Mục lục Đồ án tốt nghiệp
MỤC LỤC
NGUYỄN VĂN TOÀN – K46 1
Danh mục các bảng biểu,hình vẽ Đồ án tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục các từ viết tắt Đồ án tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông.
BGTVT : Bộ Giao thông vận tải.
CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
GTCC : Giao thông công chính
GTNT : Giao thông nông thôn.
GTVT : Giao thông vận tải.
GTVTĐT : Giao thông vận tải đô thị.
NHTG : Ngân hàng thế giới.
QH&QLGTVT : Quy hoạch và quản lý giao thông vận tải.
QLDA : Quản lý dự án.
KTTC : Kỹ thuật thi công.
KCHT : Kết cấu hạ tầng.
Tp : Thành phố.
VTHK : Vận tải hành khách.
VTHKCC : Vận tải hành khách công cộng.
Danh mục các từ viết tắt Đồ án tốt nghiệp
Mở đầu Đồ án tốt nghiệp
Mở đầu
1. Đặt vấn đề.
Cùng với sự phát triển của xã hội hiện nay, thì nhu cầu đi lại của người dân ngày càng tăng.
Tình hình phát triển giao thông ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng còn nhiều vấn đề bất
cập. Hà Nội là thủ đô của cả nước, là nơi tập trung nhiều cơ quan đầu não và nhiều trường đại học
lớn. Vì thế tình trạng quá tải ách tắc giao thông thường xuyên xảy ra.
2020 để lựa chọn phương tiện cho tuyến.
NGUYỄN VĂN TOÀN 5
Mở đầu Đồ án tốt nghiệp
3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu
- Giải quyết nhu cầu đi lại của người dân trên tuyến làm sao : Nhanh chóng, thuận tiện và an
toàn.
- Đồng thời cũng giải quyết một phần giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông và ô nhiễm môi
trường trong đô thị
- Tiết kiệm chi phái cho xã hội.
Tạo thói quen sử dụng phương tiện VTHKCC cho người dân ở khu vực ngoại ô thành phố.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định hiện trạng hệ thống vận tải HKCC trong đô thị
- Thu thập các thông tin số liệu về nhu cầu đi lại của người dân trên tuyến.
- Dự báo nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến.
- Dựa vào dự báo luồng hành khách từ năm 2010 tới năm 2015 để xác định phương tiện vận tải
cho từng giai đoạn.
4. Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1. Thu thập dữ liệu sẵn có
Sách giáo khoa, quy trình kĩ thuật về quy hoạch và quản lý giao thông vận tải.
Các văn bản có liên quan đến quy hoạch giao thông đô thị.
Các nghiên cứu đã có về quy hoạch tuyến VTHKCC bằng xe buýt.
1.4.2. Thu thập dữ liệu tại hiện trường
- Điều tra nhu cầu đi lại của người dân ở các Phường ( xã) các con đường mà tuyến chạy qua
- Khảo sát hiện trạng mạng lưới đường mà tuyến chạy qua.
- Điều tra khảo sát các cơ quan, doanh nghiêp, trường học các diểm tập trung lượng hành khách
lớn… trên đường mà tuyến chạy qua.
1.4.3. Xử lý và phân tích dữ liệu
- Sử dụng autocad, máy ảnh để minh hoạ tuyến đường, các điểm đỗ dọc đường, hành trình của
ở Hà Nội cũng có 1 số làn đường dành riêng cho xe buýt : Nguyễn Trãi,Yên Phụ….
- Khai thác và điều hành dễ dàng chạy theo lịch trình cụ thể, nếu có thay đổi về lịch
trình chạy xe điều chạy xe điều chỉnh dễ dàng và có thể thay đổi nếu bị hỏng giữa
đường trong 1 thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến lộ trình của tuyến.
- Có thể thông qua luồng hành khách biến động về thời gian và không gian để có
biểu đồ chạy xe hợp lý và loại xe phù hợp với dòng vận chuyển của hành khách.
- Vận tải xe buýt cho phép phân chia nhu cầu đi lại trong các tuyến phố khác nhau
chạy theo lịch trình phù hợp cũng như cơ cấu tính chất của từng loại đường để điều tiết
mật độ một cách hợp lý nhất.
