Xây dựng mô hình quản lý chất lượng giống cây thuốc - Pdf 13


Bộ Y tế

Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ

Tên đề tài:
Xây dựng mô hình quản lý chất lợng
giống cây thuốc

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thuận
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dợc liệu
Mã số đề tài: 6813
17/4/2008

Năm 2007 II
Bộ Y tế

1. Tên đề tài: Xây dựng mô hình quản lý chất lợng giống cây thuốc
2. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thuận
3. Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dợc liệu
4. Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Y tế
5. Th ký đề tài:
6. Phó chủ nhiệm đề tài:
7. Danh sách những ngời thực hiện chính:
1. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Văn Thuận; Phụ trách cây lão quan thảo
2. ThS. Lê Khúc Hạo; Phụ trách cây mớp đắng, bán hạ
3. ThS. Nguyễn Thị Hoà; Phụ trách cây nhân trần
4. TS. Phạm Văn ý; Phụ trách cây kim tiền thảo, hơng nhu tía
5. ThS. Nguyễn Thị Th; Phụ trách cây sả hoa hồng, mã đề
6. ThS. Phạm Xuân Luôn; Phụ trách cây ba kích, sả
7. ThS. Nguyễn Xuân Trờng; Phụ trách cây trạch tả
8. PGS. TS. Đoàn Thị Thanh Nhàn, ThS. Trần Thị Liên; Phụ trách cây cúc
hoa vàng
9. KTV. Hoàng Văn Định; Phụ trách cây huyền sâm
10. KTV. Phan Thị Sang; Phụ trách cây dừa cạn
11. ThS. Nguyễn Thị Tuấn; Phụ trách cây hoài sơn
12. KS. Đinh Văn Mỵ; Phụ trách cây cúc gai dài
13. KS. Phạm Thị Lợt; Phụ trách cây địa liền
14. KTV. Đào Mạnh Hùng; Phụ trách cây húng quế
15. ThS. Trần Danh Việt; Phụ trách cây diệp hạ châu
16. ThS. Trịnh Thanh; Phụ trách cây ích mẫu
8. Các nhánh của đề tài:
9. Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 10 năm 2003 đến tháng 10 năm 2006

IV
Nh÷ng ch÷ viÕt t¾t


4.14. Cây húng quế 105
4.15. Cây diệp hạ châu 110
4.16. Cây kim tiền thảo 114
4.17. Cây lão quan thảo 120
4.18. Cây trạch tả 126

VI
4.19. Cây ích mẫu 132
4.20. Cây ba kích 135
5. Xây dựng mô hình quản lý chất lợng giống cây thuốc 140
1. Mạng lới các cơ sở nghiên cứu về giống cây thuốc hiện
có của ngành Y tế
141
2. Một số thành quả về công tác giống cây thuốc trong thời
gian qua
143
3. Định hớng phát triển công tác giống cây thuốc 144
Dự thảo quy định tạm thời về quản lý chất lợng giống cây
thuốc
148
Phần I
Những quy định chung
148
Phần II
Quản lý và sử dụng nguồn gen và giống cây thuốc
149
Phần III
Tuyển chọn, khảo nghiệm, xét duyệt và công nhận giống
150
Phần IV

7.1. Về tiến độ thực hiện: Do đề tài có đối tợng nghiên cứu là cây trồng. Một
số cây đến tháng 12 hàng năm mới thu hoạch nh cúc hoa vàng, dừa cạn,
huyền sâm nên đề tài đã làm đơn xin gia hạn và đã đợc Vụ Khoa học và
Đào tạo Bộ Y tế đồng ý.
7.2. Về mức độ hoàn thành khối lợng công việc: Đề tài luôn luôn bám sát nội
dung mà đề cơng đã đợc duyệt
- Chọn giống cho 20 loại cây thuốc: Sả hoa hồng, mã đề, dừa cạn, mớp đắng,
hoài sơn, địa liền, diệp hạ châu, hơng nhu tía, cúc gai dài, ba kích, ích mẫu,
cúc hoa vàng, nhân trần, lão quan thảo, trạch tả, bán hạ, húng quế, huyền sâm,
kim tiền thảo và sả.
- Xây dựng quy trình sơ bộ sản xuất giống cho 20 loài cây thuốc.
- Xây dựng tiêu chuẩn giống cho 20 loại cây thuốc nói trên
- Đề xuất mô hình chọn lọc giống cây thuốc và quy định tạm thời về quản lý
chất lợng giống cây thuốc.
7.3. Về yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN:
20 giống mới chọn lọc có những tính trạng u việt hơn giống cũ cha chọn
lọc, nh năng suất dợc liệu, chất lợng dợc liệu
Đề xuất mô hình chọn giống cây thuốc có cơ sở khoa học và thực tiễn
trong công tác giống cây thuốc hiện nay và tơng lai.
7.4. Tình hình sử dụng kinh phí:
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng)

