Tiểu luận: Khủng hoảng tài chính và Quản trị rủi ro - Pdf 13



TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
Chuyên đề: Khủng hoảng tài chính và Quản trị rủi ro
Giáo viên Hướng dẫn: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm Sinh viên thực hiện:

1. Nguyễn Thanh Tuấn – Nhóm trưởng
2. Nguyễn Xuân Sơn

Kết cấu bài thuyết trình gồm các phần:
Phần I. Tổng quan về Rủi ro và Quản trị rủi ro
1. Một số khái niệm về rủi ro
1.1. Rủi ro
1.2. Bất định
1.3. Thất bại của QTRR trong quan niệm Rủi ro và Bất định.
2. Quản trị rủi ro tài chính
2.1. Khái niệm:
2.2. Vì sao phải quản trị rủi ro
2.3. Các công cụ phái sinh
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 3

Phần II. Quản trị rủi ro và Khủng hoảng tài chính
1. Tổng quan về tình hình thực hiện QTRR thời gian qua. Phải chăng thất bại trong QTRR dẫn đến
Khủng hoảng tài chính.
2. Nguyên nhân thất bại của QTRR.
3. Một chương trình QTRR trong tương lai sẽ như thế nào và vai trò của CRO sẽ thay đổi thế nào.
Phần III. Kết luận
Tài liệu tham khảo
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 4

Phần I. Tổng quan về Rủi ro và Quản trị rủi ro
1. Một số khái niệm về rủi ro
1.1. Rủi ro
Khái niệm: Rủi ro nói chung là một khái niệm tổng quát trong bất kỳ một tổ chức, hay cá nhân nào
mà mỗi khi chúng ta làm việc, sinh sống hay thực hiện hoạt động gì thì cũng phải gánh chịu rủi ro.
Rủi ro được định nghĩa là một thuật ngữ chứa 2 thuộc tính:
+ Tính không chắc chắn: nghĩa là một biến cố nào đó xảy ra trong tương lai mà hôm nay chúng ta

Các nội dung về bất định và Thất bại của QTRR trong quan niệm rủi ro và bất định sẽ được trình
bày rõ hơn trong phần Tổng quan về tình hình thực hiện QTRR thời gian qua.
2. Quản trị rủi ro tài chính
2.1. Khái niệm:
Quản trị rủi ro tài chính nói ngắn gọn là môn học về giao dịch phái sinh (Phòng ngừa và đầu cơ
bằng các công cụ phái sinh).
Quản trị rủi ro tài chính cung cấp những kiến thức về các chiến lược phòng ngừa rủi ro thông qua
các công cụ phái sinh hiện đại trên thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ
và hàng hóa, cách thức tổ chức một chương trình quản trị rủi ro theo đúng những chuẩn mực quốc
tế.
2.2. Vì sao phải quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là để đảm bảo rằng các công ty có sẵn tiền mặt để thực hiện đầu tư tăng giá trị.
Một khuôn khổ cho quản trị rủi ro, tác giả Kenneth A. Froot, David S. Scharfstein and
Jeremy C. Stein.
Trong những năm gần đây, các nhà quản trị đã ngày càng nhận thức được tổ chức của họ có thể bị
ảnh hưởng bởi những rủi ro ngoài tầm kiểm soát . Trong nhiều trường hợp, biến động của các biến
số kinh tế và tài chính như tỷ giá hối đoái, lãi suất và giá hàng hóa có tác động bất ổn lên chiến
lược và kết quả thực hiện của công ty. Về nguyên tắc, các công ty có thể cách ly bản thân họ khỏi
rủi ro về giá và tỷ giá bằng cách sử dụng thị trường phái sinh.
Trong thời Trung cổ, phòng ngừa rủi ro được thực hiện dễ dàng hơn bằng việc tạo ra các thị trường
tương lai. Thay vì mua và lưu trữ các loại nông sản, người tiêu dùng có thể đảm bảo sự sẵn có và
giá cả của nông sản bằng cách mua nó với điều kiện giao hàng ở một mức giá và ngày xác định
trước. Và nông dân có thể phòng ngừa rủi ro mà nông sản của họ sẽ giảm giá bằng cách bán giao
sau ở một mức giá xác định trước.
Gần đây hơn, các công ty cổ phần đại chúng lớn đã nổi lên như là người dùng chính của các công
cụ quản trị rủi ro và các sản phẩm tài chính mới nhất được thiết kế để cho phép các công ty phòng
ngừa hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, vẫn không rõ ràng lý do tại sao một công ty muốn phòng ngừa. Các công ty nói chung
thuộc sở hữu của nhiều nhà đầu tư nhỏ, mỗi người chỉ gánh vác một phần nhỏ của các rủi ro. Theo
Adolf A. Berle, Jr, và Gardiner C. Mean , trong Công ty hiện đại và tài sản tư nhân thì hình thức