- Có chi phí đầu tư là vừa phải và thấp hơn chi phí cho vận tải đường sắt là khá
nhiều vì có thể sử dụng luôn bằng đường bộ. Trong khi đó nhà nước đã có nhiều chính
sách đầu tư ưu đãi cho VTHKCC bằng xe buýt cũng như giá thành vận chuyển của
hành khách là tương đối thấp và phù hợp với thu nhập của đại đa số người dân.
NGUYỄN VĂN TOÀN
7
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
* Nhược điểm của VTHKCC bằng xe buýt
- Năng suất vận chuyển, tốc độ khai thác còn thấp.
- Khả năng thông qua vào giờ cao điểm còn hạn chế.
- Hệ thống thông tin ở các bến bãi còn hạn chế.
- Xe buýt sử dụng nhiều nhiên liệu là xăng và dầu diezen nên không mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
- VTHKCC bằng xe buýt còn hạn chế về tiếng ồn và chấn động.
Tuy nhiên, vận tải xe buýt vẫn là loại hình vận tải thông dụng nhất trong hệ thống
VTHKCC. Nó đóng vai trò chủ yếu trong vận chuyển hành khách ở những vùng đang
phát triển của thành phố, những khu vực trung tâm và đặc biệt là những khu phố cũ,
Phố cổ…
chuyển xác định. Tuyến VTHKCC bằng xe buýt là 1 phần của mạng lưới giao thông
thành phố được trang bị cơ sở vật chất chuyên dụng như : Nhà chờ, biển báo… để tổ
chức các hành trình vận chuyển bằng xe buýt thực hiện chức năng vận chuyển hành
khách trong thành phố, đến các vùng ngoại vi và các trung tâm đô thị vệ tinh nằm
trong quy hoạch tổng thể của thành phố.
Nhìn chung tuyến VTHKCC bằng xe buýt mang tính cố định cao vì nó gắn liền với
cơ sở hạ tầng kĩ thuật của đô thị còn hành trình chạy xe có thể thay đổi một cách linh
hoạt cho phù hợp với sự biến động của nhu cầu đi lại trong thành phố cả theo thời gian
và không gian vận tải. Mỗi tuyến VTHKCC bằng xe buýt thường cố định về điểm đầu ,
điểm cuối và các điểm dừng đỗ, trung chuyển chính trên tuyến.
Mạng lưới tuyến VTHKCC bằng xe buýt là tập hợp các tuyến buýt được quy hoạch
và thiết kế sao cho đảm bảo tính thống nhất, liên thông giữa các tuyến nhằm đáp ứng
tốt nhất nhu cầu đi lại của thị dân và phù hợp với mạnh lưới giao thông thành phố.
( Nguồn: QHGTVTĐT Vũ Hồng Trường . 2000 ).
1.2.2. Phân loại tuyến VTHKCC bằng xe buýt
Vấn đề phân loại tuyến rất phức tạp và nó được phân theo nhiều tiêu thức khác
nhau, phục vụ cho các mục đích khác nhau, tuy nhiên về cơ bản có thể phân theo thành
các tiêu thức sau :
* Theo tính ổn định của tuyến xe buýt được phân thành 2 loại :
- Tuyến buýt cố định
- Tuyến buýt tự do
* Theo giới hạn phục vụ ( Phạm vi hoạt động ):
NGUYỄN VĂN TOÀN
9
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
Theo tiêu thức này tuyến được phân ra thành các loại sau ( Căn cứ vào vị trí điểm
đỗ đầu và vị trí điểm đỗ cuối của tuyến ):
Tuyến khép kín 1 phần Tuyến khép kín
số 8
Hình vẽ 1.1. Hình dạng tuyến VTHKCC bằng xe buýt
Tuỳ theo việc phân bố các vùng thu hút, hệ thống giao thông yêu cầu mà người ta
lựa chọn dạng tuyến này hay tuyến khác với mục tiêu đảm bảo cự ly ngắn nhất, số lần
chuyển tải ngắn nhất.