2
Trong đó:
Kinh phí sự nghiệp khoa học: 300 triệu đồng
Kinh phí từ nguồn khác: 0 triệu đồng
Kinh phí đã đợc thanh quyết toán: 300 triệu đồng
Kinh phí cha quyết toán: 0 đồng
8. Về những đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã đợc công bố trên các ấn

nông sản. Những cố gắng và tiến bộ vừa qua trong công tác nghiên cứu, bồi dục,
thuần hoá, lai tạo giống cây trồng đã góp phần làm tăng năng suất và sản lợng
nông nghiệp đang mở ra khả năng bố trí lại cơ cấu cây trồng và cải tiến chế độ
canh tác ở các vùng.
Cùng với sự phát triển của công tác giống cây trồng nông nghiệp nói chung,
trong 40 năm qua ngành Y tế đã có rất nhiều cố gắng trong công tác nhập nội, khu
vực hoá, chọn tạo, sản xuất và phân phối hàng chục loại giống cây thuốc để cung
cấp cho các vùng sản xuất dợc liệu trong cả nớc, góp phần vào sự nghiệp phòng
chống bệnh tật chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đáp ứng một phần nhu cầu về
dợc liệu dùng trong nớc và bớc đầu đã tham gia xuất khẩu. Chỉ tính riêng từ
năm 1980 trở lại đây Viện Dợc liệu đã nghiên cứu chọn tạo, xây dựng tiêu chuẩn
giống, sản xuất đợc nhiều loại giống tốt cung cấp cho sản xuất nh giống đơng
quy (Angelica acutiloba Kitagawa); bạch chỉ (Angelica dahurica Benth et Hook);
ngu tất (Achyranthes bidentata L.); bạc hà (Mentha arvensis L.); củ nêm
(Dioscorea floribunda L.); thanh cao (Artemisia annua L.) Trong khuôn khổ đề
tài "Xây dựng mô hình quản lý chất lợng giống cây thuốc" 20 cây thuốc quan
trọng: sả hoa hồng (Cymbopogon martinii Staff.); mã đề (Plantago major L.); dừa
cạn (Catharanthus roseus (L.) G. Don.); mớp đắng (Momordica charantia L.);
hoài sơn (Dioscorea persimilis Prain et Burk.); địa liền (Kaempferia galanga
L.);
diệp hạ châu (Phyllanthus amarus L.); hơng nhu tía (Ocimum sanctum L.); cúc
gai dài (Silybum marianum L.); sả: (Cymbopogon citratus DC. Stapf.); ba kích
(Morinda officinalis How.); ích mẫu (Leonorus heterophylus L.); cúc hoa vàng
(Chrysanthemum indicum L.); nhân trần (Adenosma glutinosum (L.) Druce.)); lão
quan thảo (Geranium nepalense Sweet.); trạch tả (Alisma plantago-aquatica L.);
bán hạ (Typhorinum trilobatum (L.) Schott.); húng quế (Ocimum basilicum L.);
huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl.) và kim tiền thảo (Desmodium

