Chính sách thuế đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam - Pdf 13

- 1 -

Page 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, chú trọng đến
việc hoàn thiện các chính sách kinh tế, tài chính trọng tâm là chính sách thuế
luôn là nhiệm vụ bức xúc được đặt ra ở bất cứ quốc gia nào. Thuế có tác động
qua lại rất nhạy cảm đến các lónh vực kinh tế - xã hội và mọi mặt đời sống con
người. Sự hoàn thiện chính sách thuế của từng quốc gia có thể đem lại hiệu
quả khác nhau, bởi có sự liên quan đến nhiều yếu tố trong hoạch đònh chính
sách thuế. Hệ thống chính sách thuế do nhà nước ban hành đã đầy đủ và hoàn
thiện đến mức nào, đã điều tiết bao quát hết mọi nguồn thu và bảo đảm cho
mọi người thực hiện nghóa vụ thuế được bình đẳng và hợp lý. Khi áp dụng hệ
thống chính sách thuế sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hành vi kinh doanh, chi
phí tuân thủ thuế của các đối tượng nộp thuế, đến thu hút vốn đầu tư và hội
nhập kinh tế quốc tế. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của thuế,
thúc đẩy hoạt động này trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thò trường của Việt nam hiện nay và trong những
năm sắp tới, đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước đồng thời thu hút đầu tư
nước ngoài vào Việt nam. Do vậây, nghiên cứu đề tài “Chính sách thuế đối với
phát triển kinh tế ở Việt Nam” là rất cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh
tế của đất nước ta hiện nay.
2. Các đề tài nghiên cứu trước đây có liên quan về thuế
Với tầm quan trọng của thuế và chính sách thuế đối với sự phát triển kinh
tế xã hội ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu và các bài báo tham
luận trong các cuộc hội thảo liên quan tới đề tài luận án từ nhiều khía cạnh
khác nhau. Nguyễn Hồng Thắng, “Góp phần nâng cao vai trò của thuế trong
phát triển kinh tế ở Việt nam 2001”. Đề tài chủ yếu phân tích việc sử dụng thuế
có ảnh hưởng gì đến các mặt hoạt động kinh tế xã hội ở góc độ quản lý tài

chính có liên quan.Tác động của chính sách thuế đến hoạt động của doanh
nghiệp, luân án sử dụng phương pháp thiết lập và khảo sát bằng bảng câu hỏi để
phỏng vấn các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực ĐBSCL. Phân tích tác
động của thuế đối với tăng trưởng kinh tế luận án vận dụng mô hình có dạng
tổng quát như được chỉ ra ở phương trình (1) (Arellano. 2003. Số liệu sử dụng có
dạng theo “chuỗi thời gian chéo lập lại theo thành phần). Trong đó chuỗi thời
gian được tính từ 1997-2010. Thông tin được thu thập sẽ bao gồm GDP, thuế giá
trò gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), tổng ngân sách
(TNS). Số liệu thu thập từ 64 tỉnh thành trong cả nước.
𝑦
𝑖𝑡
=∝
𝑖
+

𝛽
𝑖
𝑥
𝑖𝑡
+ 𝜀
𝑖𝑡
(1)
y
it
là biến phụ thuộc, với i biểu diễn đơn vò hành chính (tỉnh), t là biểu diễn thời gian.
α
i
(i=1 n) là hằng số cho mỗi tỉnh

𝛽

+ D
1,it
+ D
2,it
+ D
3,it
+ 𝜀
𝑖𝑡

(2)
LnGDP là log của giá trò GDP (tỷ đồng), được xem là biến phụ thuộc. Các
biến độc lập bao gồm
LnGTGT là log của giá trò thuế giá trò gia tăng (tỷ đồng)
LnTNDN là log của giá trò thuế thu nhập doanh nghiệp (tỷ đồng)
LnTNS là log của giá trò tổng ngân sách của chính phủ
D
1
: biến số giả nói lên sự thay đổi chính sách của thuế GTGT bắt đầu từ năm
1999, biến số này bằng 1 khi thời gian tính từ năm 2000 trở về sau và bằng 0 khi
thời gian tính từ trước năm 2000. D
2
: biến số giả của sự thay đổi thuế TNDN
được áp dụng từ năm 2004
1
. Biến số này bằng 1 tính từ năm 2004 trở về sau,
bằng 1 trước năm 2004. D
3
: biến số giả được tính từ thời điểm 2007 khi Việt
Nam là thành viên chính thức của WTO. Biến giả sẽ bằng 1 được tính từ năm
2007 trở về sau, bằng 0 được tính từ 2007 trở về trước đó.