Các loại tuyến đơn độc thường được sử dụng để thực hiện phục vụ dọc tuyến với 1
hướng xác định. Các tuyến này sử dụng khi lưu lượng hành khách lớn theo 1 hướng
xác định, trong đó chủ yếu là tuyến đơn dạng cung, được sử dụng vận chuyển hành
khách thông qua trung tâm và tạo sự liên kết giữa các tuyến khác với nhau. Tuyến gấp
khúc được sử dụng để vận chuyển hành khách ở các vùng thu hút không nằm dọc hai
bên tuyến giao thông.
Các loại tuyến đường vòng khép kín được sử dụng để vận chuyển hành khách
quanh 1 khu vực lớn. Hành trình kéo dài nên loại tuyến này ít được sử dụng vì khó
khăn trong việc thực hiện chính xác thời gian biểu chạy xe.
Các loại tuyến khép kín 1 phần thường được sử dụng để vận chuyển hành khách đi
ở khu vực này đến 1 khu vực khác. Tức là phần tuyến bao quanh 1 khu vực độc lập để
đón khách của cả khu vực sau đó chuyển đến 1 khu vực khác.
Tuyến khép kín số 8 được sử dụng để vận chuyển hành khách giữa 2 khu vực
tương đối lớn tương đối gần nhau. Về mặt lý thuyết thì tối ưu hơn song thực tế khó có
thể tạo ra được 1 vòng số 8 trơn tru.
Trong mỗi thành phố do việc phân bố dân cư, đặc điểm về công nghiệp, thương
mại, văn hoá và dạng mạng lưới giao thông khác nhau nên không thể sử dụng duy nhất
1 dạng tuyến, mặc dù dạng tuyến đó là ưu việt nhất.
* Theo vị trí tương đối so với trung tâm thành phố
NGUYỄN VĂN TOÀN
11
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
Theo cách phân loại này bao gồm các loại tuyến sau:
- Tuyến cơ bản: Là những tuyến phục vụ mọi nhu cầu đi lại trên tuyến .
NGUYỄN VĂN TOÀN
12
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
- Tuyến vé tháng: Loại tuyến này thường phục vụ theo những hướng có số
lượng người đi làm và đi học lớn, mật độ tập trung cao.
- Tuyến phụ thêm: Là những tuyến chỉ hoạt động vào những giờ cao điểm hoặc
khi cần thiết phục vụ khách thăm quan du lịch.
* Theo công suất luồng hành khách:
- Tuyến cấp 1: Tuyến có công suất luồng hành khách lớn ( Thường trên 5000
HK/ giờ ).
- Tuyến cấp 2: Tuyến có công suất luồng hành khách trung bình ( Thường từ
2000 đến 3000 HK/ giờ )
- Tuyến cấp 3: Tuyến có công suất luồng hành khách thấp ( Thường dưới 2000
HK/ giờ ).
* Theo chất lượng dịch vụ:
- Tuyến chất lượng cao: Tuyến xe buýt trên đó có bố trí phương tiện chất lượng
cao hoạt động ( Xe có máy lạnh ).
- Tuyến chất lượng bình thường: Tuyến xe buýt trên đó bố trí loại xe bình thường
hoạt động.
Việc phân loại tuyến như trên nhằm hướng người khai thác vào mục tiêu thoả mãn
tốt nhất cho từng đối tượng phục vụ. Vấn đề cơ bản là biết kết hợp các kiểu phân loại
để có thể tạo ra mạng lưới tuyến hợp lý cả về không gian, thời gian và trên cơ sở đặc
điểm vốn của thành phố.
( Nguồn: Vũ Hồng Trường . 2000 )
1.3. Tổng quan về quy hoạch tuyến VTHKCC bằng xe buýt
ùn tắc giao thông…
* Nguyên tắc:
- Quy hoạch giao thông vận tải đô thị phải được tiến hành theo một quy hoạch
thống nhất phù hợp với chiến lược phát triển của đô thị : Khi đưa ra chiến lược nhằm
phát triển một đô thị thì chiến lược này phải đảm bảo tính tổng thể, toàn diện và đồng
bộ giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống đô thị tức là các nghành, các khu dân cư,
các cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị… mà giao thông vận tải đô thị ở đây lại chính là
một thành phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị. Do đó, khi quy
hoạch hệ thống giao thông vận tải đô thị phải dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của đô thị.
