BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
T
Ạ
O
T
R
Ư
Ờ
N
G
ĐẠI HỌC KINH TẾ
T
P
.
H
C
M
oOo
NGUYỄN TIẾN
L
O
N
G
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC
NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NA
M
Chuyên ngành : Tài chính Doanh nghiệp
Mã số : 60.31.12
u
ồ
n
gốc trích dẫn rõ
r
à
n
g.
TÁC
GIẢ
NGUYỄN TIẾN L
ONG
MỤC
L
Ụ
C
PHẦN MỞ
ĐẦU
1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN TỔNG QUAN
3
1.1
Hoạt động của Ngân hàng thương mại
trong
nền kinh tế thị
t
r
ư
ờ
nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân hàng 7
1.2.2.3
Nhóm
nguyên nhân thuộc về bản thân ngân
h
à
ng8
1.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 8
1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân
hàng
8
1.2.3.2 Hậu quả của rủi ro đối với khách hàng
9
1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh
tế10
1.3 Năng lực quản
trị rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của NHTM.
11
1.3.1. Quản lý rủi ro và quản trị rủi ro
11
1.3.2 Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng thương
20
1.4.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao
c
h
ấ
t
lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.
21
1.4.3 Xu thế hội nhập quốc tế và tòan cầu hóa đòi hỏi phải nâng cao
n
ă
n
g
lực quản trị rủi ro.
21
1.5 Khủng hoảng kinh tế tài chính tòan cầu và những cảnh báo cho
h
ệ
thống
ngân hàng thương mại Việt Nam
22
1.5.1 Nợ dưới chuẩn – Hậu quả của sản phẩm tài chính hiện đại
nhưn
g
nhiều rủi ro
22
2.1.2 Tình hình huy động
vốn
29
2.1.3 Thực trạng rủi ro trong kinh doanh NHTM Việt Nam
31
2.1.3.1 Rủi ro tín dụng
31
2.1.3.2 Rủi ro ngoại hối (Rủi ro thị trường)
40
2.1.3.3 Rủi ro lãi suất (Rủi ro thị
trường)
46
2.1.3.4 Rủi ro thanh
khoản
49
2.1.3.5 Rủi ro tác
nghiệp54
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản
trị rủi ro trong
hoạt
đ
ộ
n
g
63
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIA TĂNG HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO 65
TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NA
M65
3.1 Giải pháp đối với các ngân hàng thương
mại
65
3.1.1 Giải quyết vấn đề vốn cho ngân hàng 65
- Đa dạng hoá các phương thức huy động
vốn.
66
3.1.2 Thực hiện mô hình kiểm soát, dự đoán và định lượng rủi ro
h
ọ
a
t
độ
n
g
tín dụng.
69
3.1.3 Giải pháp đối với hoạt động kinh doanh ngoại
tệ
Ụ
C
TÀI LIỆU THAM
KH
Ả
O
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT
T
Ắ
T
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHVN Ngân hàng Việt Nam
NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHLD Ngân hàng liên doanh
WTO (World trade organision) Tổ chức Thương mại thế giới
NH Ngân hàng
TCTD Tổ chức tín dụng
NQH Nợ quá hạn
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ
Đ
Ồ
Danh mục
T
r
a
ng
Sơ đồ 1.1 : Quy trình quản trị rủi ro
12
đã làm cho các NHTM phải đối mặt nhiều hơn với các loại rủi ro trong hoạt động
và ở cấp độ quy mô ngày càng lớn. Tình hình đó đặt ra việc xác định được các rủi
ro tổng thể tiềm ẩn của hệ thống Ngân hàng để xử lý kịp thời. Do vậy để thực
hiện mục tiêu phát triển, an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, việc nghiên cứu áp
dụng những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong họat động kinh doanh của các
NHTM Việt nam là vô cùng cần thiết. Chính vì nhận thức được vấn đề trên, đề tài
“Quản trị rủi ro trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” được lựa chọn
nghiên cứu trong bối cảnh hiện tại.