chế và được tập trung vào tay nhà nước. Mục đích chủ yếu của việc đánh thuế là
chuyển quyền kiểm soát và các nguồn lực kinh tế từ những đối tượng nộp thuế
sang nhà nước để nhà nước sử dụng hay chuyển giao cho những người khác.
Chính sách thuế là một phần của chính sách tài chính quốc gia, là tổng thể
những quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề ra
quyết đònh về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu
của mình. Mục tiêu của chính sách thuế là xác đònh mức độ điều tiết qua thuế,
những tác động kinh tế xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết
ở mức độ đó. Chính sách thuế sẽ tác động đến những tổ chức cá nhân nào trong
xã hội. Việc xác đònh rõ phạm vi tác động của chính sách thuế cho phép tập
trung vào những mục tiêu quan trọng của chính sách, đồng thời, tránh được
những hậu quả không mong muốn của chính sách. Chính sách thuế góp phần
chủ động tích cực trong việc khuyến khích hay kiềm chế đối với các hoạt động
kinh tế - xã hội của tất cả các ngành, lónh vực, lãnh thổ, tổ chức và cá nhân
theo những mục tiêu đònh hướng và hoạch đònh của nhà nước.
1.2 Mối quan hệ giữa chính sách thuế với tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.2.1 Cơ sở lý luận – Mô hình lý thuyết
Hiện nay có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế học về mối quan hệ giữa
thuế và tăng trưởng, phát triển kinh tế. Một số nhà nghiên cứu kết luận rằng
“thuế cao có ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng”. Tuy nhiên, một số nhà kinh
tế học khác lại có kết luận cho rằng không có ảnh hưởng rõ rệt của thuế đến sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Trong nghiên cứu “thuế và tăng trưởng” vào
năm 1996, Eric M. Engen và Jonathan Skinner đã tìm ra được những bằng chứng
cho rằng giảm thuế phù hợp sẽ có tác động dương (+) đến sự tăng trưởng. Nhưng
câu hỏi được đặt ra là thuế có ảnh hưởng đến tăng trưởng qua những kênh nào?
Theo lý thuyết thì thuế có hai mô hình đang được thế giới ứng dụng để phân tích
tác động của thuế lên tăng trưởng, một là mô hình tăng trưởng của Solow được
xây dựng vào năm 1956 và một mô hình “tăng trưởng nội sinh” (endogenous
growth model). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra cơ cấu thuế có quan hệ đến sự tăng
- 5 -

xuyên, đồng thời tăng tỉ lệ chi tiêu ngân sách trên GDP bằng tốc độ tăng tỉ lệ
thu ngân sách trên GDP thì tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm xuống. Tại các
nước công nghiệp phát triển và các nước phát triển có hệ thống thuế ổn đònh,
thuế tác động vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trên cả ba yếu tố
trong quá trình sản xuất: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Ngoài ra thuế còn tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP và các nhân tố sản xuất,
- 6 -