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo tính hệ thống,
đồng bộ, liên thông và bền vững: Quan điểm này phải được quán triệt trong khi quy
NGUYỄN VĂN TOÀN
14
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
hoạch cải tạo, xây dựng và phát triển hệ thống giao thông vận tải đô thị nhằm tạo nên
tính đồng bộ, thông suốt trong hệ thống nhằm đảm bảo khai thác có hiệu quả về mọi
mặt kinh tế xã hội cũng như hiệu quả về các mặt môi trường và tính dân tộc… Tính hệ
thống và đồng bộ phải được thể hiện khi xây dựng các công trình kiến trúc văn hoá
phải hài hoà cân đối với các công trình giao thông trước mắt cũng như lâu dài. Ngay
trong hệ thống giao thông vận tải đô thị cũng phải giải quyết sự cân đối, hài hoà và
đồng bộ giữa mạng lưới đường, phương tiện vận tải và các công trình phục vụ để
nhanh chóng phát huy hiệu quả vốn đầu tư nhằm tạo ra một mạng lưới giao thông vận
tải liên hoàn, kết hợp giữa các phương thức vận tải trong đô thị một cách thống nhất,
thông suốt và đều khắp.
- Quy hoạch giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội
môi trường tổng hợp.
mục đích quy hoạch chúng ta sẽ đi sâu vào quy hoạch chi tiết.
Nội dung của quy hoạch chi tiết gồm có 3 phần:
+ Quy hoạch giao thông đô thị bao gồm:
- Quy hoạch mạng lưới đường nhằm đảm bảo mức độ phục vụ như : Khả năng
thông xe, vận tốc phương tiện.
- Thiết kế chi tiết như thiết kế nút giao thông, hệ thống đèn tín hiệu điều khiển.
- Quản lý giao thông trước tiên là kiện toàn tổ chức quản lý song song với việc
đưa ra luật lệ và các quy định.
- Nghiên cứu khả thi nhằm đánh giá các dự án.
+ Quy hoạch vận tải đô thị :
- Quy hoạch về vận tải hàng hoá
- Quy hoạch về vận tải hành khách công cộng
- Quy hoạch về vận tải hành khách cá nhân.
+ Quy hoạch hệ thống giao thông tĩnh :
- Quy hoạch nhà ga, bến bãi, nhà chờ, bãi đỗ xe ….
- Quy hoạch hè đường…
( Nguồn: Vũ Hồng Trường . 2000 )
1.3.2. Quy hoạch tuyến VTHKCC bằng xe buýt
a) Khái niệm:
Quy hoạch tuyến VTHKCC bằng xe buýt là việc tổ chức mạng lưới tuyến buýt
cùng với các công trình có liên quan, để thích ứng với xe buýt và phù hợp với quy
NGUYỄN VĂN TOÀN
16
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
hoạch không gian kiến trúc, chiến lược phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu vận chuyển
của đô thị trong một thời kỳ nhất định.
( Nguồn: Vũ Hồng Trường . 2000 )
Phương pháp này có nhiều ưu điểm: Đơn giản, dễ áp dụng đặc biệt là khi thiếu các
số liệu điều tra vẫn có thể áp dụng phương pháp này để vạch tuyến, phương pháp này
thường cho những phương án khả thi. Bên cạnh đó nó có một số nhược điểm: Mạng
lưới tuyến mang nhiều đặc tính định tính: Vì phải căn cứ vào điều kiện thực tế là chủ
yếu nên khi vạch tuyến đòi hỏi người lập tuyến phải có kiến thức sâu rộng và am hiểu
thực tế. Phương pháp này phù hợp với thành phố có hệ thống mạng lưới tuyến
VTHKCC khá phát triển và đang được khai thác.
