bán tháo trái phiếu quốc gia của Mỹ”, Trong một động thái liên quan, Bộ Tài chính
Nga thông báo từ ngày 4/3 sẽ ngừng mua dự trữ ngoại tệ. Như vậy, nếu lệnh cấm vận của
Mỹ đối với Nga được ban hành thì cả hệ thống ngân hàng của Mỹ và Nga sẽ phải chịu
không ít thiệt thòi.
Hay như ngày 17/03/2012, hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên Ngân hàng toàn thế
giới (SWIFT), chuyên tạo thuận lợi cho các hoạt động chuyển tiền vừa cấm 30 nhà băng
nhiên chúng lại có tác động gián tiếp hết sức mạnh mẽ.
Điển hình như vụ khủng hoảng chính trị đang diễn ra ở Ukraine. Ngày 27/02/2014,
tiếp sau ngân hàng lớn nhất nước Nga Sberbank, ngân hàng lớn thứ hai của Nga VTB cũng
vừa ra thông báo ngừng hoạt động cho vay mới tại Ukraine.
Động thái mới nhất của các ngân hàng hàng đầu của Nga này càng làm gia tăng mối
quan ngại về những rủi ro tài chính ở Ukraine sau khi Tổng thống nước này, Viktor
Yanukovich, bị phế truất cuối tuần trước.
Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 26/2, Giám đốc điều hành VTB, Andrei Kostin, nói
rằng "khó có thể đánh giá rủi ro vào thời điểm hiện nay." Chính vì vậy, VTB đã ngừng
cung cấp các khoản cho vay mới cho cả các công ty lẫn cá nhân tại Ukraine.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
15
Trước đó, ngày 21/2, German Gref, người đứng đầu ngân hàng lớn nhất nước Nga
Sberbank, cũng thông báo Sberbank sẽ tạm ngừng cho các doanh nghiệp Ukraine vay,
ngoại trừ các doanh nghiệp có quy mô lớn và tình hình tài chính tốt.
Trong 5 năm kể từ sau sự sụp đổ của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers (Mỹ),
trong khi các ngân hàng nước ngoài khác cắt giảm tỷ lệ các khoản cho vay có nguy cơ bị
mất mát hay thua lỗ từ mức 40% giá trị tài sản của các ngân hàng Ukraine trong năm 2008
xuống 20% năm 2012, thì các ngân hàng Nga không thay đổi và hiện giữ tỷ lệ này ở mức
12%.
VTB cho hay giá trị các khoản tín dụng của ngân hàng này có nguy cơ bị tổn thất tại
Ukraine hiện vào khoảng 20 tỷ rúp (560 triệu USD), trong khi của Sberbank là 130 tỷ rúp
(4 tỷ USD).
Hoạt động kinh doanh của VTB tại Ukraine hiện chiếm khoảng 2-3% tổng giá trị
hoạt động kinh doanh của VTB, trong khi của Sberbank là chưa đầy 1%. Ngân hàng lớn
thứ hai nước Nga này cũng khẳng định sẽ tiếp tục hoạt động tại Ukraine trong dài hạn.
Tổng thống Nga Vladimir Putin cho hay các ngân hàng Nga ước tính giá trị những
khoản tín dụng của các ngân hàng này có nguy cơ bị thiệt hại tại Ukraine vào khoảng 28 tỷ
về bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, các tổ chức bản địa. Các bộ luật thường được xây
dựng nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh và thúc đẩy kinh tế ở địa phương.
Hệ thống luật pháp ở cả “nước chủ nhà” và “nước ngoài” đều tạo nên những khó
khăn thử thách khác nhau đối với các công ty đa quốc gia nói chung và ngân hàng quốc tế
nói riêng.