4
styracifolium (Osb.) Merr.) đã đợc nghiên cứu chọn tạo giống, xây dựng tiêu

2. Tổng quan tài liệu
2.1. Vật liệu khởi đầu
Trong công tác chọn giống, tập hợp vật liệu khởi đầu có vai trò hết sức
quan trọng. Để tạo ra giống mới cần sử dụng các dạng rất khác nhau của cây
trồng và cả cây hoang dại thông qua các phơng pháp chọn giống thích hợp.
Các dạng cây trồng có thể là giống địa phơng, giống đợc tập hợp từ nhiều
vùng sinh thái khác nhau, các dạng cây dại cùng chi với cây trồng đợc thu
thập từ nhiều nơi trên thế giới. Nh vậy nguồn gen trong chọn giống là những
cây dại hay cây trồng đợc nhà chọn giống sử dụng để tạo ra giống mới bằng
các phơng pháp chọn giống thích hợp [3]
Nguồn gen phong phú là nguồn nguyên liệu mà nhà chọn giống sử
dụng thông qua các phơng pháp chọn giống để sáng tạo ra các sản phẩm của
mình là giống cây trồng. Nguồn nguyên liệu này càng đa dạng phong phú và
càng đầy đủ thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sáng tạo của nhà
chọn giống. Để việc thu thập, nghiên cứu và sử dụng nguồn gen thực vật đợc
thuận lợi, dễ dàng và chính xác thì công tác quỹ gen phải đợc xây dựng trên
cơ sở các lý luận khoa học vững chắc. [4]
Theo Vavilov do sự phát tán của các loại hình trong một loài ở địa
phơng này kiểu gen này chiếm u thế ở địa phơng khác lại có kiểu gen
khác hoạt động mạnh hơn. Kết quả hoạt động của kiểu gen sau khi tơng tác
với môi trờng xung quanh sẽ cho một loại hình tơng ứng. Đó là kiểu gen
hay loại hình sinh thái địa lý (eco- geographic type) trong giới hạn của một
loài. Các loại hình sinh thái đặc trng là các kiểu gen đặc trng. Khi thu thập
nguồn gen cho chọn giống cần hết sức chú ý các loại hình sinh thái địa lý [7]
2.2. Xác định đúng phơng pháp chọn tạo giống
2.2.1.Phơng thức sinh sản:
Phơng thức sinh sản quyết định điều kiện di truyền của cây trồng, nghĩa
là những cây bình thờng đồng hợp tử hay dị hợp tử. Điều kiện này trở lại quyết

6

Cây kim tiền thảo
Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb.) Merr.) đang đợc
nghiên cứu trồng ở một số nơi. Cây đợc nhân giống bằng hạt. Hạt kim tiền
thảo chín vào tháng 9-10. Khi quả chín vàng, thu về phơi khô, đập lấy hạt, bảo
quản đến tháng 2-3 đem gieo ở vờn ơm, rồi đánh cây con đi trồng. Cũng có
thể gieo thẳng theo rạch rồi tỉa bớt, định khoảng cách.
Ngoài đất đồi núi, bớc đầu thấy có thể trồng kim tiền thảo trên nhiều
loại đất ở đồng bằng. Đất cao ráo, thoát nớc, không bị úng ngập là tốt. Đất
cần đợc cày bừa, lên thành luống cao 20-25cm, mặt luống rộng tuỳ ý.
Cây trồng hoặc gieo thẳng đều giữ khoảng cách từ 30 x30 cm đến 30 x
40cm. Trớc khi trồng nên bón lót cho mỗi hecta 10 - 15 tấn phân chuồng.
Sau khi trồng, cần tới đủ ẩm, làm cỏ, xới xáo vài ba lần, đến khi cây bò lan
phủ kín mặt luống. Cũng thời gian này, cần bón thúc cho mỗi hecta 150 -
200kg urê, chia làm 3 lần để tới.
Kim tiền thảo ít bị sâu bệnh. Sau khi thu hoạch có thể dùng phân mục,
tro bếp, đất bột, phủ lên mặt luống, sang xuân từ gốc lại mọc lên chồi mới.
Kim tiền thảo là cây hàng năm thuộc họ đậu đỗ, có thể mọc cao tới
75cm. Hoa lỡng tính và thụ phấn nhờ côn trùng. Kim tiền thảo có khả năng
cố định đạm, thích hợp trồng trên hầu hết các loại đất, đòi hỏi đất ẩm nhng
phải thoát nớc tốt. Cây a sáng nên không thể trồng ở nơi bị che bóng. [2]
Theo kinh nghiệm trồng kim tiền thảo ở Australia, hạt kim tiền thảo
nên đợc gieo càng sớm càng tốt ngay sau khi quả chín. Chà xát hạt và ngâm
qua nớc ấm rồi ủ trong 5 giờ. Hạt đợc gieo tốt nhất vào tháng 3, thời gian
nảy mầm trong vòng 1-4 tháng sau khi gieo ở 25
o
C. Kim tiền thảo thờng
đợc trồng ra ruộng vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè, thu rễ vào mùa
đông. [17]