Page 6

điều chỉnh cơ cấu GDP, điều tiết xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế đối
ngoại, thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
1.2.2.4 Tác động tới nguồn thu ngân sách và khả năng tích lũy vốn
Yêu cầu về phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập mạnh mẽ chính là sức ép
và động lực lớn để Việt Nam phải cải cách cơ cấu thu. Có 3 nhóm yếu tố chính
tác động đến cơ cấu nguồn thu NSNN, đó là nhân tố về tăng trưởng kinh tế,
nhân tố về cơ chế, chính sách thu và nhân tố về chất lượng công tác quản lý thu
thuế. Vì vậy, việc cải cách cơ cấu thu ngân sách chính là quá trình cải cách, tác
động tích cực vào các nhân tố trên. Các chính sách thu thuế sẽ tác động trực tiếp
lên nguồn thu ngân sách, tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế và quay trở
lại tác động đến số thu ngân sách. Vì vậy, khi chính sách thuế thay đổi, sẽ có tác
động kép đến cơ cấu thu của các sắc thuế, ngành nghề, đòa bàn và lónh vực thu.
1.3 Cải cách thuế và vai trò của cải cách thuế đối với phát triên kinh tế
1.3.1 Cải cách thuế và tác động của cải cách thuế
Cải cách thuế là một quá trình có hai giai đoạn cơ bản, cụ thể là lập kế
hoạch và thực hiện. Có nhiều điểm khác biệt lớn trong các chính sách thuế và
các hệ thống kinh tế hiện có của nhiều nước. Chiến lược cải cách thuế phụ
thuộc vào các thành phần của hệ thống thuế cần phải được cải cách và mức độ
toàn diện của cuộc cải cách. Chính sách thuế của một quốc gia là tăng cường
vai trò điều tiết vó mô của nền kinh tế. Vai trò điều tiết vó mô của thuế thể hiện

còn tạo ra cơ hội để đầu tư, đổi mới và tăng trưởng kinh tế, thay đổi gánh nặng
thuế từ thuế thu nhập đến tiêu dùng.
1.4 Kinh nghiệm về cải cách thuế ở một số nước trên thế giới
Luận án đã phân tích kinh nghiệm thành công và thất bại về cải cách thuế ở
một số nước, như Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản. Qua đó rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
1.5 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cải cách thuế của các nước
Thứ nhất, không có một hệ thống thuế nào được xem là hoàn hảo và lý tưởng
duy nhất cả. Thuế phát huy tác dụng điều tiết vó mô nền kinh tế khi nó phù hợp
với tình hình kinh tế và đònh hướng phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước trong
từng thời kỳ nhất đònh. Thứ hai, trong hệ thống các chính sách thì chính sách
thuế có tác dụng nhạy bén, toàn diện và trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của
quốc gia hơn so với các chính sách khác. Bằng những công cụ chính sách được
áp dụng, Nhà nước không những tác động đến sự phát triển của các ngành công
nghiệp mà còn khuyến khích và huy động mạnh mẽ đầu tư tư nhân trong và
ngoài nước vào quá trình công nghiệp hóa. Thứ ba, kinh nghiệm cải cách của các
nước cũng đã rất thành công trong việc sử dụng chính sách thuế trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế thông qua những nội dung cải cách thuế chủ yếu như
việc giảm thuế suất phải đi đôi với xác đònh cơ sở thuế rộng hơn nhằm có thể tăng
doanh thu thuế. Thứ tư, chiến lược cải cách thuế cần phải tính toán, cân nhắc một
cách thận trọng và cụ thể. Các cuộc cải cách vội vã thường dẫn đến thất bại, gây
khó khăn hơn cho những đợt cải cách trong tương lai.
- 8 -

Page 8

CHƯƠNG 2
CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI
KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
2.1 Cải cách thuế và phát triển kinh tế Việt Nam

169,6
6,0
12,8
67,59
1992
18.516
188,1
8,6
16,8
17,60
1993
29.233
157,9
8,1
21,4
5,28
1994
37.206
127,3
8,8
21,3
14,29
1995
53.374
134,9
9,5
21,9
12,91
Nguồn: World Bank 1996
- 9 -

thời tiến hành cải cách hành chính trong công tác quản lý thu nộp thuế, từng
bước áp dụng công nghệ tin học nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.
Kết thúc giai đoạn cải cách 2001 – 2005, kết quả đạt là hoàn thiện cơ bản hệ
thống chính sách thuế theo hướng giảm số lượng và mức thuế suất, mở rộng
diện ưu đãi thuế để khuyến khích đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, khuyến khích
phát triển sản xuất trong nước, chuyển dòch cơ cấu kinh tế, ổn đònh chính sách
tài chính, tiền tệ phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thò trường đáp ứng yêu
cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện tốt vai trò là công cụ điều tiết
- 10 -