- Phương pháp mô hình hoá :
Đây là phương pháp tiên tiến dựa trên các công cụ tính toán và máy tính điện tử để
tự động hoá quá trình thiết kế, tính toán mạng lưới tuyến VTHKCC. Các yếu tố cũng
như mức độ ảnh hưởng của nó được lượng hoá dưới dạng các mô hình riêng ( Mô tả
mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố ) và mô hình chung ( Mô tả mức độ ảnh hưởng
tổng hợp của các nhân tố ). Hay còn gọi là các mô đun tính toán. Ngoài ra trong mô
hình còn thể hiện mục tiêu quy hoạch phát triển mạng lưới tuyến như các rang buộc
với việc thiết lập mạng lưới tuyến.
Phương pháp này có ưu điểm là cho phép xây dựng 1 hệ thống tuyến VTHKCC tối
ưu theo một tiêu chuẩn nào đó ( Giảm đến mức tối thiểu chi phí thời gian cho một
chuyến đi của hành khách: đáp ứng tối đa ứng tối đa nhu cầu đi lại của hành khách )…
tuy nhiên khi áp dụng phương pháp này đòi hỏi phải có đủ lượng thông tin ban đầu về
các yếu tố ảnh hưởng với độ tin cậy cao. Mạng lưới tuyến VTHKCC chịu ảnh hưởng
của rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố định tính nên khó lượng hoá để đưa vào
mô hình.
Phương pháp này thường được áp dụng để thiết kế hệ thống tuyến ở những thành
phố mới hình thành.
- Phương pháp chuyên gia:
Nội dung của phương pháp này là các chuyên gia có kinh nghiệm về giao thông
công cộng đô thị căn cứ vào phương hướng phát triển của đô thị quy hoạch phát triển
tổng thể của đô thị, quy hoạch hệ thống giao thông, căn cứ vào các điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội khác, tiến hành phân tích tổng hợp để đề xuất các phương án hệ thống
các yếu tố định tính khi xác định hệ thống tuyến giao thông công cộng cần phải kết
hợp các phương pháp phi mô hình khác như phương pháp phân tích, phương pháp
tương tự với đặc điểm tổng hợp như vậy phương pháp này đươcj sử dụng rất phổ biến
và tiện lợi, nó thích hợp để xác định và lựa chọn hệ thống tuyến giao thông công cộng
đối với thành phố cũ cần phải ổn định, cải tạo, mở rộng và phát triển. Vấn đề là ở chỗ
cần phải sử dụng những mô hình nào cho phù hợp với điều kiện cụ thể của thành phố
đang tiến hành nghiên cứu và sự kết hợp giữa các phương pháp khác nhau với phương
NGUYỄN VĂN TOÀN
19
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
pháp mô hình một cách hài hoà, hợp lý trong một thể thống nhất và theo hệ mục tiêu
chung để xác định.
( Nguồn: Vũ Hồng Trường.2000 ).
1.3.3. Quy trình quy hoạch giao thông vận tải
Quá trình lập một quy hoạch GTVT được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Định hướng quy hoạch
Người lập quy hoạch (chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước)
- Bước 2: Phân tích vấn đề quy hoạch
Người lập quy hoạch, càc nhà tư vấn chuyên môn, cơ quan quản lý ngành,các cơ
quan hữu quan, các nhóm lợi ích và đại diện công dân (nếu cần)
- Bước 3: Xác định phương án quy hoạch
Các nhà tư vấn chuyên môn và các cơ quan hữu quan (nếu cần)
- Bước 4: So sánh và ra quyết định (người lập quy hoạch)
- Bước 5: Thực hiện và kiểm soát tác động (người lập quy hoạch)
Quy trình lập một quy hoạch giao thông vận tải được thể hiện ở bảng sau:
Định hướng quy hoạch
NGUYỄN VĂN TOÀN
NGUYỄN VĂN TOÀN
21
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tuyến VTHKCC bằng xe buýt
1.4.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng vận tải
1. Chỉ tiêu thời gian:
Đa số quan niệm cho rằng tính nhanh chóng thể hiện ở vận tốc lớn, như vậy chưa
đủ. Tính nhanh chóng còn phải được xem xét trên thời gian chuyến đi của hành khách.