hình dung. Các nguồn tài trợ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào – nợ hoặc vốn chủ sở hữu - tốn
kém hơn so với các quỹ tạo ra từ nội bộ, các công ty thích tài trợ cho các khoản đầu tư với lợi nhuận
giữ lại nếu họ có thể. Trong thực tế, có một trật tự phân hạng tài chính mà trong đó các công ty dựa
đầu tiên trên lợi nhuận giữ lại, sau đó vào nợ, và vốn chủ sở hữu bên ngoài.
Thậm chí các công ty thấy tài trợ bên ngoài là rất tốn kém và họ thực sự cắt giảm chi tiêu đầu tư khi
họ không có dòng tiền tạo ra trong nội bộ để tài trợ cho tất cả các dự án đầu tư. Một nghiên cứu tìm
thấy rằng các công ty giảm chi phí vốn khoảng 35 cent cho mỗi giảm sút $ 1 trong dòng tiền mặt.
Do đó, tiền mặt tạo ra trong nội bộ là một vũ khí cạnh tranh hiệu quả làm giảm chi phí vốn của
công ty và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư.
Đây là ý nghĩa quan trọng nhất của các mô hình hậu hiện đại, và nó tạo nền tảng lý thuyết của quan
điểm đã nêu trước đó - rằng vai trò quản trị rủi ro là để đảm bảo rằng các công ty có sẵn tiền mặt
để thực hiện đầu tư tăng giá trị.
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 7

Ví dụ:
Hãy bắt đầu với trường hợp của một công ty dược phẩm đa quốc gia giả định, Omega Drug. Trụ sở,
cơ sở sản xuất và các phòng nghiên cứu thí nghiệm của Omega ở Hoa Kỳ, nhưng xấp xỉ một nửa
doanh thu của nó đến từ nước ngoài, chủ yếu là Nhật Bản và Đức. Omega có một số sản phẩm mà
vẫn còn bảo vệ bởi bằng sáng chế, và nó không mong đợi để giới thiệu bất kỳ sản phẩm mới nào
trong năm nay. Bất ổn chính của Omega là doanh thu sẽ nhận được từ bán hàng ở nước ngoài. Công
ty có thể dự báo khối lượng bán hàng ở nước ngoài của mình rất chính xác, nhưng giá trị đồng đô la
của doanh số bán hàng này là khó xác định vì những bất ổn vốn có trong tỷ giá hối đoái. Nếu tỷ giá
hối đoái ổn định, Omega dự kiến giá trị đồng đô la của dòng tiền từ các hoạt động trong và ngoài
nước là $ 200 triệu. Tuy nhiên, nếu đồng đô la tăng giá đáng kể so với đồng yên Nhật và đồng mác
Đức, khi đó dòng tiền của Omega sẽ giảm đến $ 100 triệu USD, do đồng yên và đồng mác yếu hơn
có nghĩa là dòng tiền nước ngoài có giá trị ít hơn bằng đô la. Ngược lại, một đồng đôla mất giá đáng
kể sẽ làm tăng dòng tiền của Omega đến $ 300 triệu USD. Các kịch bản này đều có khả năng như
nhau.
Điểm khởi đầu cho phân tích của chúng tôi là sự hiểu biết mối liên hệ giữa dòng tiền của Omega và

Với đòn bẩy cao tương đối và tài sản thế chấp bị giới hạn, Omega không ở trong một vị thế có thể
vay bất kỳ khoản tiền nào để tài trợ cho chương trình R & D. Nó cũng do dự phát hành cổ phiếu.
Điều này khiến tiền mặt tạo ra từ nội bộ là nguồn tài trợ duy nhất mà các nhà quản trị của Omega
được chuẩn bị để khai thác cho chương trình R & D. Do đó, biến động trong tỷ giá của đồng đô la
có thể là rất quan trọng. Nếu đồng đô la tăng giá, Omega sẽ có một dòng tiền chỉ có $ 100 triệu để
phân bổ cho chương trình R & D - thấp hơn so với ngân sách $ 200 triệu mong muốn. Một đồng đô
la ổn định sẽ tạo ra đủ dòng tiền mặt cho chương trình, trong khi một đồng đô la mất giá sẽ tạo ra
một khoản vượt quá $ 100 triệu USD. (Xem bảng "Tác động của phòng ngừa rủi ro lên Đầu tư R &
D và giá trị Omega Drug. ") Liệu Omega sẽ tốt hơn nếu nó giao dịch phái sinh? Giả sử Omega để cho các ngân hàng của nó giao
dịch vì lợi ích của công ty để dòng tiền của công ty được hoàn toàn cách ly khỏi rủi ro tỷ giá. Nếu
đồng đô la tăng giá, các giao dịch sẽ tạo ra 100 triệu USD tiền lời; nếu đồng đô la mất giá, họ sẽ
thông báo một khoản lỗ $ 100 triệu. Giao dịch sẽ không tạo ra lời hay lỗ nếu USD vẫn ở mức hiện
tại của nó. Một cách hiệu quả, chương trình giao dịch phái sinh khóa dòng tiền mặt ròng $ 200 triệu
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 9

cho Omega - dòng tiền mà công ty sẽ nhận được theo tỷ giá hiện hành. Dù tỷ giá hối đoái trở thành
bao nhiêu đi nữa, Omega sẽ có $ 200 triệu cho R & D – vừa đúng số tiền cần thiết.

Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 10 2.3. Các công cụ phái sinh
Tất cả những sản phẩm phái sinh đều chỉ có nguồn gốc từ hai công cụ phái sinh cơ bản: kỳ hạn và
quyền chọn. Hiểu được hai công cụ này hoạt động như thế nào là đạt được bước tiến lớn trong việc
hướng tới làm sáng tỏ các công cụ phái sinh.
Các Hợp đồng có cơ sở là hợp đồng kỳ hạn:
Kỳ hạn, hoán đổi và tương lai:
Có lẽ loại cơ bản nhất của sản phẩm phái sinh là hợp đồng kỳ hạn. Với một hợp đồng kỳ hạn,
người sử dụng hứa hẹn mua hoặc bán tài sản như dầu, trái phiếu kho bạc, hoặc đồng yên ở một mức

Hợp đồng tương lai cũng liên quan chặt chẽ với hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên, chúng được xác định
giá theo giá thị trường hiện hành trên cơ sở hàng ngày. Nói cách khác, tiền mặt được trả thêm vào
bởi người sử dụng để trang trải bất cứ khỏan lỗ nào về giao dịch, và nó được thanh toán cho người
sử dụng để phản ánh bất kỳ lợi nhuận nào. Lợi thế của việc xác định giá theo giá thị trường hiện
hành là nó làm giảm đáng kể rủi ro đối tác. Tính năng này cho phép hợp đồng tương lai được giao
dịch ẩn danh với lượng giao dịch lớn, do đó tạo ra cả tính thanh khoản lẫn sự cạnh tranh hơn về giá.
Các hợp đồng có cơ sở là hợp đồng Hợp đồng quyền chọn:
Quyền chọn, quyền chọn theo giá trần (Cap), và quyền chọn theo giá sàn (Floor).
Công cụ tài chính cơ sở còn lại là hợp đồng quyền chọn. Nó khác với một hợp đồng kỳ hạn ở chổ
người giử quyền chọn có thể lựa chọn để mua hoặc bán tài sản cơ sở ở một mức giá nhất định vào
một ngày xác định nhưng không bắt buộc phải làm như vậy. Ví dụ, một quyền chọn call về dầu có
thể cấp cho người sử dụng quyền để mua 1.000 thùng dầu ở mức giá $ 20 một thùng bất cứ lúc nào
trong khoảng thời gian từ bây giờ và sau đó một năm. Ngược lại, với một quyền chọn put, người sử
dụng sẽ có quyền bán dầu tại mức giá đã thỏa thuận trước. Giống như vị thế kỳ hạn mua, quyền
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 12

chọn call bảo vệ người sử dụng chống lại sự gia tăng trong giá của tài sản cơ sở; giống như vị thế
kỳ hạn bán, quyền chọn put bảo vệ người sử dụng chống lại sự giảm giá.
Các hợp đồng có cơ sở là hợp đồng quyền chọn có thể được phân tích một cách tương tự theo bốn
đặc tính của hợp đồng có cơ sở là hợp đồng kỳ hạn:
- Phi tuyến. Người sử dụng không bắt buộc phải thực hiện quyền chọn có nghĩa là sự thưởng phạt
của nó là phi tuyến, hoặc không đối xứng, được và mất. Chủ sở hữu của một quyền chọn mua vào
dầu mỏ có thể thu lợi rất nhiều nếu giá dầu tăng lên, tuy nhiên nếu giá dầu giảm, quyền chọn này
chỉ đơn giản là không thực hiện và người đó có thể bỏ quyền mà không phải chịu bất kỳ khỏan lỗ
nào.
- Thanh tóan ngay. Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn yêu cầu đầu tư
ban đầu khi vị thế được thiết lập. Người sử dụng trả phí quyền chọn trước để đổi lấy quyền không
thực hiện sau này.
- Thanh tóan khi sử dụng. Trong khi hợp đồng kỳ hạn được thanh tóan khi đáo hạn, hợp đồng quyền