Page 10

vó mô của nền kinh tế, góp phần vào tăng trưởng và chuyển dòch cơ cấu kinh tế,
góp phần tăng thu cho NSNN.
2.1.4 Cải cách thuế và phát triển kinh tế từ năm 2006 đến nay
Lộ trình cải cách thuế của Chính phủ giai đoạn 2005-2010, đặt ra 3 mục tiêu:
giảm thuế suất; mở rộng diện chòu thuế, khuyến khích sản xuất, đầu tư phát
triển và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, với thời gian để
thực hiện kế hoạch cải cách ngắn, trong khi trình độ quản lý hiện nay của ngành
thuế Việt nam đang có một khoảng cách khá xa so với các nước tiên tiến trong
khu vực; trình độ hiểu biết pháp luật thuế và kế toán của các tổ chức, cá nhân
nộp thuế còn thấp; trình độ quản lý thuế của Việt Nam đến nay chưa thể đạt
được ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực.
2.2 Tác động của chính sách thuế đến tăng trưởng và phát triển kinh tế ở
Việt Nam
2.2.1 Tác động đến nguồn thu ngân sách
Thứ nhất, quy mô và tốc độ thu NSNN có xu hướng tăng nhanh qua các năm,
nhằm đảm bảo nguồn tài chính phục vụ chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn
2001 - 2010.
Thứ hai, tỷ lệ động viên thu NSNN có xu hướng tăng nhanh qua các năm. Như Hình 2.3 Sơ đồ tăng trưởng vốn đầu tư
2.2.3 Tác động đến chuyển dòch cơ cấu kinh tế
Chính sách thuế có tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
(CDCCKT), cả về mặt phục vụ yêu cầu chuyển hướng cơ cấu hợp lý, tiến bộ,
hiện đại hạn chế tính cạnh tranh không lành mạnh, tính tự phát, tiêu cực của cơ
chế thò trường, cả về mặt thúc đẩy CDCCKT nhanh chóng có lợi cho quốc kế
dân sinh, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thông qua việc ưu đãi miễn, giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp, chính sách thuế đã khuyến khích các dự án đầu tư
vào ngành sản xuất công nghiệp, dòch vụ; đầu tư vào các khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao; từ đó tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và dòch
vụ trong GDP, điều đó đã góp phần tăng nhanh số thu NSNN và làm thay đổi
đáng kể cơ cấu thu NSNN.
2.2.4 Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Độ nổi của thuế từ 1990 đến 2009 có sự biến động không đồng đều, và độ
nổi hiện nay còn thấp. Những năm gần đây tốc độ tăng thu thuế cao hơn tốc độ
tăng GDP, nhưng chưa đều và chưa ổn đònh, chưa thể hiện xuất phát từ hoạt
động kinh tế, cơ quan thuế chưa kiểm soát được mọi hoạt động kinh doanh. Điều
này nói lên tính ổn đònh của hệ thống thuế còn thấp. Nguyên nhân có thể là do