Thời gian này được xác định theo phương pháp O - D ( O: Origin - Bắt đầu; D:
Destination - Kết thúc ), tức là được xem xét từ nơi hành khách xuất phát đến điểm kết
thúc chuyến đi của hành khách (đích ). Chỉ tiêu này được dùng để so sánh giữa phương
tiện VTHKCC với phương tiện cá nhân. Đây chính là điều cần quan tâm để tìm biện
pháp rút ngắn thời gian một chuyến đi của hành khách sử dụng phương tiện VTHKCC
bằng xe buýt so với phương tiện cá nhân, nhằm thu hút người đi lại bằng phương tiện
VTHKCC, hạn chế số lượng phương tiện cá nhân.
Một chuyến đi của hành khách được tính từ khi hành khách bắt đầù xuất phát, đi bộ
tới tuyến VTHKCC, chờ đợi phưong tiện, ở trên phương tiện trong quá trình phương
tiện chuyển động và đi bộ tới đích cần đến. Có thể mô tả chuyến đi của hành khách
như hình vẽ sau:
O Tđb1 Tđb2 D
A 1 2 3 n-2 n-1 n
B
Hình vẽ 1.3.Mô hình chuyến đi của hành khách bằng phương tiện VTHKCC
Kết cấu thời gian 1 chuyến đi của hành khách bằng phương tiện VTHKCC như
sau:
T= Tđb1 + Tcđ + Tpt + Tđb2 +Tk ( 1.1 )
Vận tải cá nhân VTHKCC
- Vốn đầu tư mua sắm phương tiện
- Vốn đầu tư gara
- Các loại thuế
- Hao phí thơi gian đi lại và các khoản
Chi phí khác
- Tiền vé
- Hao phí thời gian đi lại
NGUYỄN VĂN TOÀN
23
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ TUYẾN VÀ QUY HOẠCH TUYẾN
VTHKCC BẰNG XE BUÝT
Từ đó có thể thấy rằng để giảm chi phí đi lại của hành khách đối với VTHKCC ta
phải giảm hoa phí thời gian đi lại là chủ yếu
3. Chỉ tiêu an toàn:
An toàn luôn được đặt ra trong mọi quá trình sản xuất, vì khi xảy ra mất an toàn sẽ
làm hao phí về thời gian, làm tổn hại đến con người và vật chất. Đặc biệt trong vận tải
hành khách, đối tượng phục vụ là con người. Do vậy xảy ra tại nạn sẽ làm ảnh hưởng
đến con người.
Chỉ tiêu an toàn là mối quan tâm của hành khách khi lựa chon hình thức đi lại và là
chỉ tiêu để các nhà khoa học và các nhà quản lý vĩ mô nghiên cứu để có giải pháp phù
hợp nhằm nâng cao mức độ an toàn của vận tải.
4. Chỉ tiêu độ tin cậy:
Độ tin cậy thể hiện ở sợ chính xác, đúng đắn trong lịch trình của tuyến, về thời gian
chạy xe của phương tiện
Khi xã hội ngày càng phát triển thì chỉ têu này đòi hỏi ngày càng phải được nâng
cao.
Chỉ tiêu này phụ thuộc nhiều vào yếu tố tổ chức và quản lý. Ngoài ra, còn một số
L
hk
= 1,3 + 0.3
F
( 1.4 )
Trong đó: F: diện tích thành phố
( Nguồn: Vũ Hồng Trường . 2000 )
* Số điểm dừng đỗ dọc đường của tuyến (n):
Số điểm dừng đỗ dọc đường được tính theo công thức sau:
n =
t
o
L
L
- 1 ( 1.5 )
Trong đó: L
o
: Khoảng cách bình quân giữa các điểm đỗ (m).
Tuỳ theo từng tính chất của các điểm đỗ mà L
o
thay đổi tương thích, việc xác định
L
o
phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian đi bộ
của hành khách và thông qua đó ảnh hưởng đến thời gian chuyến đi của hành khách.
( Nguồn: Vũ Hồng Trường . 2000 ).
* Hệ số chuyển đổi chuyến:
Là số lần thay đổi tuyến bình quân trong một chuyến đi của hành khách, nó đánh
giá mức độ phục vụ tốt hay xấu của hệ thống hành trình. Hệ số chuyể đổi chuyến phu
thuộc vào dạng mạng lưới tuyến, sự đa dạng của các mạng lưới tuyến trong mạng lưới.