BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN HIỆP HƯNG
H
H
O
O
À
À
N
N
H
HT
T
H
H
U
U
Ế
ẾĐ
Đ
Ố
Ố
I
IV
V
Ớ
Ớ
I
I
G
G
O
O
À
À
I
I
T
T
Ạ
Ạ
I
IV
V
I
I
Ệ
Ệ
T
TBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN HIỆP HƯNG HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỐI VỚI NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM Chuyên Ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân Hàng
Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
L
ỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường
Đại học Kinh Tế TP.HCM đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn các Thầy Cô đã tham
gia giảng dạy chương trình Cao học trong thời
gian qua.
Chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn
Ngọc Định đã tận tình hướng dẫn. Những ý kiến
đóng góp quý báu của Thầy đã giúp tôi hoàn
thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn. Tác giả luận văn
Trần Hiệp Hưng MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
Thuế nhà thầu nước ngoài tại Anh
Thuế nhà thầu nước ngoài tại Philippines
Bài học kinh nghiệm và nhận xét chung
Trang 10
Trang 10
Trang 12
Trang 13
Trang 16
Trang 18
Trang 20
Trang 22
Trang 23
Trang 24
Kết luận chương I
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.1. Quá trình hình thành chính sách thuế nhà thầu nước ngoài
tại Việt Nam
Trang 27
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.5.
2.2.6.
2.2.7.
Nội dung cơ bản thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam
hiện nay
CHƯƠNG III:
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI CỦA
VIỆT NAM
3.1. Định hướng hoàn thiện chính sách thuế nhà thầu nước
ngoài tại Việt Nam
Trang 51
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
Các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhà thầu nước
ngoài tại Việt Nam
Các giải pháp vĩ mô
Các giải pháp cụ thể
Các giải pháp hỗ trợ
Trang 52
Trang 52
Trang 58
Trang 61
Kết luận chương III
KẾT LUẬN
ĐỀ XUẤT CHO NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 1.1: Bảng thuế suất NTNN Malaysia .............................................. tr. 14
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp văn bản pháp quy về thuế NTNN .................... tr. 29
Bảng 2.2: Số thu NSNN năm 2010 các tỉnh thành phố ............................ tr. 37
Bảng 2.3: ĐTNN phân theo địa phương ................................................... tr. 38
BIỂU ĐỒ:
Biểu 1.1: Tổng thu thuế Singapore 2006-2010......................................... tr. 15
Biểu 1.2: Tỷ trọng các loại thuế 2009/2010 Singapore ........................... tr. 16
Biểu 2.1: Tỷ lệ các khoản thuế năm 2010 ............................................... tr. 36
Biểu 2.2: Số thu thuế nhà thầu nước ngoài 2005-2011 ........................... tr. 36
Biểu 2.3: Tỷ trọng thuế NTNN của các địa phương năm 2010 ............... tr. 39
Biểu 2.4: Thuế NTNN năm 2010 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ...................... tr. 40
PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng với
kinh tế thế giới, chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng của dòng vốn đầu tư trực
tiếp và không trực tiếp nước ngoài (FDI & FII), dòng vốn viện trợ (ODA).
Gắn liền với dòng vốn FDI, FII, ODA là sự xuất hiện hoạt động kinh doanh
của các nhà thầu nước ngoài (NTNN). Nhằm đảm bảo việc thực hiện quản lý
thuế đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam của các nhà thầu, nhà thầu
Nam. Thông qua đó, giúp cho chính sách thuế NTNN nói riêng, và hệ thống
chính sách thuế nói chung đạt hiệu quả cao, góp phần vào công cuộc phát
triển nền kinh tế quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách thuế đối với NTNN và
những giải pháp hoàn thiện chính sách thuế này ở Việt Nam.
Về không gian, luận văn nghiên cứu trên địa bàn cả nước, trong đó tập
trung vào số liệu của thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà rịa - Vũng Tàu.
Đây cũng là ba địa phương dẫn đầu về ĐTNN, cũng như số thuế NTNN của
Việt Nam.
Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp quy
thuế đối với Nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam tới thời điểm hiện tại.
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu chính sách thuế nhà thầu nước
ngoài của Việt Nam trong thời gian qua, có so sánh với chính sách thuế của
các nước khác trên thế giới. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài trong thời gian tới. Các giải
pháp này nhằm:
• Đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa mọi đơn vị kinh doanh trong và ngoài
nước;
• Đảm bảo thu ngân sách nhà nước;
• Tạo thuận lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài;
• Xây dựng chính sách thuế nhà thầu nước ngoài minh bạch, dễ áp dụng,
phù hợp xu hướng cải cách ngành thuế trong thời gian tới.