(10,00)
10,00
30,00
50,00
70,00
90,00
2000

nổi của thuế cho thấy hệ thống thuế ở Việt Nam còn trong quá trình điều
chỉnh, nhiều thay đổi được thực hiện liên tục nhằm đạt được trạng thái cân
bằng. Việt Nam đang ở vào giai đoạn nhạy cảm của quá trình phát triển, điều
này đòi hỏi hệ thống thuế cần phải đạt được mức cân bằng nhanh, các nhà đầu
tư trong và ngoài nước luôn mong chờ một hệ thống thuế ổn đònh, minh bạch
và công bằng.
Theo số liệu thống kê của các tỉnh thành cả nước từ năm 1997 đến 2010, các
khoảng thu liên quan đến thuế giá trò gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh
nghiệp (TNDN), tổng ngân sách (TNS) hầu như đều tăng qua các năm, diễn giải
này có thể được minh họa tổng quát qua hình 2.5.
Hình 2.5 cho thấy sự biến động của thuế GTGT và thuế TNDN so với tổng
thu ngân sách và GDP. Tốc độ tăng của thuế GTGT rất nhiều trong các năm
gần đây, điều này cho thấy chương trình cải cách giai đoạn từ 1999 về sau có
hiệu quả mang lại nguồn thu đáng kể.
Trong cơ cấu thu ngân sách, tỷ trọng của thuế gián thu tăng qua các năm,
tỷ trọng thuế trực thu có tăng, nhưng tăng thấp hơn thuế gián thu. Thuế gián
thu tăng chủ yếu do tăng trưởng kinh tế và do chuyển dòch kinh tế theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp, dòch vụ. Thuế trực thu tăng thấp do hiệu quả nền
kinh tế chưa cao. Trong hệ thống chính sách thuế hiện nay, thuế giá trò gia
tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu là ba loại thuế gián thu chủ
yếu. Một khi thuế nhập khẩu giảm, số thu thuế của hai loại thuế còn lại sẽ gia
tăng. Do đó, đối tượng chòu thuế giá trò gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ được
mở rộng và ổn đònh mức điều tiết nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách.
- 13 -

Page 13

Hình 2.5: Xu hướng tăng trưởng của GDP, thuế GTGT, thuế TNDN, và tổng thu
Ngân sách
Để thấy rõ mối quan hệ giữa GDP và các yếu tố về thuế, một cách liên

8 10 12 14 16
LnGTGT
- 14 -

Page 14 Hình 2.6 Xu hướng tương tác giữa các cặp (GDP với GTGT, TNDN)
Kết quả phân tích mối tương quan giữa các biến như sau:
Bảng 2.17 Kết quả Hồi qui tương quan tác động cố đònh
LnGDP
Hệ số
Sai số
chuẩn
Giá trò t
Giá trò
P>|t|
[95% độ tin cậy]
LnGTGT
0,1003
0,0137
7,30
0,000
0,0733
0,1272
LnTNDN
0,1044
0,0123
8,49
0,000

Hằng số
4,5612
0,2005
22,75
0,000
4,1677
4,9547
Sigma_u
0,5263 Gigma_e
0,1324 6 8
10 12
LnGDP
10 12 14 16 18
LnTNS
- 15 -

Page 15


tác động tích cực đến tăng trường GDP. Tương tự D
1
cũng cho thấy, việc thay
đổi thuế TNDN từ sau năm 2004 cũng có một tác động tích cực đến sự tăng
GDP. Sau cùng D
3
, cũng cho thấy mức độ hiệu quả của sự tăng trưởng GDP của
chính phủ Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên WTO từ năm
2007. Sự thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp nhìn chung có lợi cho
doanh nghiệp là việc giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống 25% đã tạo điều
kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh tích lũy vốn, mở rộng sản xuất nâng cao
cạnh tranh trong hội nhập. Các doanh nghiệp và nhà đầu tư coi việc giảm thuế
suất là hết sức tích cực, khuyến khích doanh nghiệp quyết đònh đầu tư và mở
rộng sản xuất - kinh doanh hơn. Chính sách thuế đã góp phần khuyến khích đầu
tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.
Thực tế là trong những năm qua, đi đôi với việc cải cách chính sách thuế,
việc quản lý thuế cũng có tác động đáng kể đến nguồn thu. Những yêu cầu phải
rõ ràng minh bạch và cải thiện các chính sách là một sự phát triển rất tích cực có
thể cho rằng đã phản ảnh sự cải tiến thực sự trong môi trường kinh doanh ở Việt
Nam. Tương tự như vậy, sự gia tăng trong số lượng các DNVVN cho thấy rằng
việc thực thi chính sách thuế là có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của họ. Nghiên cứu của tác giả sau đây chỉ ra ý kiến của doanh nghiệp trong
việc thực thi chính sách thuế giá trò gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Đồng Bằng Sông cửu Long.
- 16 -

Page 16

2.2.5 Tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ vò trí quan trọng trong sự

các sản phẩm xuất khẩu. Biện pháp bảo hộ duy nhất cho các ngành sản xuất và
dòch vụ trong nước là thuế nhập khẩu.
- 17 -