v
i
ệc
kiểm soát các
rủi ro khó khăn hơn nhiều. Cơ chế quản lý yếu kém, thiếu sự giám sát và thất bại của các các cơ
quan quản lý đã tạo lỗ hổng cho biến cố “Thiên nga đen” xuất hiện và phản ứng dây chuyền kéo
theo sự sụp đổ của các định chế tài chính gây nên khủng khoảng.
Uncertainty and risk management after the Great Moderation
1
The role of risk (mis)
management by financial institutions của tác giả H.J. Blommestein (OECD and Tilburg
University), L.H. Hoogduin (DNB and University of Amsterdam) và Dr. J.J.W. Peeters (DNB),
September 2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu vào mùa hè năm 2007 cho thấy thất
bại quan trọng trong việc quản lý rủi ro của các tổ chức tài chính. Sự lạc quan quá chiếm ưu thế và
rủi ro bị đánh giá thấp, được gây ra bởi các vấn đề về bản chất cả khái niệm và kỹ thuật. Quản lý
rủi ro biến thành một khoa học định lượng "giả tạo". Điều này đã đưa ra một cảm giác sai cho các
tổ chức tài chính và giám sát viên của họ. Trước cuộc khủng hoảng, các nhà giám sát và quản lý
cho rằng, lĩnh vực tài chính cũng như quản lý rủi ro, đã được cải thiện và, kết quả là, sự ổn định
tài chính đã được tăng cường. Thực tế là nhiều hoạt động tài chính được thực hiện trong một bối
cảnh thay đổi nhanh chóng và quyết định quan trọng đã được thực hiện trong tình huống không
tính đến sự bất định. Ở một mức độ rất cơ bản, nó đã nhầm lẫn giả định rằng bất định có thể được
đo lường một cách đáng tin cậy bằng cách sử dụng một phân bố xác suất - tức là bất định có thể
được coi là "rủi ro".
Cách nhìn này đã gây hậu quả xấu cho cách quản lý rủi ro và ra quyết định đã được thiết lập trong
các tổ chức tài chính. Có quá nhiều sự tập trung vào các mô hình định lượng và đo lường và quá ít
vào các khía cạnh định lượng của quản lý rủi ro, liên quan đến các vấn đề như dòng chảy thông
tin, con người và động cơ của họ và sự khuyến khích. Ngoài ra, thậm chí trong phạm vi hẹp, các
kỹ thuật quản lý rủi ro tương lai được chứng minh là không đủ tinh vi.
David M.Rowe (2010) “Risk Management after crisis” Tác giả cho rằng thất bại chủ yếu của

Ludwig B. Chincarini: First Version: December 5, 2006.
Tháng 9 năm 2006 hoạt động của Amaranth Advisors (một quỹ phòng hộ có qui mô lớn ở tiểu
bang Connecticute, Mỹ) đã thua lỗ 5,85 tỉ đô la tương đương với 2/3 số tài sản trong những hoạt
động hợp đồng tương lai và quyền chọn của quỹ. Ba tháng sau đó, quỹ Amaranth đã bị thanh lý. Bài
viết này trình bài một cuộc điều tra chi tiết về những nguyên nhân có thể có đằng sau vụ thất bại của
quỹ đầu cơ này và rút ra những bài học bằng việc đánh giá những hoạt động kinh doanh của
Amaranth trong khuôn khổ quản trị rủi ro tiêu chuẩn. Amaranth có dính líu trong những vụ làm ăn
mang tính rủi ro cao mà nó liên quan đến vấn đề tài chính nghiêm trọng đối với rủi ro thanh khoản-
một yếu tố rủi ro cực kỳ khó khăn để quản lý. Bài nghiên cứu cũng điều tra việc quản trị rủi ro của
Amaranth là không đủ.
Blundell-Wignall, Adrian, Paul Atkinson and Se Hoon Lee, 2008 “The Current Financial
Crisis: Causes and Policy Issues”, đăng trên Financial Market Trends, đã chỉ ra các nguyên nhân
của khủng hoảng tài chính vừa qua. Tác giả giải thích khủng hoảng gây ra bởi 2 cấp độ: chính sách
vĩ mô ảnh hưởng tới thanh khoản và một khung pháp lý nghèo nàn không đủ để trở thành
tuyến phòng thủ thứ hai cho nền kinh tế. Tính thanh khoản của thị trường được ví như đập
nước chứa đầy nước lũ. Các công bố về lãi suất một phần trăm ở Hoa Kỳ và 0 phần trăm ở Nhật
Bản, tỷ giá hối đoái cố định của Trung Quốc, việc tích lũy dự trữ trong quỹ Sovereign
Wealth, tất cả đã giúp đổ đầy hồ chứa thanh khoản dẫn đến làm tràn đập. Việc tràn ngập những
bong bóng tài sản và đòn bẩy quá mức đang diễn ra làm cho áp lực trở nên lớn đến nỗi cuối cùng
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 15

là vỡ đập và những thiệt hại là không tính nổi. Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp cũng đóng
vai trò quan trọng trong khủng hoảng. Các vấn đề nảy sinh trong khủng hoảng như việc kinh
doanh phức tạp hơn, sản phẩm kinh doanh mạo hiểm hơn làm
ch o

v
i
ệ c

h
ị trường bất động sản tập trung, các khoản thế chấp dưới chuẩn và những người cho
vay vi phạm nguyên tắc đạo đức tạo thành bong bóng bất động sản không bền vững, nó bắt đầu
sụp đổ vào năm 2006. Đìều này đúng, nhưng nó không phải là toàn bộ câu chuyện. Một hình thức
quản lý kém chất lượng tin rằng Ngân hàng có thể tự điều tiết được, đó là một trong số những
nguyên nhân chính khơi mào cho cuộc khủng hoảng. Rõ ràng rằng trên toàn thế giới không
giám sát hiệu quả chức năng quản trị rủi ro của hầu hết các Ngân hàng. Đồng thời, quản trị rủi
ro