Rủi ro quốc gia nảy sinh từ môi trường pháp lý ở nước ngoài
Đối với một số quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, để bảo hộ cho nền kinh
tế trong nước cũng như các ngân hàng nội và sự yếu kém trong một số mảng quản lý khiến
cho chính phủ các quốc gia này sử dụng luật pháp như một công cụ để cấm một số hoạt
động giao dịch của ngân hàng. Việc này gây ra không ít cho những ngân hàng ngoại, vốn
dĩ đang chật vật với việc gây dựng cơ sở ở nước sở tại. Chẳng hạn như tại Anh, trong báo
cáo công bố ngày 26/2/2014, Cơ quan Luật lệ An toàn (PRA) thuộc Ngân hàng Trung ương
Anh (BoE) đã đưa ra những quy định mới mang tính bắt buộc đối với các ngân hàng nước
ngoài không thuộc Liên minh châu Âu (EU) mở chi nhánh ở Đảo quốc này. Một số ngân
hàng nước ngoài có nguy cơ bị cấm hoạt động ở Anh do không thỏa mãn những điều kiện
khắt khe lần đầu tiên được áp dụng này. PRA sẽ yêu cầu các ngân hàng nước ngoài phải
đáp ứng những tiêu chuẩn về hoạt động giám sát của Anh trong lĩnh vực tài chính. Đây
được coi là điều kiện tiên quyết để xem xét liệu ngân hàng nước ngoài có được phép mở
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
17
chi nhánh hoạt động ở Anh hay không. Nếu không đạt được những tiêu chuẩn này, các
ngân hàng nước ngoài có thể bị cấm hoạt động ở Anh. Trước đây, các chi nhánh ngân hàng
của Iceland từng mở dịch vụ nhận tiền gửi ở Anh. Sau đó, họ đã không thể thanh toán do
lâm vào khủng hoảng, buộc giới chức Anh phải vào cuộc nhằm giảm thiểu thiệt hại cho
người gửi tiền. Trong khuôn khổ những quy định mới, các ngân hàng nước ngoài phải cung
cấp thông tin về thực trạng tài chính cho PRA. Trên cơ sở đó, PRA sẽ phân tích và đánh
giá mức độ ảnh hưởng đối với hệ thống tài chính Anh trong trường hợp ngân hàng gặp rắc
rối. Ngoài ra, các ngân hàng cũng phải chuẩn bị những phương án và giải pháp ứng phó với
ty của nước nào thì thường giao dịch với ngân hàng của nước ấy mở ở Việt Nam. Chẳng
hạn các công ty Hàn Quốc giao dịch với ngân hàng Hàn Quốc, Đài Loan với Đài Loan,
Pháp với Pháp, Úc với Úc…Ngân hàng trong nước không thể “bắt chước” cách kinh doanh
ấy của ngân hàng nước ngoài vì nếu làm vậy có thể bị thanh tra, kiểm tra liên tục.
Tuân thủ đúng quy định, ngân hàng nội khó tìm lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối.
Một khi giá mua bán đô la Mỹ chuyển khoản và tiền mặt luôn kịch trần và bằng nhau, các
ngân hàng cổ phần chỉ còn cách giới thiệu các doanh nghiệp với nhau để tự thương lượng.
Hậu quả là doanh thu kinh doanh ngoại tệ của nhiều ngân hàng cổ phần sụt giảm mạnh, có
ngân hàng thậm chí lỗ ở mảng này trong khi các ngân hàng quốc tế khác lại lãi một cách
mạnh mẽ.
2. Rủi ro từ yếu tố kinh tế và tài chính của một quốc gia
Rủi ro đến từ các yếu tố tăng trưởng của nền kinh tế
Đây là yếu tố đầu tiên mà các công ty đa quốc gia nói chung cũng như ngân hàng
quốc tế nói riêng rất cân nhắc khi quyết định có tham gia hay tiếp tục đầu tư hay kinh
doanh tại một quốc gia. Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thể hiện giá trị tăng thêm
của sản phẩm dịch vụ trong một năm mà quốc gia đó sản xuất được, nó là nhân tố tiên
quyết quyết định sự thịnh vượng của một quốc gia. Nền kinh tế tăng trưởng cao, nhu cầu về
vốn hiển nhiên sẽ lớn và hiệu quả tất yếu sẽ là các tổ chức kinh doanh tiền tệ nói chung
cũng như ngân hàng quốc tế nói riêng sẽ có nhiều cơ hội để kinh doanh cũng như nhiều cơ
hội đề phát triển hơn. Ngược lại, với một nền kinh tế đầy bất ổn với tỷ lệ tăng trưởng thấp,
doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ kéo theo sự hoạt động kém hiệu quả của hệ
thống ngân hàng nói chung và khả năng thua lỗ cũng như mất vốn lớn.
Rủi ro đến từ các biến động trong tỷ giá hối đoái
Khi tham gia vào hoạt động kinh doanh tại nước sở tại, các công ty đa quốc gia nói
chung cũng như ngân hàng quốc tế nói riêng phải chịu rất nhiều áp lực đến từ tỷ giá hối
đoái của quốc gia đó. Có rất nhiều phương thức tỷ giá mà các quốc gia có thể chọn lựa, tỷ
giá hối đoái thả nổi hoàn toàn, tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đoái thả nổi có điều chỉnh.