Page 17

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết gia nhập WTO sẽ làm ảnh
hưởng trực tiếp tới nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy nhiên thực hiện
cam kết này thời gian qua không gây tác động tiêu cực cho nguồn thu ngân sách.
Bên cạnh đó, dưới tác động gián tiếp của cắt giảm thuế, tính ổn đònh và bền
vững của thu ngân sách bò ảnh hưởng. Số thu từ khu vực kinh tế trong nước, nhất
là từ các doanh nghiệp nhà nước bò ảnh hưởng mạnh do tác động của cạnh tranh
quốc tế và quá trình cải cách doanh nghiệp. Sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế và
những thay đổi thò trường trong quá trình hội nhập cũng đã thay đổi nguồn thu.
2.4 Đánh giá chung về tác động của chính sách thuế đối với phát triển kinh
tế Việt Nam
Về hệ thống chính sách thuế, qua quá trình cải cách, đến nay có thể
khẳng đònh rằng, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống thuế khá hoàn
chỉnh với đầy đủ các sắc thuế của một hệ thống thuế hiện đại, phù hợp với xu
hướng cải cách chung về thuế của các nước trên thế giới. Một là, hệ thống
chính sách thuế có tác động tích cực đến các nguồn thu, hệ thống chính sách
thuế đã trở thành công cụ điều tiết vó mô của nhà nước đối với nền kinh tế,
góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích đầu tư. Hai là, chính
sách thuế đã chuyển biến tích cực theo hướng rõ ràng, công khai, dân chủ và
minh bạch hơn. Ba là chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện theo hướng áp dụng thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và bước
đầu phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, chính sách và cơ cấu thu NSNN
cũng còn bộc lộ rõ nhiều những bất cập cần đổi mới cả về cơ cấu thu và chính
sách thu NSNN. Cơ cấu thu còn chưa thực sự vững chắc, ổn đònh và bền vững

kinh tế. Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường
các chức năng của thuế, nâng cao hiệu lực của thuế để tác động một cách có hiệu
qủa đến nền kinh tế
- Cơ chế và chính sách thuế phải thích ứng với tiến trình hội nhập.
Chính sách thuế phải phù hợp và thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, thực hiện bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện, tăng sức cạnh
tranh của nền kinh tế để thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia.
- Hoàn thiện chính sách thuế để bảo đảm sự tác động tích cực của nó đối với
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Hoàn thiện chính sách thuế theo hướng đảm bảo sự tác động tích cực góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa trong điều kiện VN hội nhập vào khu vực và thế giới.
3.1.2 Mục tiêu của chính sách thuế đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
bền vững
Mục tiêu chính của chính sách thuế là đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền
vững và ổn đònh nguồn thu ngân sách, tăng đầu tư và tạo sự phân phối công bằng
trong thu nhập. Việt Nam đang tiếp tục triển khai đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế, điều này đang
rất cần một nguồn lực tài chính đủ mạnh. Bảo đảm nguyên tắc công bằng hợp lý
- 19 -

Page 19

trong các chính sách thuế, tạo môi trường pháp lý bình đẳng cho mọi thành phần
kinh tế trong cạnh tranh và phát triển, khuyến khích phát triển mạnh mẽ các hoạt
động sản xuất kinh doanh có lợi cho quốc kế dân sinh, xác đònh tương quan hợp lý
giữa thuế trực thu và thuế gián thu theo các giai đoạn phát triển.
3.2 Đònh hướng của chính sách thuế đối với phát triển kinh tế bền vững
3.2.1 Các đònh hướng cơ bản của chính sách thuế
 Chính sách thuế phải đảm bảo khai thác hợp lý và động viên có hiệu lực