8

9
Cây trồng một lần có thể thu hoạch trong nhiều năm. Sau mỗi lần thu
hoạch, cần vệ sinh đồng ruộng, bón thúc phân. Đối với sả hoa hồng, khi cây
bắt đầu ra hoa, cắt hết phần thân lá để dùng, để lại 20-30cm gốc, thu gom cỏ,
rác và thân lá rơi vãi rải lên mặt luống, phơi khô rồi đốt. Đối với các loài
khác, thu lá làm nhiều lứa, mỗi lứa cách nhau chừng 40-50 ngày. Cần thu
hoạch vào những ngày nắng ráo, thu xong nên cất lấy tinh dầu ngay. Nếu cất
không kịp, có thể tãi mỏng ở nơi râm mát trong 1-2 ngày.
Sả (Cymbopogon citratus) có thể đợc trồng trong điều kiện tiếp xúc hoàn
toàn với ánh nắng mặt trời hoặc hơi che bóng, đất trồng đủ ẩm và thoát nớc tốt.
Cây đợc nhân giống bằng cách tách nhánh vào mùa xuân hoặc mùa thu. [2]
Quiala và cộng sự (2006) lần đầu tiên nghiên cứu sản xuất in vitro sinh
khối sả trong hệ thống ngâm tạm thời (TIS). Tác động của tần suất ngâm (2, 4
và 6 lần một ngày) đến việc sản xuất sinh khối sả trong hệ thống ngâm công
suất 1 lit đã đợc đánh giá. Hệ số nhân sinh khối cao nhất đạt đợc ở công
thức ngâm 6 lần 1 ngày. Trọng lợng tơi tối đa đạt đợc ở 4 lần ngâm 1 ngày
là 62,2g và 6 lần ngâm 1 ngày là 66,2g. Tuy nhiên, trọng lợng khô và chiều
cao ở công thức ngâm 4 lần 1 ngày lại lớn hơn 6 lần 1 ngày.
Sả chịu rét kém nhng do ngủ nghỉ vào mùa đông nên ít khi bị thiệt hại
do thời tiết lạnh. Sả chịu nóng rất tốt miễn là có đủ nớc tới. Đối với sả, biện
pháp tới ngấm có hiệu quả. Cần tới nhiều vào mùa hè, mùa đông cây ngủ
nghỉ nên cần rất ít nớc. [26]
Cây sả hoa hồng
Sả hoa hồng (Cymbopogon martinii Staff.) có nguồn gốc từ ấn Độ.
Năm 1982 Phạm Kim Mãn và Phạm Văn Hiển đã nhập nội giống sả hoa hồng
từ Viện nghiên cứu cây thuốc và cây tinh dầu Trung ơng Lucknow ấn Độ.
Hầu hết các nghiên cứu sâu về sả hoa hồng đều xuất phát từ ấn Độ vì tinh dầu
sả hoa hồng có rất nhiều ứng dụng trong hơng liệu, mỹ phẩm, làm thuốc và
trong các lễ nghi tôn giáo tại đây.