các Ngân hàng đã thất bại trong việc thực thi nguyên tắc cơ bản cho sự an toàn của một doanh
nghiệp: ví dụ, tránh những sự cố lớn và tối thiểu hóa những biến động của lợi nhuận. Một số lý do
đã được trình bày để che giấu sự thất bại này (ví dụ vai trò hạn chế của quản trị rủi ro, không có
khả năng ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh, không đủ năng lực dự báo cho một cuộc khủng
hoảng nghiêm trọng…). Mặc dù một số trong những lý do này có thể đúng một phần đối với một
số các tổ chức, tuy nhiên tôi tin chắc rằng chức năng quản trị rủi ro đã thể hiện điểm yếu kém
của mình và thất bại.
2. Nguyên nhân thất bại của Quản trị rủi ro.
Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào, René M. Stulz (2008):
Quản trị rủi ro có thể thất bại như thế nào? Cách tác giả mô tả vai trò của quản trị rủi ro để gợi ý
những cách quan trọng mà quản trị rủi ro có thể thất bại. Tác giả bắt đầu bằng cách nói rằng bước
đầu tiên trong quản trị rủi ro là đo lường rủi ro. Bây giờ, giả sử rằng đo lường rủi ro đúng được sử Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 16

dụng cho tình hình của công ty. Đo lường này có thể là VAR hoặc có thể là một vài cách đo khác.
Có hai dạng sai lầm có thể xảy ra trong quá trình đo lường rủi ro: rủi ro đã biết có thể được đo
lường sai và một số rủi ro có thể được bỏ qua, hoặc vì nó chưa được biết hoặc được xem như là

cổ đông đã chỉ ra quan điểm của họ về ngân hàng như là một tổ chức lợi nhuận. Để làm hài lòng các

2
FINANCIAL CRISIS: WHERE DID RISK MANAGEMENT FAIL? Gabriele Sabato - Royal Bank of Scotland.

Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 17

cổ đông và làm tốt hơn các tổ chức khác, các CEO của ngân hàng đã tích cực đầu tư vào các tài sản
phức tạp, trộn lẫn các sản phẩm cho vay truyền thống với một chiến lược mang tính đầu cơ nhiều
hơn.
Mô hình kinh doanh cho các tổ chức ngân hàng chuyển sang tập trung vào các cổ phiếu tăng trưởng
và mở rộng các khoản thu nhập từ những năm 1990. Các mô hình trước đây dựa trên bảng tổng kết
tài sản và mở rộng các khoản vay kiểu cũ đã không có lợi cho ngân hàng. Vì vậy chiến lược chuyển
sang các hoạt động với mục tiêu là thu nhập và phí thông qua chứng khoán hóa. Nhờ đó, ngân hàng
đã tăng thu nhập cùng với tiết kiệm vốn theo hệ thống Basel.
- Hầu hết các ngân hàng thường phát triển danh mục đầu tư cho vay của họ theo nhu cầu thị trường
mà không có một chiến lược phân bổ vốn rõ ràng, tập trung chủ yếu vào mặt lợi nhuận mong đợi
của việc đầu tư mà bỏ qua khía cạnh rủi ro. Gia tăng đầu tư vào các tài sản có tương quan cao mà
không xem xét sự biến động của các khoản lỗ. Bỏ qua đa dạng hóa danh mục đầu tư. Giá cả thiết
lập chủ yếu để cạnh tranh trên thị trường và không bảo đảm lợi nhuận phù hợp.
- Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư Markowitz: Không có tài liệu nào mô tả làm thế nào để xác
định rủi ro cho ngân hàng và vì lý do này mà tác giả đề cập đến lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư
Markowitz (1952) áp dụng cho các danh mục đầu tư của ngân hàng. Trong nghiên cứu này,
Markowitz giải thích làm thế nào để xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả nhất trong việc tìm kiếm
sự cân bằng giữa lợi nhuận kỳ vọng và biến động các khoản lỗ. Ông chứng minh rằng đa dạng hóa
là công cụ tốt nhất để giảm rủi ro cho toàn bộ danh mục đầu tư
Rõ ràng bộ phận quản lý rủi ro của các định chế tài chính không thể tự xác định khung khẩu vị rủi
ro, nhưng xác định rủi ro sẽ cần thiết trong việc giúp cho bộ phận kinh doanh xây dựng mô hình lợi
nhuận dự kiến. Chỉ khi rủi ro và doanh nghiệp kết hợp với nhau, doanh nghiệp mới có được khung
Hình vẽ này cho thấy sự phân bổ vốn trong ba danh mục đầu tư (vay thế chấp, thẻ tín dụng và các
khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ) trong bức tranh rủi ro của ngân hàng. Trên hai trục là lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu dự kiến (ROE) và biến động của các tổn thất dự kiến. Kích thước của
các bong bóng cho thấy số lượng vốn được phân bổ cho các danh mục đầu tư cụ thể.
Khi vẽ xong biểu đồ, chúng ta có thể tập trung vào xây dựng mô hình. Dựa trên mục tiêu của Ban
điều hành về lợi nhuận mong đợi và biến động của các tổn thất, chúng ta sẽ vẽ bốn đường thẳng để
phân chia khu vực trong hình. Hai đường thẳng thể hiện lợi nhuận mong đợi tối thiểu và rủi ro tối
đa có thể chấp nhận được để xác định khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng. Hai đường thẳng
còn lại thể hiện lợi nhuận mong đợi dự kiến và rủi ro chấp nhận được theo mong đợi để xác định
khẩu vị rủi ro của ngân hàng.
Phân biệt khả năng chịu đựng rủi ro và khẩu vị rủi ro là rất quan trọng. Trước hết, hai khái niệm này
rất khác nhau và rất khó hiểu, chúng tạo ra sự không chắc chắn về cái có thể và cái mong đợi. Thứ
hai, khả năng chịu đựng rủi ro được xét trong dài hạn, còn khẩu vị rủi ro thay đổi thường xuyên
theo tình hình thị trường và nền kinh tế. Cuối cùng, những đường thẳng trong biểu đồ cho phép
chúng ta sử dụng phương pháp đỏ/vàng/xanh (RAG) để phân loại danh mục đầu tư của ngân hàng
trong các khu vực khác nhau và dựa vào đó xác định chiến lược cụ thể (ví dụ: tăng, giảm hay giữ
vững). (xem hình 2).
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 19