3.3.1 Xác đònh mức động viên hợp lý từ GDP vào ngân sách nhà nước
Có 3 nhóm yếu tố chính tác động đến cơ cấu nguồn thu NSNN, đó là nhân
tố về tăng trưởng kinh tế, nhân tố về cơ chế, chính sách thu và nhân tố về chất
lượng công tác quản lý thu thuế. Vì vậy, việc cải cách cơ cấu thu ngân sách
chính là quá trình cải cách, tác động tích cực vào các nhân tố trên. Giải pháp
cải cách cơ cấu thu NSNN cần tập trung vào vấn đề quan trọng là đẩy mạnh
cải cách cơ cấu kinh tế; duy trì nhòp độ tăng trưởng kinh tế. Trong một thời gian
nhất đònh, với chính sách thu và chất lượng công tác quản lý thu ổn đònh tương
đối, thì kinh tế tăng trưởng cao, phát triển bền vững. Đây là yếu tố cơ bản và
quan trọng nhất để tăng thu và cải cách cơ cấu nguồn thu ngân sách. Việc bổ
sung và ban hành các sắc thuế mới sẽ tác động trực tiếp lên nguồn thu ngân
sách, tác động gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế và quay trở lại tác động đến số
thu ngân sách. Vì vậy, khi chính sách thu thay đổi, sẽ có tác động kép đến cơ
cấu thu của các sắc thuế, ngành nghề, đòa bàn và lónh vực thu.
Thông thường, chính phủ muốn tăng thu thuế thì phải xem xét những yếu tố
quyết đònh khả năng đánh thuế của quốc gia. Những yếu tố đó là thu nhập, sự
phát về triển ngoại thương, tài nguyên thiên nhiên và khả năng quản lý thuế
của chính phủ. Theo lý thuyết cũng như thực tiễn ở các nước, ta thấy có một xu
hướng chung là khi thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia tăng lên, tỉ
số giữa số thuế thu được so với GDP có xu hướng tăng lên tương ứng. Kết quả
phân tích cho thấy thu nhập đầu người của Việt Nam bình quân qua các năm
qua là 5,428 triệu đđồng tương đđương 271 USD, nghóa là vẫn thuộc nhóm nước
thu nhập thấp. Hiện nay, tổng số thu thuế chiếm trong GDP của Việt Nam tăng
rất nhanh qua các năm, so với mức trung bình của các nước đang phát triển hay
những nước có thu nhập thấp (tỉ lệ phần trăm thuế trên GDP là 14%) thì tỉ lệ
phần trăm thu ngân sách trên GDP của Việt Nam 24,5%, tỉ lệ phần trăn thuế
trên GDP là 19,36 (bình quân qua các năm) là tương đối cao.
Trên cơ sở đó, xác đònh mục tiêu huy động vào NSNN từ thuế và phí giai
đoạn 2011 - 2015 là 22 - 23% GDP theo lộ trình của nhà nước là cao. Tỉ lệ này

quan trọng và khả thi trong tình hình hiện nay nhất là khi tiềm năng về thuế
thu nhập cá nhân còn lớn. Trong dài hạn việc kết hợp hai sắc thuế này thì ưu
tiên vẫn phải tập trung vào các sắc thuế gián thu.
3.3.3 Sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các bộ luật thuế
Dựa trên một số nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ khi gia nhập WTO và
dựa trên sự thay đổi của quản lý thuế trong thời gian gần đây. Sự thay đổi hệ
thống thuế bắt đầu từ việc thay đổi liên quan đến thể chế. Việc ban hành các
thể chế, chính sách thuế sẽ phải tuân thủ theo nguyên tắc về luật thuế. Trong
giai đoạn 2011-2020, sẽ tiến hành cải cách hệ thống thuế. Cụ thể, đối với thuế
giá trò gia tăngsửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa
dòch vụ không chòu thuế giá trò gia tăng. Sửa đổi, bổ sung Biểu thuế xuất khẩu
nhằm khuyến khích sản xuất. Điều chỉnh giảm mức thuế suất chung theo lộ trình
phù hợp để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài
chính. Sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật, nghiên cứu ban hành thuế tài sản.
- 22 -

