Tính chịu hạn của thực vật - Pdf 13

BÀI BÁO CÁO
TÍNH CHỊU HẠN CỦA THỰC VẬT
MỤC LỤC
Tính chịu hạn của thực vật
a, Tác hại của hạn đến thực vật.
b, Đặc tính trao đổi nước của các nhóm
sinh thái thực vật.
c, Bản chất của tính chống chịu hạn
d, Biện pháp làm tăng tính
chịu hạn
Mở đầu
Nước ta là một nước mưa nhiều có độ ẩm không khí cao đó là đặc điểm chung của
vùng nhiệt đới. Nhưng do lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các mùa trong
năm và các vùng, cho nên hạn hán vẫn có khả năng xảy ra bất kỳ vùng nào, mùa nào.
Những năm trước cách mạng tháng Tám, hạn hán là một tai họa rất lớn đối với
nhiều vùng và luôn luôn dẫn đến mất mùa và đói kém. Sau cách mạng, nhất là sau khi
hòa bình lập lại trên đất Bắc vấn đề nước đã được Đảng và chính phủ coi là biện pháp
hàng đâù trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt kể từ ngày đất nước ta hoàn toàn thống
nhất, việc xây dựng các hệ thống công trình thủy lợi ngày càng quan tâm hơn và đã
đưa diện tích được tưới tiêu ngày càng tăng. Cho đến nay đã có nhiều tiến bộ trong
công tác phòng chống hạn. Những công trình thủy lợi quy mô, nhiều trạm bơm với các
hệ thống mương máng được xây dựng đã có khả năng đảm bảo đầy đủ nước tưới tiêu
cho các loại cây trồng trên các vùng khác nhau, Tuy thế hạn hán vẫn còn là trở ngại
lớn đối với sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần phải tìm mọi biện pháp khắc
phục và hạn chế tác hại của chúng. Muốn vậy một mặt phải xây dựng các công trình
thủy lợi, mặt khác phải tìm ra những quy luật và những đặc tính riêng của những cây
có khả năng chịu hạn, từ đó mới có khả năng khống chế hoàn toàn tác hại của hạn. Do
đó việc tìm kiếm bản chất tính chịu hạn cũng như các biện pháp khắc phục và làm
tăng tính chịu hạn có một ý nghĩa to lớn.
.
a, Tác hại của hạn

thay đổi độ ph, độ nhớt => thay đổi các thành phần cấu tạo nên
chất nguyên sinh => ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất của
cơ thể.
+ Maximop và các cộng sự chỉ ra rằng khi cây bị héo thì trong cây
xảy ra những thay đổi về đặc điểm hóa keo của chất nguyên sinh.
+ Độ nhớt của chất nguyên sinh thay đổi làm tính đàn hồi thay đổi
theo.
+ Tinh bội bị thủy phân khi cây bị héo, hàm lượng disaccarit giảm,
có hiện tượng phân giải protein.
+ Hạn hán ảnh hưởng tới quá trình hình thành diệp lục, phá hoại
lạp thể => quá trình quang hợp bị giảm.
+ Ảnh hưởng tới hoạt động hút khoáng của hệ rễ, dẫn đến tình trạng
thiếu những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình tổng
hợp và trao đổi các chất hữu cơ khác.
+ Sự thiếu nước cũng ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của tế
bào, đặc biệt trong pha dãn của tế bào.
Nếu ảnh hưởng này sâu sắc thì các biến đổi bên trong ấy được thể
hiện ra ngoài bằng sự thay đổi về phương diện hình thái mà ta có thể
dễ dàng thấy được.
Hạn thường kết hợp với gió khô nóng làm chết phần lớn lá, làm cho
hàm lượng nước trong lá giảm mạnh gây ảnh hưởng lớn tới năng
suất của cây. Ví dụ về tác hại của hạn với lúa, Matsuki (1940) thấy
rằng lượng nước ở lớp đất mặt dưới 10% thì lúa bị hạn và không trổ
bông được.
Người ta thấy rằng trong đời sống của cây có lúc cần đủ nước, lúc đó
nếu chỉ thiếu 1 ít nước thôi cũng đủ ảnh hưởng lớn tới năng xuất và
phẩm giống của cây, đó gọi là thời kỳ khủng hoảng nước. ở những
cây khác nhau có thời kỳ khủng hoảng khác nhau. Ví như với lúa,
thời kỳ khủng hoảng bắt đầu từ khi hình thành ống phấn đến trổ
bông, với ngô là từ lúc phân hóa cờ tới chin sữa, với khoai tây từ lúc