IV. CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã tổng hợp tương đối hệ thống và đầy đủ hệ thống chính sách
thuế đối với nhà thầu nước ngoài, số liệu thu thuế nhà thầu nước ngoài ở Việt
Nam từ năm 2005 đến nay.
- 1 -
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
1.1. Tổng quan về thuế đối với nhà thầu nước ngoài
1.1.1. Sự hình thành thuế nhà thầu nước ngoài
Sự ra đời và phát triển của thuế là một tất yếu khách quan của lịch sử,
gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và Pháp luật. Sự xuất hiện Nhà
nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường
xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì
quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Và để duy trì sự
tồn tại thì cần thiết phải có những nguồn tài chính để chi tiêu, chính vì vậy, sự
hình thành nguồn thu từ thuế là tất yếu và khách quan.
Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang
chuyển thành một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng
lưới công nghệ thông tin. Từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, sự chuyển dịch hàng
hóa, dịch vụ và các nguồn vốn đầu tư giữa các nước gia tăng ngày càng
nhanh, tạo ra sự biến đổi về chất so với trước đây. Động lực của toàn cầu hóa
chính là lợi ích mà các lực lượng tham dự có thể thu được nhờ vào sự mở
rộng thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Quá
trình toàn cầu hóa còn được diễn ra bằng quá trình mở rộng hoạt động đến các
quốc gia thông qua các hoạt động đầu tư vào các ngành đa dạng và phong
phú. Quá trình đầu tư của các quốc gia chính là quá trình thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh tại các nước khác. Các nước sẽ đem vốn của mình đến
đầu tư thông qua các hình thức khác nhau, trong đó có hình thức các tổ chức,
cá nhân thể hiện qua tư cách là các nhà thầu để tham gia quá trình này. Từ đó,
các quốc gia sẽ phải suy nghĩ đến quá trình quản lý các hoạt động nêu trên,
mà trong đó công cụ chủ yếu chính là chính sách thuế. Và các nước này sẽ
phải đưa ra các quy định về thuế đối với các nhà thầu nước ngoài khi đến
trường trái phiếu, thị trường chứng khoán. Còn nhà thầu nước ngoài chỉ hoạt
động theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại. Sau khi
kết thúc hợp đồng, hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt. - 3 -
Trong các quy định về thuế của các nước, thuế NTNN thường được gọi
là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contractor Withholding Tax
(FCWT). Nó còn được gọi là thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), do
cách thu chủ yếu là được bên ký hợp đồng khấu trừ tiền thuế phải nộp của
nhà thầu nước ngoài trước khi trả tiền cho nhà thầu. Từ điển Oxford
Dictionaries định nghĩa: “Thuế NTNN là loại thuế được khấu trừ tại nguồn,
do các quốc gia đánh trên tiền lãi vay hoặc cổ tức của người cư trú bên ngoài
nước đó”. Các nước thường không có một định nghĩa riêng về thuế đối với
nhà thầu nước ngoài. Các điều khoản về thuế đối với nhà thầu nước ngoài
thường được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuộc phần
thuế khấu trừ tại nguồn. Chẳng hạn, Luật thuế Malaysia định nghĩa thuế
NTNN như sau: “Thuế NTNN là một khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại
đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội
địa Malaysia. Bên trả tiền là cá nhân/tổ chức hoạt động kinh doanh tại
Malaysia. Bên trả tiền phải giữ lại thuế NTNN đối với các khoản chi trả cho
dịch vụ, tư vấn kỹ thuật, tiền thuê hoặc các khoản chi trả khác thực hiện dưới
bất kỳ hình thức thỏa thuận nào đối với việc sử dụng bất kỳ động sản nào trả
cho người nhận tiền không cư trú. Người nhận tiền là cá nhân/tổ chức không
cư trú tại Malaysia nhận các khoản chi trả trên”. Theo Luật quản lý thuế của
Australia năm 2004 (Taxation Administration Amendment Regulations 2004)
thì thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào các khoản chi trả cho các tổ chức nước
tư của mình, do vậy cần vay từ các nguồn bên ngoài, làm xuất hiện thuế
nhà thầu nước ngoài đối với lãi vay;
Trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, cần nhập khẩu khoa học công
nghệ, do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với tiền bản
quyền;
Khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, do vậy cần các
nhà thầu nước ngoài cung cấp nhiều dịch vụ, hàng hóa trong nước chưa
sản xuất được, đặc biệt đối với việc xây dựng các nhà máy, công trình - 5 -
trọng điểm. Do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài trong lĩnh vực
cung cấp hàng hóa dịch vụ, xây dựng;
Các nước đang phát triển thường áp dụng mô hình Hiệp định tránh đánh
thuế hai lần của UN, trong khi các nước phát triển thường áp dụng mô
hình Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của OECD. Mô hình UN áp
dụng nguyên tắc đánh thuế tại nguồn, ưu tiên cho các nước đang phát
triển quyền được đánh thuế đối với các thu nhập có nguồn phát sinh từ
nước mình;
Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong và
ngoài nước;
Trong quá trình hội nhập, xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, các nước
thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI, các công ty
nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không hình thành pháp
nhân đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng về nhiều lĩnh vực, trong đó có thuế.
Chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài cũng dựa trên một mặt bằng
chung như đối với các doanh nghiệp trong nước, xây dựng một sân chơi
Đầu tư dự án mới hoặc mở rộng đầu tư phải nhập khẩu máy móc, thiết
bị loại trong nước chưa sản xuất, chế tạo được, kèm theo dịch vụ đào
tạo, lắp đặt, chạy thử, bảo hành, …
Chuyển giao công nghệ, mua bản quyền công nghệ từ nước ngoài (ví
dụ: qui định hợp đồng chuyển giao công nghệ dây chuyền sản xuất sản
phẩm: trả phí cho bên chuyển giao trên giá bán tịnh của sản phẩm; hoặc
tiền chuyển giao công nghệ dạng nhãn hiệu thương mại tính phần trăm
trên doanh thu thuần…); trả tiền bản quyền xuất bản phẩm
Vay ngân hàng nước ngoài (lãi tiền vay)
Quảng cáo (tiền bản quyền) hoặc dịch vụ
Cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện công nghiệp, thiết bị khoa học,
thiết bị thương mại, phương tiện vận tải và các động sản khác dưới mọi - 7 -
hình thức, kể cả các phần mềm đi kèm như phần mềm điều khiển, thiết
bị phụ trợ
Tư vấn, thiết kế (kể cả thiết kế qua Internet)
Dịch vụ thuê/mua dịch vụ
Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài:
Đặc điểm lớn nhất của NTNN là hoạt động kinh doanh chỉ trong một
thời gian ngắn, theo các hợp đồng ký với các doanh nghiệp hoặc cá nhân của
nước sở tại. Các hợp đồng này thường là ngắn hạn, phần lớn dưới một năm,
có hợp đồng chỉ trong thời gian rất ngắn. Tuy nhiên cũng có những hợp đồng
kéo dài vài năm, đặc biệt là các hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí: thuê giàn
khoan, tàu chứa dầu v.v...; trong lĩnh vực xây dựng: xây nhà máy điện, xi
măng, nhà máy đường, nhà máy chế biến thực phẩm v.v...; các hợp đồng vay
các vấn đề về thuế do bên ký hợp đồng nước sở tại chịu trách nhiệm.
Về thuế suất:
Do đặc điểm của NTNN chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, không thực
hiện chế độ sổ sách kế toán như các doanh nghiệp trong nước nên việc kê
khai, tính thuế không áp dụng như đối với các doanh nghiệp trong nước. Để
tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hành thu, thuế suất đối với các hoạt
động kinh doanh của NTNN thường được gộp lại theo từng nhóm có hoạt
động kinh doanh tương tự. Cũng do không thực hiện chế độ sổ sách kế toán,
việc xác định thuế TNDN thường theo tỷ lệ % trên doanh thu NTNN nhận
được. Tỷ lệ này cũng được xác định theo từng nhóm hoạt động kinh doanh
tương tự nhau, chẳng hạn: hoạt động dịch vụ; hoạt động xây dựng, hoạt động
thương mại v.v...
Quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần:
Thuế NTNN có quan hệ chặt chẽ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Các quy định về thuế đối với NTNN đều đề cập đến quan hệ giữa thuế NTNN
và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần thể hiện ở các điểm sau: - 9 -
Về nghĩa vụ nộp thuế: Trong các quy định về thuế NTNN đều khẳng
định việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với hoạt động
của NTNN. Trường hợp NTNN hoạt động tại nước ký kết hợp đồng
hình thành một Cơ sở thường trú theo định nghĩa tại từng Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần (Permanent Establishment - PE), các NTNN sẽ
nộp thuế như các doanh nghiệp trong nước. Ngược lại, các NTNN có
thể chỉ phải nộp thuế tại nước đăng ký kinh doanh mà không phải nộp
Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên
sườn phía đông lục địa châu Á. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười
thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Quốc gia này là thành viên của
tổ chức Liên Hiệp Quốc, G8, G4 và APEC.