Như tác giả đã đề cập trước đó, kích cỡ của bong bóng đại diện cho sự tập trung trong từng sản
phẩm, danh mục đầu tư, ngành hay quốc gia cụ thể phụ thuộc vào mức độ khẩu vị rủi ro và trên các
loại tài sản xem xét (bán sỉ hay bán lẻ). Một vài số liệu có thể được dùng để xác định kích thước
bong bóng: sự cân bằng, tài sản phân theo cấp độ rủi ro (RWA), vốn kinh tế (EC). Sự lựa chọn phụ
thuộc vào mức độ phức tạp mà ngân hàng có được để đo lường sự phân bổ nguồn vốn.

quan đến rủi ro, sự can thiệp thông qua huấn luyện bổ sung hay thay đổi nhân sự có thể là cần thiết.
Nhưng trong hầu hết các doanh nghiệp, định hướng của các nhà quản lý cấp cao có tác động lớn.
Khẩu vị rủi ro không chỉ là một mô hình mà nó còn thay đổi sâu sắc văn hóa để đảm bảo các ngân
hàng phát triển bền vững trong tương lai.
Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Trong mười năm qua, các tổ chức tài chính và các giáo sư đại học trên thế giới đã thảo luận nhiều
về Quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM). Rất nhiều bài nghiên cứu và sách đã viết về chủ đề này để
cung cấp các hướng dẫn rõ ràng và nền tảng lý thuyết để hỗ trợ cho những thay đổi cơ bản trong
quản trị rủi ro. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít ngân hàng cố gắng thực hiện ERM và thậm chí ít thành
công trong việc hội nhập văn hóa quản trị rủi ro của ngân hàng.
Khái niệm ERM khá đơn giản. Rủi ro - ảnh hưởng đến giá trị của tổ chức – có tính chất khác nhau
và cộng tất cả rủi ro không có được tổng rủi ro. Một vài tương quan và một số biến được xem xét
khi tổng hợp các rủi ro. ERM là một phương pháp nghiêm ngặt được dùng để đánh giá và giải quyết
rủi ro từ tất cả các nguồn đe dọa việc đạt được mục tiêu chiến lược của tổ chức. Một phương pháp
ERM được thực hiện tốt sẽ cung cấp một cái nhìn toàn diện và chặt chẽ về rủi ro mà tổ chức đang
đối mặt.
Theo các tài liệu có liên quan, chúng ta có thể chia rủi ro thành rủi ro thuần túy và rủi ro đầu cơ.
Quản trị rủi ro truyền thống đã từng tập trung vào rủi ro thuần túy cho đến khi quản trị rủi ro tài
chính chiếm ưu thế trong nhưng năm 80 về việc phát triển các công cụ, kỹ thuật và các quy định
chuyên biệt. Trong môi trường hiện nay, sự kết hợp của hai loại rủi ro khác nhau chắc chắn là thách
thức chính mà các tổ chức tài chính sẵn lòng thực hiện phương pháp ERM. Tuy nhiên, ERM chỉ tập
trung vào rủi ro tài chính. Do đó, nó sẽ bỏ qua một số nguồn gây ra tổn thất hay hủy hoại giá trị.
Bước đầu tiên trong thực hiện ERM là xác định rủi ro đã xuất hiện trong công ty. Một cách tiếp cận
phổ biến là xác định loại rủi ro sẽ được đo lường. Ban đầu, tổ chức tài chính tập trung vào rủi ro thị
trường và rủi ro tín dụng. Cuối cùng mới thêm vào rủi ro hoạt động. Đối với phương pháp tiếp cận
để nắm bắt tất cả rủi ro của công ty, rủi ro hoạt động bao gồm tất cả những rủi ro không phải là rủi
ro thị trưởng và rủi ro tín dụng. Về phía ngân hàng, theo Hiệp ước Basel, định nghĩa rủi ro hoạt
động bỏ qua các rủi ro danh tiếng. Do đó, có sự khác nhau giữa đo lường rủi ro hoạt động cho mục
đích quản lý và đo lường rủi ro hoạt động theo quan điểm ERM. Nhiều công ty đã vượt xa trong
việc đo lường rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Đặc biệt, trong những năm gần