2. Mục đích nghiên
c
ứu
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản trị rủi ro
của các Ngân hàng thương mại
3. Đối tượng và phạm vi nghiên
c
ứu
:
Đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản của ngân hàng thương mại,
phân tích, đánh giá các rủi ro trong họat động của Ngân hàng thương mại, tìm ra
nguyên nhân các rủi ro từ đó đưa ra những giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản
trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
2
4. Phương pháp nghiên
c
ứu
Luận văn sử dụng các phương pháp lý thuyết suy luận logic, duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phân tích hoạt động kinh tế, toán học, thống kê, so sánh,
đối chiếu, các kinh nghiệm của bản thân và của các nhà nghiên cứu tài chính tiền
tệ.
Kết cấu của luận
t
r
ư
ờ
n
g.
Luật của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
L
u
ậ
t
c
á
c
T
ổ
c
h
ứ
c
t
í
n
d
m
ạ
i
:
Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói
trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động
của NHTM. Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong
4
hoạt động kinh doanh của NHTM là “những biến cố không mong
đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng”. Mức độ và tính chất rủi ro khác
nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những
tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền. Việc tìm hiểu về các
loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả
lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro
của NHTM.
1.2.1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
m
ạ
i
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể phân chia thành
nhiều loại tùy theo tiêu thức lựa chọn và mục đích nghiên cứu. Trong luận văn
này, rủi ro sẽ được phân chia và trình bày thành bốn loại bao gồm: (1) Rủi ro tín
dụng; (2) Rủi ro thanh khoản; (3) Rủi ro thị trường; và (4) Rủi ro tác nghiệp.
1.2.1.1 Rủi ro tín dụng
Là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không
thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vay và lãi cho NH,
gây tổn thất cho NH.
Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát
từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng như đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động
tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
ng
Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không
lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Lãi suất và tỷ
giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không
giống nhau đến hoạt động ngân hàng. Trong khi lãi suất biến động thì làm thay
đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và
nguồn vốn của ngân hàng. Song nếu xét ở giác độ nghiên cứu khác, hai phạm trù
này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị trường phụ thuộc vào
các yếu tố cung – cầu về vốn và về ngoại tệ. Quan trọng hơn, việc xác định, đo
lường mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là hoàn
toàn tương tự và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị
trường tiền tệ hay thị trường ngoại hối.
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn
được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các
NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá. Trái lại, trong điều kiện
nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng
vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo. Lãi suất và tỷ giá biến
động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với
các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau. Một
ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại
6
bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống. Xác suất thu được lợi ích và chịu
tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất,
lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính là thiệt hại của ngân hàng khác. Do
vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có
nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá
được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền
và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông
qua việc đo lường xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và
chống.
chịu ảnh hưởng từ những điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Trên cơ sở đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng đã phân chia nguyên nhân rủi
ro thành 3 nhóm như sau:
1.2.2.1 Những nguyên nhân khách
qu
a
n.
Đây là những nguyên nhân xảy ra rủi ro như thảm hoạ tự nhiên (bảo lụt,
hạn hán, động đất, v.v…) hay những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế – xã
hội của Chính phủ, gây thiệt hại khách hàng hoặc trực tiếp cho các ngân hàng.
Đặc điểm chung của nhóm nguyên nhân này là cả ngân hàng và khách hàng
không thể có bất kỳ hành động nào để hạn chế ngoài việc dự đoán, dự báo, dự
phòng và chịu đựng. Do vậy, các NHTM luôn phải chủ động dự phòng để khắc
phục hậu quả rủi ro là điều có ý nghĩa hơn cả.
1.2.2.2
Nhóm
nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân
h
à
ng
Bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, kể cả các NHTM và các định chế
tài chính khác. Khi các đối tượng khách hàng không thể hoặc không muốn thực
hiện những cam kết với ngân hàng thì ngân hàng sẽ phải chịu những tổn thất.