Tổng Cục Thuế Nhật Bản thành lập từ năm 1949, bao gồm Văn phòng
Tổng Cục thuế, 12 Cục thuế vùng và 524 Chi Cục thuế quận huyện với
56.240 nhân viên (số liệu năm 2009 - NTA). Tổng thu NSNN năm 2009 là
88.548 tỷ Yên, trong đó thu từ thuế và phí là 46.143 tỷ Yên (tương đương 660
tỷ USD), chiếm 52,1% tổng thu NSNN. Thuế thu nhập, thuế công ty và thuế
tiêu thụ hàng hóa (như thuế GTGT) chiếm khoảng 80% tổng thu thuế. Cơ
quan thuế Nhật Bản đã đạt đến trình độ cao về áp dụng công nghệ thông tin
trong quản lý thuế. Cơ chế quản lý thuế đang áp dụng là cơ chế tự khai tự nộp
(Self-Assessment). Số cán bộ thuế làm công tác thanh tra, kiểm tra chiếm tới
80% tổng số cán bộ công chức ngành thuế.
1.3.1.2. Thuế NTNN tại Nhật Bản
Nhật Bản có 2 sắc thuế đánh vào đối tượng doanh nghiệp nước ngoài
đến kinh doanh tại Nhật Bản:
- Corporation tax (tạm gọi là “thuế thu nhập doanh nghiệp”)
- Withholding income tax (tạm gọi là “thuế khấu trừ tại nguồn”)
Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm vào đối tượng nhận thu
nhập, thuế khấu trừ tại nguồn nhằm vào đối tượng chi trả thu nhập. Trong một
số trường hợp, đối với khoản thu nhập phát sinh từ Nhật Bản (ngoài khoản thu - 11 -
nhập từ hoạt động kinh doanh chính), nếu doanh nghiệp có giấy chứng nhận
của phòng thuế chứng minh rằng những khoản thu nhập này có liên quan đến
- 12 -
+ Thuế Trung ương (National taxes): Thuế thu được sẽ đưa vào Ngân sách
trung ương.
+ Thuế Địa phương (Metropolitan, country & city taxes): Do địa phương thu
để phục vụ phát triển địa phương. Trước đây Thuế VAT do địa phương thu,
nhưng sau số thu từ VAT lớn nên thuế VAT đã được chuyển về Trung ương
quản lý.
Hiện nay, trong tổng số thu từ thuế, 70% số thu là thuế Trung ương,
30% là thuế Địa phương. Các dữ liệu về thuế do trung ương quản lý hay do
địa phương quản lý đều được tập trung về trung tâm dữ liệu tài chính. Tại Đài
loan có 3 loại thuế chiếm 50% tổng số thu của cả nước là: Thuế TNDN, thuế
TNCN, thuế VAT.
1.3.2.2. Thuế NTNN tại Đài Loan
Thuế NTNN được quy định tại Luật thuế TNDN, theo đó doanh nghiệp
thành lập theo luật pháp nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có hay không
có tồn tại cơ sở thường trú tại Đài Loan sẽ phải nộp thuế NTNN tại Đài Loan.
Thuật ngữ “cơ sở kinh doanh cố định” trong Luật thuế thu nhập của Đài Loan
nhằm chỉ một địa điểm cố định thực hiện hoạt động kinh doanh, bao gồm các
văn phòng điều hành, chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng, nhà kho, mỏ, công
trường xây dựng; không bao gồm nhà kho với chỉ sử dụng với mục đích mua
hàng và các cửa hàng không sử dụng cho việc chế biến hoặc sản xuất sản
phẩm.
Doanh nghiệp Đài Loan ký hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài sẽ
khấu trừ số thuế doanh nghiệp nước ngoài phải nộp trước khi trả tiền cho
doanh nghiệp nước ngoài. Số tiền thuế NTNN được tính trên toàn bộ số tiền
doanh nghiệp Đài Loan phải trả cho doanh nghiệp nước ngoài. Đối với thuế
GTGT, trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ cho đối
tác Đài Loan mà không có cơ sở kinh doanh cố định tại Đài Loan thì công ty
theo các tỷ lệ thuế suất quy định và nộp cho Cục thu Nội địa Malaysia trong
vòng một tháng kể từ thời điểm chi trả. Tất cả khác khoản thuế NTNN phải
được thực hiện theo mẫu quy định, đúng hạn, cùng với bản photo chứng từ do
bên nhận tiền phát hành và chứng từ thanh toán. Tổng thu thuế NTNN năm