Với mỗi phương thức điều hành tỷ giá sẽ phát sinh mỗi vấn đề khác nhau cho các thành
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
nền kinh tế tại quốc gia sở tại mà ngân hàng quốc tế đang hoạt động, từ đó gây nên các rủi
ro cho các ngân hàng này trong việc kinh doanh cũng như di chuyển dòng vốn ra khỏi quốc
gia này.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
20
CHƯƠNG II
THỰC TẾ VỀ RỦI RO QUỐC GIA TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI TẠI MỘT SỐ GIAI ĐOẠN
1. Rủi ro quốc gia tại Thái Lan năm 1997
Những tiềm ẩn rủi ro
Thái Lan bắt đầu thời kỳ công nghiệp hóa đất nước từ năm 1961. Tốc độ tăng trưởng
GDP trong thập niên 60 vào khoảng 8%/năm, thập niên 70 vào khoảng 7%/năm, thập niên
80 vào khoảng 8%/năm. Tổng sản phẩm nội địa theo đầu người tăng từ mức 440USD năm
1995 lên 3012USD năm 1996. Giá trị xuất khẩu theo đầu người đạt 630USD năm 1991
tăng lên 1177USD năm 1996.
Với mức lãi suất tiết kiệm trong nước cao, bình quân là 16,3%/năm, trong khi ở Mỹ là
7,6%/năm. Cộng thêm chính sách tỷ giá hối đoái gần như là cố định, đã tạo nên môi trường
kinh doanh hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư tài chính, cho vay
ngắn hạn và tín dụng thương mại.
Nguồn tiền dồi dào, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp cao, dẫn đến tín dụng tăng
trường nóng, các ngân hàng và các công ty tài chính Thái Lan tích cực vay nợ từ nước
ngoài để tài trợ cho các doanh nghiệp trong nước, các dự án bất động sản, thị trường chứng
khoán.
Khi rủi ro bộc phát:
Hàng loạt doanh nghiệp phá sản. Do các doanh nghiệp gia tăng vay vốn bên ngoài mà
không thực sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn vay, ROA của đa số doanh nghiệp đến
năm 1996 chỉ đạt 1%/năm trong khi đó lãi suất cho vay đã trên 16%/năm.
Hệ thống ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả. Kiểm soát lỏng lẻo, đầu tư
chính, nâng tổng số công ty tài chính bị đóng cửa lên 58 công ty trên tổng số 91 công ty tài
chính đang hoạt động.
Ngân hàng trung ương Thái Lan đã phải thả nổi đồng Bath, làm cho đồng Bath mất giá
từ mức 25,26Bath/1USD xuống mức kỷ lục 54,1Bath/1USD (06/01/1998). Có thể thấy sự
phá giá của đồng Bath Thái Lan như một ngòi nổ mở màn cho cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ của Thái Lan và các nước Đông Nam Á.
Ngân hàng trung ương Thái Lan cạn kiệt nguồn ngoại tệ và phải nhờ đến sự giúp đỡ của
IMF, Nhật Bản. Tiếp đó là đồng Peso bị ảnh hưởng và Philippines phải tuyên bố phá giá
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
22
đồng Peso từ 26,4Peso/1USD xuống còn 46,5Peso/1USD. Một phản ứng dây chuyền, ngày
11/08/1997 Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường ngoại hối để tránh các thiệt
hại nặng nề hơn. Cuộc khủng hoảng còn lan sang cả Hàn Quốc, đồng Won đã giảm xuống
976KRW/1USD mặc dù Hàn Quốc đã kiên quyết không phá giá đồng tiền, Đài Loan cũng
phải tuyên bố thả nội tiền tệ, thị trường tài chính tiền tệ Hồng Kông thì bị xáo trộn dẫn đến
nhiều vụ khủng hoảng chứng khoán toàn cầu.
2. Ukraine: Rủi ro chính trị và hoạt động của ngân hàng quốc tế
Cuộc khủng hoảng chính trị ở Ukraine được châm ngòi từ sự kiện chính phủ của Tổng
thống Yanukovych hồi cuối năm 2013 bất ngờ hủy bỏ việc ký kết các thoả thuận chính trị,
thương mại mang tính lịch sử với Liên minh Châu Âu (EU) chỉ vài ngày trước khi sự kiện
này chính thức diễn ra. Thay vào đó, Kiev chọn con đường thiết lập quan hệ gắn bó hơn
với Moscow. là “cuộc đấu” giữa Nga với Mỹ và Châu Âu nhằm tranh giành quốc gia Đông
Âu. Ukraine đang bị chia rẽ giữa một bên là lực lượng thân Nga và bên kia là phe thân
phương Tây.
Sau khi phe đối lập thực hiện một cuộc “đảo chính” lật đổ chính quyền của Tổng thống
Yanukovych, Mỹ và phương Tây đã nhanh chóng thừa nhận và hậu thuẫn cho chính quyền
lâm thời mới ở Ukraine. Trong khi đó, Nga chưa công nhận tính hợp pháp của chính quyền
do phe đối lập dựng lên và tuyên bố chỉ làm việc với Ukraine khi một chính phủ mới chính
chiều qua (3/3), giá trị vốn hóa các cổ phiếu trong chỉ số Micex chỉ còn 512 tỷ USD, giảm
so với gần 570 tỷ USD chốt phiên giao dịch cuối tuần trước, Reuters cho biết.