Trên thực tế, điều rất dễ nhận thấy là trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đời
sống của khách hàng là có thể gặp phải rủi ro và ít nhất thì một phần rủi ro đó sẽ
được “chia sẻ” hay “chuyển sang” cho ngân hàng. Nói cách khác NHTM cùng
phải chịu tổn thất từ những rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống
của khách hàng. Có thể nói phần lớn (trên 90%) khách hàng không thực hiện cam
kết vời ngân hàng vì bản thân họ gặp rủi ro. Ngoài ra, số ít hơn (dưới 5%) khách
hàng chủ động chối bỏ không thực hiện những cam kết vì những lợi ích nhất thời
chính và uy tín. Điều đáng lưu ý là những tổn thất xảy ra không chỉ ảnh hưởng
đến bản thân ngân hàng mà còn có tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng
và nền kinh tế như một tổng thể. Chúng ta có thể khái quát về hậu quả của rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của các NHTM như sau:
1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân
h
à
ng
Hậu quả đối với ngân hàng ở mức độ thấp nhất là làm giảm thu nhập của
ngân hàng. Mỗi hoạt động kinh doanh của ngân hàng góp phần mang lại thu nhập
cho ngân hàng nhưng khi xuất hiện một loại rủi ro ở hoạt động nào đó, ngân hàng
không những không có thu nhập từ hoạt động tương ứng mà còn làm giảm thu
nhập từ các hoạt động khác. Ví dụ, nếu khách không trả nợ đúng hạn, sẽ dẫn đến
tình trạng tồn đọng vốn, ngân hàng không thể tiếp tục cho vay hoặc đầu tư, bên
cạnh đó ngân hàng còn phải bỏ ra một khoản chi phí đáng kể để phục vụ cho thu
hồi vốn, trích lập dự phòng rủi ro, và bù đắp v.v. … khi thu nhập chung của ngân
hàng giảm sút thì thu nhập của mỗi cán bộ công nhân viên cũng theo đó giảm
xuống, làm giảm động lực làm việc và quy cơ “ chảy máu chất xám” và rủi ro tác
nghiệp sẽ càng cao.
Ở mức độ tiếp theo sự giảm sút về thu nhập, hậu quả của rủi ro sẽ là sự hạn
chế khả năng tăng trưởng vốn, tác động xấu đến việc mở rộng quy mô hoạt động
9
và khả năng áp dụng công nghệ và giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Giống như tất cả các doanh nghiệp khác, tăng trưởng vốn được thực hiện thông
qua phân phối lợi nhuận. Khi rủi ro xảy ra lợi nhuận giảm thấp đến mức độ nhất
định thì tăng trưởng vốn của ngân hàng sẽ phải giảm, thậm chí có thể không có
tích luỹ.
Rủi ro cũng làm “tổn thương” đến uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Các
ngân hàng với mức độ rủi ro cao sẽ mất dần lòng tin của các đối tượng khách
hàng, sự lo lắng bắt đầu xuất hiện và như hệ quả tất yếu, khách hàng sẽ rút tiền và
những nguồn vốn khác có thể làm tăng chi phí và giảm tính ổn định của quá trình
sản xuất kinh doanh. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở mức phải
xoá nợ, giãn nợ hay đảo nợ có thể tạo ra những tiền tệ xấu trong quan hệ với ngân
hàng. Kế hoạch và nguồn tài chính của khách hàng bị đột ngột thay đổi, khách
hàng mất chủ động về trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và các nghĩa vụ
tài chính với đối tác bạn hàng, uy tín và hình ảnh của những doanh nghiệp cũng bị
giảm sút. Còn trong trường hợp ngân hàng phá sản, các doanh nghiệp sẽ mất vốn
tiền gửi và thậm chí có thể chịu chung số phận, phá sản theo.