Mã đề (Plantago major L.) đợc gieo trồng bằng hạt. Hạt mã đề nhỏ
(1g có chừng 600 - 610 hạt), đợc gieo nông 0,5cm vào tháng 2-3. Có thể gieo
thẳng hoặc gieo trong vờn ơm rồi đánh cây con đi trồng. Trong sản xuất,
ngời ta thờng áp dụng gieo trong vờn ơm, khi cây con có 3-4 lá thật, đem
trồng ra ruộng. Đất vờn ơm cần làm thật tơi, nhỏ, hạt gieo vãi, ủ rơm rạ rồi
tới ẩm. Sau 7-10 ngày cây mọc, thì dỡ ra. Cây con chỉ sống trong vờn ơm
trong một thời gian ngắn nên không cần bón phân lót để tránh giun, dế phá
hoại. Nên chọn đất xốp nhẹ, để làm vờn ơm, khi nhổ cây con sẽ thuận lợi.
Đất trồng mã đề tốt nhất là đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất trồng màu.
Ruộng cần đợc cày bừa kỹ, để ải, lên luống sao cho tiện chăm sóc, bón lót
10-15 tấn phân chuồng, 250-300kg lân, 150kg kali cho mỗi hecta. Cây con
đợc trồng với khoảng cách 20x20cm hoặc 15x 20cm. Cũng có thể gieo thẳng
theo rạch, cách nhau 15-20 cm, sau tỉa bớt để định khoảng cách. Thờng
xuyên làm cỏ, xới xáo, tới đủ ẩm. Sau khi cây bén rễ, dùng nớc phân
chuồng, nớc giải pha loãng hoặc đạm (1-2%) để tới. Nếu chăm sóc tốt, sau
2 tháng trồng có thể thu hoạch lứa đầu tiên. Về sau, cứ 40-45 ngày, thu một
lứa. Sau mỗi lứa cắt cần làm cỏ, bón thúc 1-2 lần. Khi thu hoạch, dùng liềm
cắt toàn bộ hoa, lá (chú ý không cắt búp cây) đem phơi hay sấy khô. Thu xong
phải phơi hoặc sấy khô kịp thời, sao cho khi khô dợc liệu vẫn giữ đợc màu
xanh. Năng suất dợc liệu có thể đạt 5 tấn dợc liệu khô trên 1ha trong một
năm. [2]
Giống mã đề đang đ
ợc trồng đại trà hiện nay khá mẫn cảm với bệnh
phấn trắng (Oidium sp.). Bệnh hại cả lá, cuống lá và bông nhng gốc cây và lá
non ít bị ảnh hởng. Có thể khắc phục bằng cách thu bỏ lá già và bông rồi
phun Daconil 75 WP với liều 1,5- 2,0kg/ha hoặc Tilt với liều 1lít/ha. Sau khi
phun cần đảm bảo thời gian cách ly theo quy định. Ngoài ra, các loài sâu đo
cũng gây hại đáng kể đối với mã đề.

12

toàn bộ thân lá đem phơi khô hoặc băm nhỏ rồi phơi khô. Tiếp tục chăm sóc,
cây lại tái sinh. Mỗi lứa cắt có thể thu đợc 7-10 tấn thân lá tơi trên 1ha. [1]

13
Cây huyền sâm
Huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl.) thích nghi rộng rãi với
nhiều vùng khí hậu, đất đai và phân bón. Cây đợc nhân giống bằng hạt. Hạt
đợc gieo vào tháng 10-11 ở đồng bằng và trung du, hoặc tháng 2-3 ở miền
núi. Có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vờn ơm rồi đánh cây con đi trồng.
Gieo thẳng tốn công chăm sóc nhng củ ít nhánh, có giá trị thơng phẩm cao
hơn gieo vờn ơm. Cả 2 cách đều đợc áp dụng trong sản xuất, tuỳ điều kiện
và tập quán ở từng nơi. Mỗi hecta gieo trồng cần khoảng 1kg hạt giống.
Khi gieo thẳng thờng gieo thành rạch cách nhau 30 cm để tiện chăm
sóc. Khi cây mọc, tỉa định cây, giữ lại khoảng cách giữa các cây từ 10-20cm.
Nếu gieo trong vờn ơm thờng gieo vãi. Đất gieo hạt cần làm nhỏ, chú ý
chống kiến, giun, dế phá hoại. Nếu thời tiết thuận lợi, hạt nảy mầm chỉ sau 4-
6 ngày. Khi cây con có 6-8 lá thật, cao 7-10cm, đánh đi trồng. Cây con
thờng trồng với khoảng cách 30x30cm hoặc 30x40cm. [2]
Đất trồng huyền sâm cần bố trí ở nơi cao ráo, thoát nớc, nhiều mùn.
Đất pha cát, đất thịt nhẹ không bị úng ngập ở đồng bằng hoặc đất có tầng đất
mặt dày, màu mỡ ở miền núi rất thích hợp để trồng huyền sâm. Sau khi cày
bừa kỹ, ở đất bằng cần lên luống để dễ thoát nớc, ở chỗ đất dốc có thể trồng
thành vạt hoặc theo đờng đồng mức. Là cây có củ, huyền sâm cần đợc bón
lót 15-20 tấn phân chuồng, 300-400kg supe lân, 100-150kg sulfat kali hoặc
tro bếp.
Ruộng huyền sâm phải thờng xuyên đảm bảo đủ ẩm, đất tơi xốp và
sạch cỏ. Cứ 20-25 ngày, làm cỏ xới xáo kết hợp bón thúc một lần. Mỗi lần bón
thúc dùng 50kg urê để tới cho 1ha. Cũng có thể dùng phân nớc hoặc nớc
giải để thay thế một phần hoặc toàn bộ lợng phân đạm. Khi cây cao 50-60cm,
cần chú ý ngắt bớt mầm, tỉa cành để tập trung chất dinh d