không biểu thể hiện rõ những đặc tính hạn sinh.
-Nhóm cây hạn sinh: gồm những loài sống trong vùng thiếu nước định kì
hay thường xuyên nên có cấu tạo giải phẫu và mốt số đặc tính khác thể
hiện sự thích nghi với khô hạn.
Dựa vào đặc tính của các loại cây hạn sinh có các hình thức chịu hạn khác
nhau mà người ta chia thành các nhóm khác nhau.
+ nhóm cây mọng nước
Gồm: xương rồng, cây lưỡi hổ ,cây thùa…
Đặc điểm: thân nhiều nước hệ rễ phân nhánh nhiều, lá có ít khí khổng lớp
cutin rất dày.
VD: xương rồng có khả năng chịu nhiệt 65 độ C,trong khi đó lúa mì ở 49
độ C trong 10’ đã chết.
Cây mọng nước thì có mô dự trữ nước gồm các tế bào lớn tròn ,vách tế
bào mỏng ,mô cơ và mô dẫn kém phát triển.
Các hoạt động sinh lý như trao đổi chất yếu, lỗ khí ban ngày thường đóng
kín. Suy ra cây mọng nước có khả năng dữ nước cao nhưng sinh trưởng
lại chậm.
class="bi x0 y0 w1 h1"
+ nhóm cây hạn sinh thật sự :
Đặc điểm : có cường độ thoát hơi nước không cao lắm ,hệ rễ thì không
ăn sâu lắm (50-60 cm) nhưng phân nhánh mạnh. Chất nguyên sinh có
tính đàn hồi độ nhớt cao.
VD: ở vùng thảo nguyên ở liên xô đại diện cây thuộc nhóm này như :
veronica incana, astervillosus…
+ Nhóm cây nửa hạn sinh
Đặc điểm : cường độ thoát hơi nước thì cao , rễ ăn sâu đến mức nước ngầm.
chúng thì không chịu được khô nóng vì độ đàn hồi và độ nhớt chất nguyên
sinh thấp.
Đại diện: salvinverlyeillata, falearia rivini…
+ Nhóm cây hạn sinh hình ống

theo các con đường khác
. Ở đây trước hết cần chú ý đến sự phát triển mạnh mẽ hệ rễ có khả năng qua
một thể tích đất to lớn có độ ẩm thấp,hút được đầy đủ một lượng nước, còn
trong một số trường hợp – sử dụng cả nước ngầm. Các cơ quan trên mặt đất
của các cây này (đặc biệt là lá)Có nhiều thích nghi để làm giảm thoát hơi
nước.Khí khổng nằm sâu vào trong hốc ,các khí khổng được che kín bằng
những nắp bằng sáp, lá cuộn lại thành ống(khí khổng nằm ở bên trong),lá có
nhiều lông)cutin dày…Sự biến đổi về giải phẫu hình thái không những chỉ
thấy ở những thực vật khác nhau mà ngay trong cùng một cây cũng có sự biến
đổi nhất định đặc biệt ở lá.
Khi nghiên cứu về quy luật của những cây chịu hạn nhà bác học nga Zalenski
đẵ phát biểu một quy luật quan trọng về cấu tạo lá phụ thuộc vào độ cao của
chúng trong cây : Lá trên cao luôn luôn khác với lá dưới thấp,ngay trong cùng
một cây lá trên cao có kích thước tế bào bé,số khí khổng trên một đơn vị diện
tích nhiều mạng lưới gân mạch dày.Số lông trên một đơn vị diện tích lá lớn,mô
dậu phát triển mạnh …Sở dĩ như vậy là do lá trên đồng hóa cao hơn và thoát
hơi nước mạnh hơn.nồng độ dịch bào của chúng cao hơn so với những lá ở
đưới,khi thiếu nước nó hút nước của những lá ở dưới làm cho những lá dưới
thiếu nước và dụng trước. Người ta cũng thấy rằng khi thiếu nước những khí
khổng của lá tầng trên không đóng ngay mà vẫn còn mở một thời gian nữa nên
nó có thể đồng hóa CO
2
. Những đặc điểm trên đây cũng đặc trưng cho những
thực vật hạn sinh nếu có cấu tạo như vậy cấu tạo như vậy được gọi là cấu tạo
hạn sinh hay quy luật “Zalenski”.Sở dĩ có đặc điểm cấu tạo giải phẫu như trên
là do những lá trên ở trong điều kiện cung cấp nước khó khăn hơn.
Người ta cũng thấy thêm rằng,những lá ngoài sáng so với những lá trong bóng
cũng có những sai khác tương tự như những lá tầng trên so với những lá tầng
dưới của một cây. Vì vậy,những lá ở ngoài sáng cũng có thể gọi là những lá
hạn sinh.

đến 40%.Ngược lại trong điều kiện cung cấp nước đầy đủ,độ ngậm nước ở các mô của
cây trung sinh gấp 1,5 đến 2 lần so với cây hạn sinh. Như vậy chứng tỏ nguyên nhân
chịu hạn kém của những cây trung sinh không phải là do tính ưa nước của keo thấp mà
mà do khả năng lấy nước kém và khả năng duy trì độ ngậm nước thấp khi gặp điều kiện
thiếu nước.
Khi nghiên cứu sâu về đặc tính của cây hạn ,người ta thấy rằng đại đa số những cây này
có cấu tạo siêu hiển vi của chất nghuyên sinh cũng như tính chất hóa lý của keo nguyên
sinh chất khác hẳn so với những cây không có khả năng này. Những cây chịu hạn có
tính đàn hồi và độ nhớt chất nguyên sinh cao và có hàm lượng nước liên kết lớn hơn hia
lần rưỡi so với cây kém chịu hạn.Ngoài ra cây chịu hạn còn có một số tính chất khác
như:khả năng giữ nước kết hợp lướn,khả năng giữ chất tan trong dịch tế bào lớn,hay nói
khác đi là tính thấm của chất nguyên sinh cao.
Ngoài
ra
cường
độ
của
quá
trình
trao
đổi
chất
trong
tế
bào

liên
hệ
mật
thiết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status