Nhưng cần phải thuyết phục các tổ chức tài chính rằng đây là cách tốt nhất để tránh những sai lầm
đã tạo ra cuộc khủng hoảng hiện nay.
Cơ cấu quản trị rủi ro
Thiếu cơ cấu quản trị rủi ro phù hợp cộng với sự điều hành của bộ phận quản trị rủi ro chưa có kinh
nghiệm sẽ làm mất đi mọi lợi ích được tạo ra của một tổ chức. Lập luận này được sử dụng nhiều lần
trong suốt cuộc khủng hoảng hiên nay bởi các nhà quản trị rủi ro như là một cái cớ để biện minh
cho sự thất bại của họ. Tuy nhiên, sự thật là ở hầu hết các tổ chức, vai trò của quản trị rủi ro chưa
được coi trọng và rất mờ nhạt. Sự ảnh hưởng của nhà quản trị rủi ro đến các quyết định kinh doanh
là dựa vào kỹ năng thuyết phục chứ không phải dựa vào quyền lực của họ.
3. Một chương trình QTRR trong tương lai sẽ như thế nào và vai trò của CRO sẽ thay đổi thế
nào.
3.1. Một chương trình QTRR trong tương lai sẽ như thế nào?
3.1.1. Chiến lược và cách thức hoạch định quản trị rủi ro

Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 22

Một khuôn khổ cho quản trị rủi ro của Kenneth A. Froot, David S. Scharfstein and Jeremy C.
Stein
Mô hình quản trị rủi ro dựa trên ba tiền đề cơ bản:
- Chìa khóa để tạo ra giá trị doanh nghiệp là đầu tư tốt.
- Chìa khóa để thực hiện đầu tư tốt là tạo ra đủ tiền mặt trong nội bộ để tài trợ cho các khoản đầu
tư, khi các công ty không tạo ra đủ tiền mặt, họ có xu hướng cắt giảm đầu tư mạnh mẽ hơn so với
đối thủ cạnh tranh của họ.
- Dòng tiền rất quan trọng đối với quá trình đầu tư có thể thường xuyên bị gián đoạn bởi các biến
động trong các yếu tố bên ngoài như tỷ giá, giá cả hàng hóa, lãi suất, có thể làm tổn hại đến năng
lực đầu tư của một công ty.
Mục tiêu của quản trị rủi ro là gì? có nên sử dụng công cụ phái sinh để cách ly giá cổ phiếu khỏi
các cú shock giá và tỷ giá …? có nên tập trung vào ổn định thu nhập hoạt động trong ngắn hạn, thu
nhập báo cáo và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hay thay vì đó tập trung loại bỏ biến động từ chi

Lấy trường hợp của một công ty dầu mỏ. Rủi ro chính mà nó phải đối mặt là những thay đổi trong
giá dầu. Khi giá dầu giảm, dòng tiền suy giảm bởi vì tài sản dầu hiện có tạo ra lợi nhuận ít hơn. Do
đó, nguồn cung cấp nội bộ của các quỹ công ty phải tiếp xúc với rủi ro giá dầu cũng giống như cách
mà dòng tiền của một công ty thuốc đa quốc gia phơi bày trước rủi ro tỷ giá.
Tuy nhiên, trong khi giá trị của đầu tư R & D dược phẩm là không bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối
đoái, giá trị đầu tư vào kinh doanh dầu giảm khi giá dầu giảm. Khi giá thấp, kém hấp dẫn để thăm
dò và phát triển mỏ dầu mới. Vì vậy, khi nguồn cung cấp quỹ thấp, nhu cầu đối với các quỹ cũng
thấp. Ngược lại, khi giá dầu tăng, dòng tiền gia tăng và giá trị đầu tư tăng lên. Cả nguồn cung và
nhu cầu đều cao. Đối với một công ty dầu khí, sự gia tăng này nhiều hơn so với một công ty dược
phẩm, nguồn cung cấp của các quỹ có xu hướng khớp với nhu cầu tiền ngay cả khi công ty không
chủ động quản trị rủi ro. Kết quả là, sẽ có ít lý do cho một công ty dầu phòng ngừa hơn là cho một
công ty dược phẩm đa quốc gia.
Một chiến lược quản trị rủi ro thích hợp đảm bảo rằng công ty có tiền mặt khi họ cần nó để đầu tư,
nhưng nó không thể ngăn cách họ hoàn toàn từ tất cả các loại rủi ro.
Cách tiếp cận này sẽ giúp các nhà quản trị giải quyết hai vấn đề chủ chốt. Đầu tiên, nó giúp họ xác
định những gì là đáng phòng ngừa rủi ro và những gì không. Lo ngại về giá cổ phần biến động là
không đáng, những biến động như vậy có thể được quản trị tốt hơn bởi các nhà đầu tư cá nhân
thông qua các chiến lược danh mục đầu tư của họ. Ngược lại, đầu tư quá mức có thể đe dọa khả
năng để đáp ứng các mục tiêu chiến lược của công ty và, kết quả là, là đáng được kiểm soát thông
qua quản trị rủi ro.
Thứ hai, cách tiếp cận này giúp nhà quản trị tìm ra phải phòng ngừa bao nhiêu là cần thiết. Nếu
những thay đổi trong tỷ giá, giá cả hàng hóa, lãi suất dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong việc cung
cấp và nhu cầu đối với các quỹ, khi đó công ty nên tích cực phòng ngừa; nếu không, công ty đã có
một sự phòng ngừa tự nhiên, và nó không cần phòng ngừa nhiều như vậy.
Những người quản trị áp dụng phương pháp tiếp cận của chúng tôi nên tự hỏi mình hai câu hỏi:
Dòng tiền nhạy cảm như thế nào với các biến rủi ro như tỷ giá, giá cả hàng hóa, và lãi suất? và cơ
hội đầu tư nhạy cảm như thế nào đối với các biến rủi ro này? Câu trả lời sẽ giúp các nhà quản trị
hiểu được liệu nguồn cung cấp kinh phí và nhu cầu về Quỹ có được liên kết tự nhiên hay không
hoặc liệu chúng có thể sắp xếp tốt hơn không thông qua quản trị rủi ro.
- Các công ty trong cùng một ngành công nghiệp không nhất thiết phải áp dụng cùng một chiến