ờn ơm có thể bị nấm Phytophthora làm cho chết hàng loạt. Cần tỉa
bớt cho đất thoáng và phun phòng bằng Bordeaux.
Sau trồng 3-4 tháng, cây cho thu hoạch. Cành mang lá dài 10-15 cm
đợc cắt về phơi hay sấy khô. ở đất thoát nớc và chăm bón tốt có thể thu

15
hoạch nhiều lứa. Trung bình, 1ha thu đợc 1-1,2 tấn lá khô mỗi lứa. Còn thu
rễ để chiết ajmalicin. [1], [2], [5]
Dừa cạn đợc biết đến là cây a khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Lata
và Barbara (2007) đã nghiên cứu các yếu tố khí hậu, đất, nhân giống, gieo hạt,
bón phân, tới nớc và thời điểm thu hoạch đối với cây dừa cạn. Kết quả cho
thấy dừa cạn cũng có thể trồng đợc ở vùng ôn đới tuy nhiên cần đặc biệt
quan tâm đến 3 yếu tố nhiệt độ, độ ẩm không khí và độ ẩm đất. Đây là 3 yếu
tố rất quan trọng đối với giai đoạn phát triển và hình thành hạt dừa cạn. [22]
Bowman (2000) đã nghiên cứu chọn giống và tìm ra đợc phơng pháp
sản xuất con lai dừa cạn F1 từ cây mẹ không có khả năng tự thụ. Phơng pháp
này tận dụng alen đột biến hạn chế quá trình hình thành hạt phấn ở dừa cạn
trong khi cây vẫn có khả năng sinh sản nhờ thụ phấn với cây khác. Cá thể dừa
cạn có gen đột biến này sẽ không có khả năng tự thụ và có thể đợc sử dụng
làm cây mẹ để tạo hạt con lai F1 với các tính trạng u việt. [29]
Dừa cạn là cây thuốc có giá trị chứa các alkaloids có tác dụng chống
bệnh ung th và cao huyết áp. Các tác giả ở Viện nghiên cứu cây thuốc ấn Độ
đã nghiên cứu tạo ra 3 giống dừa cạn đột biến, hai giống có hàm lợng
alkaloid trong rễ cao (23% cao hơn giống bố mẹ) và một giống có hàm lợng
alkaloid trong lá cao (21% cao hơn giống bố mẹ). Các tính trạng đột biến trên
đều do các gen lặn quy định. [20], [34]
Cây cúc hoa vàng
Cúc hoa vàng (Chrysanthemum indicum L.) hiện đợc trồng ở nhiều nơi,
nhất là ở các làng hoa gần các thành phố lớn nh Hà Nội , Hải Phòng, Nam Định
Cây chủ yếu đợc nhân giống bằng phơng pháp vô tính. Trớc đây

Cây hoài sơn
Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et Burk.) có thể trồng ở miền núi,
trung du và đồng bằng. Đất trồng cần màu mỡ, tầng canh tác 20-30cm trở lên,
ẩm xốp. Không nên trồng củ mài ở đất thịt nặng, úng nớc.