Page 22

3.3.4 Chính sách ưu đãi thuế đối với các hoạt động kinh tế được nhà nước
khuyến khích
Việc áp dụng chính sách thuế phân biệt giữa các ngành, các khu vực có
tác động mạnh mẽ đến việc phân bổ lại nguồn lực trong nền kinh tế (vốn, lực
lượng lao động) song tác động đó chỉ có hiệu lực tốt nhất trong một thời hạn
nhất đònh, thích hợp, vì trong dài hạn, sự ưu đãi hay hạn chế của thuế với các
ngành, các khu vực sẽ bò san sẻ do sự di chuyển nhanh nhạy của vốn và lực
lượng lao động trong thò trường. Một chính sách thuế nhiều ưu đãi sẽ thu hút các
nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào lónh vực cần ưu tiên, khuyến khích,
như sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu cần thiết mà trong nước
chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ nhu cầu, đầu tư vào những vùng có

nhưng nếu các chủ thể của các quan hệ thuế không nắm bắt được những quy
đònh cụ thể trong các quy phạm pháp luật thuế thì chính sách thuế sẽ khó có
tính khả thi. Đẩy mạnh hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế và phát
triển hệ thống tin học ngành thuế theo chuẩn mực quốc tế. Tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ người nộp thuế thực hiện thủ tục
khai thuế, nộp thuế, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính và giảm chi
phí cho người nộp thuế. Công cuộc cải cách thuế chỉ đạt được hiệu quả như
mong muốn khi tiến hành đồng thời việc cải cách chính sách thuế với việc cải
tiến công tác quản lý thu thuế. Việc quản lý thuế chặt chẽ sẽ là tiền đề quan
trọng cho sự áp dụng thành công của chính sách thuế. Xác đònh cải cách hành
chính là nhiệm vụ cấp bách, khâu đột phá, có ý nghóa quan trọng, tạo động lực
cho phát triển kinh tế xã hội và môi trường kinh doanh, đặc biệt trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế. Về cải cách hành chính thuế để đạt được kết quả mong
muốn thì việc cải cách quy trình nộp thuế là những vấn đề đặt biệt quan tâm.
3.3.8 Tăng cường hiệu lực của bộ máy thanh tra thuế
Đối với hoạt động thanh tra kiểm tra đây là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kòp thời những vi phạm về thuế.
Khi thực hiện theo cơ chế nộp thuế mới, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan thuế là
tập trung vào việc thanh tra, kiểm tra và phát hiện kòp thời những vi phạm để
nhắc nhở, giáo dục đối với những trường hợp các đối tượng nộp thuế tính thuế
không đủ, không đúng, dây dưa nợ thuế; hoặc xử phạt nghiêm khắc những
trường hợp cố tình lợi dụng cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp để gian lận, chiếm
đoạt tiền thuế. Thực tiễn hành thu ở nước ta trong thời gian qua cho thấy tình
trạng gian lận và trốn lậu thuế khá phổ biến, nên việc tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế ngày càng trở nên bức xúc.
3.4.9 Nâng cao năng lực và hiệu quả nguồn nhân lực quản lý thuế trong thời
kỳ hội nhập
Trình độ về tổ chức bộ máy quản lý thuế và chất lượng đội ngũ cán bộ
thuế là một trong những yếu tố quyết đònh sự vận dụng thành công hay thất bại
của chính sách thuế. Do vậy việc kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thuế và

trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống chính sách
thuế ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập như gánh nặng thuế đối với doanh nghiệp
còn khá lớn, cơ cấu thu còn chưa thật sự vững chắc, tính ổn đònh, bền vững
trong huy động nguồn lực chưa cao, vẫn còn dựa vào khoản thu không tái tạo,
và hiệu quả thu thuế chưa cao dẫn đến tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân so tổng
thu ngân sách còn thấp; mức huy động từ thuế liên quan đến tài sản còn thấp,
chính sách thuế GTGT vẫn còn phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý…
Trong thời gian tới, chính sách thuế vẫn tiếp tục giữ vai trò rất quan trọng vì
vậy cần tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, nâng
cao tính công bằng, hiệu quả, ổn đònh của hệ thống thuế, góp phần cải thiện
môi trường kinh doanh, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trung và
dài hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status