1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh tế
Biểu hiện đầu tiên về hậu quả của rủi ro là sự tổn thất chung của toàn bộ
nền kinh tế do tốc độ chu chuyển hàng hóa và tiền tệ giảm. Như đã phân tích trên
đây, khi rủi ro xảy ra, cả ngân hàng và khách hàng – các cá nhân, doanh nghiệp và
toàn bộ nền kinh tế đều bị thiệt hại về nhiều mặt. Trên giác độ lý thuyết có thể
thấy rằng rủi ro trong hoạt động ngân hàng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất và
lưu thông hàng hoá mà còn gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với quá trình sản
xuất kinh doanh, cung – cầu hàng hóa và cuối cùng là làm mất đi sự ốn định và
khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Trên thực tế ở rất nhiều nước trên thế giới,
khi các ngân hàng gặp phải rủi ro thì hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội đã nảy
sinh và những giải pháp nhằm ổn định tình hình bao giờ cũng rất tốn kém và hậu
quả có thể còn để lại những di chứng trong thời gian dài, đặc biệt về mặt tâm lý
và lòng tin của công chúng. Ngoài ra, hậu quả của rủi ro còn gây ra làm giảm thấp
uy tín quốc gia, khả năng thu hút vốn nước ngoài và các quan hệ kinh tế đối ngoại
khác đều phải chịu những điều kiện khó khăn hơn.
Tóm lại, rủi ro tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trong khi đó
hậu quả rủi ro thực sự rất nguy hiểm nghiêm trọng đối với tất cả các chủ thể,
không chỉ trên giác độ tài chính mà còn tác động đến tất cả các mặt kinh tế –
chính trị – xã hội của nền kinh tế. Tùy theo mức độ phát triển, mở cửa và hội nhập
của nền kinh tế, hậu quả của rủi ro trong hoạt động ngân hàng còn có thể nghiêm
trọng hơn về mức độ và hành vi ảnh hưởng có thể không phải chỉ dừng lại ở một
quốc gia. Những phân tích trên đây cho thấy lý do tại sao các NHTM thành công
động chấp nhận và kiểm sóat rủi ro ở mức độ nhất định trong mối quan hệ với thu
nhập quản trị rủi ro là việc sử dụng hệ thống các biện pháp xác định và đo lường
rủi ro, lựa chọn và chấp nhận rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro để thực hiện các
quyết định kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu về hiệu quả và an toàn. Như
vậy nội dung và quy trình quản trị rủi ro bao gồm các bước có thể được phác họa
theo sơ đồ sau:
12
Nhận biết và
xác định rủi ro
Sơ đồ 1.1 : Quy
trình
quản
trị rủi
r
o
Phân tích đo
lường rủi ro
Lựa chọn về mức độ
và phạm vi tác động
của rủi ro
Kiểm soát và
quản lý rủi ro
Báo cáo đánh
giá về quản trị
rủi ro
Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro vì vậy cách tiếp
cận của quản lý rủi ro theo định hướng không chấp nhận những tài sản rủi ro, chỉ
lựa chọn những hoạt động kinh doanh của ngân hàng ở trạng thái rủi ro không thể
xảy ra là không phù hợp, không tiếp cận với tất cả các đối tượng khách hàng.
Quản lý rủi ro trên cả giác độ ngân hàng hay quản lý Nhà nước như trên đều rất
thích hợp, đặc biệt trong liên hệ với nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực quản trị
rủi ro.
Dựa trên những yếu tố phân tích trên đây về quản trị rủi ro chúng ta sẽ cố
gắng xây dựng một quan niệm có thể dễ dàng được chấp nhận hơn về năng lực
quản trị rủi ro của NHTM theo quy trình và nội dung của quản trị rủi ro đã được
khái quát trên đây như sau:
Bước thứ nhất của quy trình quản trị rủi ro là “nhận biết và xác định”
được các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong mỗi hoạt động kinh
doanh. Mặc dù là bước khởi đầu và không quá phức tạp song bước thứ nhất này
lại là điều kiện có nghĩa đối với mục tiêu và nội dung quản trị rủi ro. Ngân hàng
có khả năng nhận biết và xác định chính xác thì việc phân tích, đo lường, v.v…. ở
các bước tiếp theo mới thực sự có ý nghĩa và hiệu quả. Nhận biết và xác định rủi
ro đòi hỏi cán bộ không những phải có trình độ chuyên môn, tinh thầy trách
nhiệm mà còn cần có kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết để tập hợp được tất
cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng theo các tiêu thức khác nhau.