17
Củ mài đợc nhân giống bằng rễ củ hoặc dái mài. Khi thu hoạch, chọn
những củ có kích thớc trung bình, vỏ nhẵn, màu sáng, thẳng, không sâu bệnh
để làm giống. Tốt nhất là dùng đoạn đầu rễ, nhng cũng có thể sử dụng cả
phần dới (toàn bộ rễ củ), cắt thành những đoạn dài 5-7cm, chấm tro ngay
hoặc để trong râm mát cho se mặt vết cắt. Sau đó, trồng ngay hoặc ủ mầm
trong cát ẩm. Nếu ủ mầm rải cát dày 2-3cm, xếp một lớp củ giống rồi phủ lên
trên một lớp cát. Có thể xếp 2-3 lớp nh vậy. Sau 7-10 ngày các đoạn rễ củ sẽ
nảy mầm và đem trồng. Chú ý đoạn đầu rễ nẩy mầm nhanh hơn cần xếp riêng.
Cha có số liệu so sánh về năng suất giữa cây trồng bằng đoạn đầu rễ với cây
trồng bằng các đoạn rễ dới. Còn có thể giâm giống bằng dái mài. Khi thu
hoạch, chọn những dái mài có đờng kính 1,5-2,0cm để làm giống. Cách ủ
mầm cũng tiến hành nh trên. Nhân giống bằng dái mài thuận tiện cho việc
vận chuyển, bảo quản và tận thu đợc nguyên liệu nhng thờng cho củ nhỏ
hơn. Mùa trồng củ mài tốt nhất vào tháng 2-3 (sau tết âm lịch). [1], [2]
Đất trồng cần cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống cao 30-35cm, mặt
luống rộng 50-60cm. Bổ hốc 2 hàng so le với khoảng cách 30x35cm và bón
phân theo hốc. Mỗi hecta bón 20-30 tấn phân chuồng, 150-200kg supe lân và
75-100kg kali. Trộn đều phân với đất rồi trồng mỗi hốc một hom giống ở độ
sâu 5-7cm, nên phủ rơm rạ hoặc cỏ khô lên mặt luống để giữ ẩm và hạn chế
cỏ dại. Cần tới nớc ẩm ngay và thờng xuyên trong thời gian đầu để giúp
cây mọc nhanh. Khi cây lên khỏi mặt đất, cần cắm que kịp thời cho cây leo.
Giàn leo có thể làm theo kiểu mái nhà hoặc giàn phẳng. Cần giữ cho ruộng
luôn sạch cỏ và tơi xốp. Nếu khô hạn, chú ý tới nớc. Từ tháng 5 đến tháng
9, dùng nớc phân chuồng hoặc nớc bón thúc cho cây, mỗi tháng một lần. Củ

nhiều vùng quê và thành phố, nhất là đất trồng rau màu.
Mớp đắng đợc gieo trồng bằng hạt. Hạt lấy ở quả ra đợt đầu, để thật
già, phơi khô, bảo quản trong lọ kín đến mùa xuân năm sau (tháng 2-3) đem
gieo. Có thể gieo thẳng hoặc gieo ơm, sau đánh cây con đi trồng.
Nếu trồng quy mô nhỏ, chỉ cần chọn một ô đất 0,5m
2
, trộn phân chuồng
và gieo 4-5 hạt hoặc trồng 4-5 cây con. Về sau tỉa bớt, để lại 2-3 cây khoẻ

19
nhất. Giàn leo thờng làm theo kiểu giàn phẳng với diện tích khoảng 10-15m
2
,
cao 1,8-2,0m.
Nếu trồng trên quy mô lớn, cần cày bừa kỹ, để ải, vơ sạch cỏ, lên luống
cao 30-35 cm, rộng 70-90 cm. Trớc khi trồng, bón lót cho mỗi hecta 10-15
tấn phân chuồng, 200-250 kg lân, 100-150 kg kali. Mỗi luống trồng hai hàng
so le, cách nhau 45-50cm, cây nọ cách cây kia 1,0-1,2m. Giàn thờng cắm
theo hình chữ A dọc theo luống. Hàng tháng, dùng phân đạm pha loãng (2%)
để bón thúc cho cây 1-2 lần. Nhân dân thờng dùng phân bắc ngâm thật hoai
để tới rất tốt. Cần thờng xuyên tỉa bớt lá già, bấm ngọn để kích thích cây ra
chồi. Mớp đắng cho quả vào mùa thu. Hái lúc quả ngừng lớn nhng còn non,
không để quá già.
Mớp đắng đợc trồng rộng rãi ở Trung Quốc, ấn Độ và các nớc
Đông Nam á. Mớp đắng cũng đợc trồng rải rác ở Mỹ, tập trung chủ yếu ở
California và Florida. Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề chọn giống
mớp đắng phần lớn đợc tiến hành ở ấn Độ và các nớc Châu á. Hiện có rất
nhiều giống mớp đắng khác nhau về kích thớc, hình dạng quả, năng suất
chất lợng quả và tính chống chịu bệnh. [8], [9]
Cũng giống nh các cây họ bầu bí khác, mớp đắng sinh trởng phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status