Rouble Nga hôm qua xuống thấp nhất từ trước đến nay, khi mất giá 2% so với USD và
1,2% so với euro. Để ngăn nội tệ lao dốc, Reuters cho biết Ngân hàng trung ương Nga đã
phải bán 10 tỷ USD dự trữ ngoại tệ. Cơ quan này cũng phải nâng lãi suất cho vay cơ bản từ
5,5% lên 7%.
PHÂN TÍCH RỦI RO QUỐC GIA PGS. TS TRƯƠNG THỊ HỒNG
NH ĐÊM 1 – NHÓM 5.2
24
Đồng hryvnia của Ukraine cũng lập đáy so với USD hôm qua. Giới phân tích cho biết
nguyên nhân là thiếu đôla Mỹ và giao dịch bị ảnh hưởng bởi căng thẳng với Nga. Nội tệ
mất giá và vỡ nợ quốc gia hiện là rủi ro chính với các ngân hàng Ukraine. Theo Moody’s,
các ngân hàng sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất từ rủi ro vỡ nợ là Savings Bank of Ukraine,
Ukreximbank và Ukrgazbank.
Mới đây, Ngân hàng trung ương Ukraine đã phải hạn chế số ngoại tệ người gửi có thể
rút và tuyên bố sẵn sàng bơm thêm thanh khoản. Theo thống kê, Ukraine đang ôm khối nợ
13 tỷ USD và 16 tỷ USD sẽ đáo hạn năm 2015. Nếu không được hỗ trợ kịp thời, họ sẽ vỡ
nợ.
Tình hình tại châu Âu còn u ám hơn khi tất cả các thị trường lớn hôm qua đều đỏ lửa.
Chỉ số Dax của Đức đóng cửa giảm hơn 3%, CAC 40 (Pháp) giảm hơn 2%, còn FTSE 100
(Anh) giảm 1,5%.
Căng thẳng tại Ukraine cũng khiến châu Á lao đao. Hang Seng (Hong Kong, Trung
Quốc) đóng cửa hôm qua giảm 1,5%. Nikkei 225 (Nhật Bản) mất 1,3%. Đến sáng nay, hầu
hết các thị trường châu Á đã lấy lại đà tăng sau hai ngày lao dốc. “Nhà đầu tư đang có cơ
hội mua vào. Cuộc khủng hoảng này sẽ được giải quyết sớm thôi, vùng Crimea sẽ về với
Nga và chiến tranh sẽ không xảy ra”, Andreas Utermann – Giám đốc Đầu tư tại Allianz
Global Investors nhận xét.
Tình hình bất ổn đã khiến nhà đầu tư tìm đến các công cụ trú ẩn. Giá vàng chốt phiên
hôm qua tại Mỹ tăng gần 2% lên 1.350 USD một ounce. Nhà đầu tư cũng tăng mua trái
GDP. Để đạt được những chỉ tiêu ấy, nhiều năm qua các chính phủ EU đã bán ra nhiều tài
sản quốc gia và che giấu nhiều khoản chi. Hy Lạp che giấu một số khoản chi quốc phòng,
với lý do "bí mật nhà nước". Năm 2000, Hy Lạp báo cáo chi 828 triệu euro (1,13 tỉ USD)
cho quân sự, chỉ bằng 1/4 con số 3,17 tỉ euro mà sau đó họ thừa nhận đã chi cho quốc
phòng. Nay Hy Lạp thừa nhận đã báo cáo mức chi cho quốc phòng thấp hơn thực tế tới 8,7
tỉ euro trong giai đoạn 1997-2003. Từ năm 2007-2010, nợ công của toàn thế giới lên tới
15.300 tỉ USD, trong đó 8 phần là đến từ nhóm G-7. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo,
đến năm 2014, nợ công của các nền kinh tế nhóm G-20 có thể chiếm 118% GDP, cũng
chẳng khác gì tình cảnh hiện tại của Hy Lạp. Về phần các nước khác, đến lượt một số quốc
gia cũng phải đối mặt với nguy cơ bị phá sản.
4. Tác động từ rủi ro nợ công: bài học từ khủng hoảng nợ công ở châu Âu
Xuất khẩu giảm :Cuộc khủng hoảng nợ châu Âu kéo theo một loạt hệ quả tất yếu : tốc
độ phục hồi kinh tế thế giới chậm lại, có thể theo hình chữ W thay vì chữ V, đặc biệt khu