Như vậy năng lực quản trị rủi ro trước hết phải bao hàm Năng lực nhận biết và
xác định rủi
r
o.
Bước thứ hai Trong quy trình quản trị rủi ro là “phân tích và đo lường rủi
ro”. Phân tích và đo lường rủi ro là điều mà tất cả các nhà quản trị ngân hàng đều
rất quan tâm, vì đo lường chính xác chính là cơ sở cho các quyết định lựa chọn
danh mục tài sản cùng các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và chấp nhận rủi ro
một cách chủ động và hiệu quả. Đo lường và phân tích rủi ro trong hoạt động của
ngân hàng cần phải đạt được 2 yếu tố cơ bản và quan trọng nhất bao gồm: (1) khả
năng hay xác suất gặp phải rủi ro; và (2) mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. Bất kỳ
sai lệch (cao hơn hay thấp hơn) trong việc xác định khả năng và mức độ tổn thất
cũng đều làm mất đi tính chủ động và khả năng chấp nhận của ngân hàng gây
lãng phí và nghiêm trọng hơn khi tổn thất xảy ra trên thực tế lớn hơn mức đo
lường dự kiến. Do vậy, năng lực quản trị rủi ro của NHTM nhất thiết phải bao
cách có hiệu quả. Năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của một
NHTM phải được đánh giá đồng thời qua tất cả các bước có liên quan chặt chẽ
trong toàn bộ quy trình quản trị rủi ro và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu
định tính và định lượng ở nội dung tiếp sau đây.
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực quản trị rủi ro của
N
H
TM.
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
T
h
ứ
nh
ấ
t,
nhó
m
i
nhu
ậ
n
Tỷ số mức sinh lời trên doanh thu = tổng lợi tức sau thuế / doanh thu
thuần
(Chỉ tiêu này nói lên 1$ doanh thu tại ra bao nhiêu $ lợi nhuận)
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận ròng *100/ tổng tài
sản
(ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng)
Tỷ suất sinh lợi trên vốn thuần (ROE)= Lợi nhuận ròng*100 / vốn cổ phần
(ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả
năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.)
Các NHTM hiện đại và được đánh giá cao về khả năng quản trị rủi ro (10
ngân hàng đứng đầu trong các NHTM Mỹ năm 2002) luôn có tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở hữu từ 15-18% (New Basel II, 2004).
T
h
ứ
u
đo
l
ư
ờ
ng
k
h
ả
Khả năng thanh toán chung = Tổng tài sản có có thể thanh toán/ Tổng nợ
phải thanh toán.
Vốn hữu dụng = Vốn huy động - DTBB - DT Sơ cấp (TMặt, TG NHNN)
Hệ số khả năng trả lãi = lợi tức trước thuế và lãi / chi phí trả lãi
(Hệ số này đo lường mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho các chủ
nợ)
T
h
ứ
b
a
,
n
h
ó
m
ự
p
h
òng
r
ủi
r
o
v
o
th
ự
c
tế.
Công thức tính số tiền dự phòng như sau:
R = max {0, (A-C)} x r
trong đó, R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị khoản nợ
C: giá trị tài sản bảo đảm (nhân với tỷ lệ phần trăm do Quyết Định 493 quy
định đối với từng loại tài sản bảo đảm)
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ
trích lập dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm. Nếu giá trị tài
sản bảo đảm sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớn hơn giá trị khoản nợ, thì
số tiền dự phòng cũng bằng không có nghĩa là tổ chức tín dụng trên thực tế không
phải lập dự phòng cho khoản nợ đó (Theo Quyết định 493 và quyết định số
18/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung các quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động tín
ro thanh khoản một ngân hàng.