biệt quan trọng. Như một hệ quả, có thể có một nhu cầu lớn hơn để gắn kết nguồn cung cấp vốn và
nhu cầu về vốn thông qua quản trị rủi ro.
- Các công ty với cấu trúc vốn bảo thủ - Không có nợ, rất nhiều tiền mặt, có thể được hưởng lợi từ
phòng ngừa rủi ro. Thoạt nhìn, dường như là một công ty với một cơ cấu vốn rất bảo thủ thì nên ít
quan tâm đến việc quản trị rủi ro. Một công ty như vậy có thể điều chỉnh khá dễ dàng trước một sự
sụt giảm lớn trong dòng tiền bằng cách vay ở mức chi phí thấp tương đối. Nó sẽ không cần phải cắt
giảm đầu tư, và giá trị công ty sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Mục tiêu cơ bản của quản trị rủi ro –
sắp xếp nguồn cung cấp vốn nội bộ với nhu cầu tài trợ đầu tư- có ít cấp bách hơn trong loại tình
huống này bởi vì nhà quản trị có thể dễ dàng điều chỉnh nguồn cung cấp thiếu hụt bằng vay nợ.
Chắc chắn rằng, phòng ngừa rủi ro sẽ không gây tổn thương, nhưng nó có thể sẽ không giúp nhiều.
- Tuy nhiên, nhà quản trị ở vị trí này nên tự hỏi mình lý do tại sao họ đã chọn một cấu trúc vốn bảo
thủ như vậy. Nếu câu trả lời là, thế giới là một nơi đầy rủi ro, và bạn không bao giờ biết điều gì có
thể xảy ra với tỷ giá hoặc lãi suất, họ có nhiều ý tưởng để làm. Những gì họ đã làm là sử dụng đòn
Tiểu luận môn học: Quản trị Rủi ro Tài chính GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 1 – Cao học TCDN Ngày 2 Trang 25

bẩy thấp thay vì sử dụng thị trường phái sinh bảo vệ chống lại những rủi ro trong những biến số
kinh tế này. Một chiến lược thay thế sẽ được thực hiện vay nhiều nợ hơn và sau đó phòng ngừa
những rủi ro này một cách trực tiếp trên thị trường phái sinh. Trong thực tế, có vài điều để nói
trong cách tiếp cận thứ hai: nó không có nhiều rủi ro về mặt khả năng thực hiện đầu tư tốt hơn
chiến lược không nợ/không phòng ngừa, nhưng, ở nhiều quốc gia, nợ được tăng thêm có thể được
thực hiện phòng ngừa cho phép một công ty tận dụng lợi thế của việc khấu trừ thuế của các khoản
thanh toán lãi suất.
- Các công ty đa quốc gia phải nhận thức rằng rủi ro ngoại hối ảnh hưởng không chỉ đến dòng tiền
mà còn đến cơ hội đầu tư. Một số vấn đề phức tạp phát sinh với các công ty đa quốc gia, nhưng
nhiều công ty trong số đó có thể được minh họa với hai ví dụ. Trong mỗi ví dụ, một công ty đang có
kế hoạch xây dựng một nhà máy ở Đức để sản xuất máy ảnh. Ví dụ 1 nó sẽ bán các máy ảnh ở Đức,
trong khi trong Ví dụ 2 sẽ bán chúng ở Hoa Kỳ. Trong cả hai trường hợp, hầu hết dòng tiền của
công ty đến từ các doanh nghiệp khác ở Hoa Kỳ. Công ty nên phòng ngừa tỷ giá hối đoái USD
/Mark như thế nào?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status