Tương tự như cơ cấu tài sản, sự đa dạng các khoản mục nguồn vốn phản
ánh khả năng và hiệu quả huy động vốn, đặc biệt là các hình thức huy động vốn
qua thị trường; vừa chủ động kịp thời mà chi phí vốn lại thấp.
- Cơ cấu của hoạt động ngân hàng bán buôn: Hoạt động ngân hàng bán
buôn giao dịch giữa các NHTM, các tổ chức tài chính khác kể cả ngân hàng
Trung ương với nhau. Hoạt động ngân hàng bán buôn phản ánh khả năng hoán
đổi tài sản cho nhau giữa các NHTM không chỉ đảm bảo thu nhập mà còn đảm
bảo khả năng kiểm soát về phạm vi và mức độ rủi ro của mọi ngân hàng qua đó
góp phần đảm bảo sự an toàn hiệu quả của cả hệ thống.
Các ngân hàng không bao giờ huy động sẵn một lượng tiền đủ lớn để chờ
đợi khách hàng đến vay, ngược lại sau khi cho vay cũng sẽ không cho thụ động
trông chờ khả năng thu nợ duy nhất từ khách hàng, kể cả việc phong tỏa tài sản
bảo đảm hay khởi kiện khách hàng. Trái lại, tham gia các hoạt động buôn bán và
kết hợp giữa các hoạt động buôn bán và bán lẻ, các ngân hàng sẽ luôn giao dịch
mua bán hay hoán đổi tài sản, nguồn vốn với nhau thông qua thị trường liên ngân
hàng để vừa có chi phí thấp, tổn thất rủi ro thấp tức là khả năng quản trị rủi ro
cao.
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định tính
T
h
ứ
nhất:
qu
ả
n
t
r
ị
r
ủ
i
trị rủi ro đã được thiết lập song lại do chính những cán bộ tín dụng thực hiện hoặc
đặt ở vị trí trực thuộc phòng tín dụng, cho nên, tình trạng “vừa thổi còi, vừa đá
bóng” là khó tránh khỏi. Để đạt doanh số cho vay cao trong hoạt động, đặc biệt
trong trường hợp khoán lương, một số loại rủi ro tiềm ẩn có thể bị xem nhẹ hoặc
dễ dàng bỏ qua một cách rất chủ quan để đạt mức khoán và lương cao. Hơn nữa,
rủi ro xảy ra trong tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho nên quản trị
rủi ro là hoạt động cần thiết đối với tất cả các hoạt động đó, không chỉ là đối với
riêng hoạt động tín dụng. Điều này cho thấy không thể đánh giá một ngân hàng có
năng lực quản trị cao khi vắng thiếu bộ phận chức năng quản trị rủi ro độc lập.
Biện pháp đánh giá năng lực quản trị rủi ro theo chỉ tiêu này thông thường là xây
dựng thang chấm điểm cho các yếu tố cấu thành của bộ phận chức năng quản trị
rủi ro và mức độ khách quan, độc lập.
T
h
ứ
h
a
i,
c
h
do
a
nh
v
à
chọn
l
ự
a
r
h
à
n
g
Chiến lược kinh doanh được cụ thể hóa bằng các chính sách, kế hoạch,
mục tiêu, định hướng và các văn bản khác có liên quan của ngân hàng . Thông
qua văn bản này, chúng ta có thể đánh giá về tính tính cực chủ động trong việc
thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và “thái độ” của ngân hàng đối với
rủi ro. Một NHTM với khả năng quản trị rủi ro yếu kém sẽ luôn tập trung vào
những hoạt động kinh doanh thông qua các nghiệp vụ và khách hàng “truyền
thống an toàn”. Việc lựa chọn hoạt động kinh doanh và khách hàng sẽ theo những