ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Đinh Trung Sơn
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH
KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn: Nguyễn Tuấn Hùng
Hà Nội - 2008
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DỊCH VỤ VẬN TẢI
HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT
1.1 Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
1.2 Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH
CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT Ở HÀ NỘI
2.1 Khái quát sự phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt ở Hà Nội.
2.2 Tình hình mạng lưới xe buýt ở Hà Nội.
2.3 Những vấn đề còn tồn tại của dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt ở Hà Nội.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VẬN
TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT Ở HÀ
NỘI
3.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ vận tải hành khách
công cộng bằng xe buýt ở Hà Nội.
3.2 Xã hội hóa dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở Hà
Nội.
PHẦN KẾT LUẬN
- Nguyễn Thanh Cao Huy, “Khuyến khích đầu tư phát triển vận
tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở thủ đô Hà Nội”, Luận văn Cao
học, bảo vệ năm 1998, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Vũ Qúy Trị, “Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt tại Hà Nội”, Luận văn Thạc Sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2006, tại Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Lâm Quang Cường, “Đề xuất các giải pháp khả thi hạn chế ách
tắc giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội (2005-2010)”, Đề tài khoa
học cấp Thành Phố, MS: TC - ĐT/07.02-2
Các công trình trên nghiên cứu ở các góc độ khác nhau cả về lý
luận và thực tiễn. Song ở đây tác giả nghiên cứu chủ đề ở góc độ kinh tế
chính trị đi sâu làm rõ vị trí, vai trò của nó trong đời sống của dân cư đô
thị và đưa ra một số giải pháp chủ yếu phát triển nó trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
a. Mục đích nghiên cứu.
Làm rõ thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hành khách công cộng
bằng xe buýt ở Hà Nội thời gian qua. Từ đó, đánh giá những kết quả đạt
được và những vấn đề còn tồn tại, đề xuất giải pháp chủ yếu để phát triển
loại hình dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dịch vụ, dịch vụ công cộng
và dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.
- Phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ vận tải hành khách công
cộng bằng xe buýt tại Hà Nội.
4
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ hành khách
công cộng bằng xe buýt ở Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu.
khu vực thứ ba của nền kinh tế. Một số ngành dịch vụ như bảo hiểm, y tế,
giáo dục, du lịch, vận tải, giải trí v..v
Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như
hàng hóa nhưng là hàng hóa phi vật chất. Mọi người chi tiền mua những
dịch vụ không khác gì chi tiền mua bất cứ loại hàng hóa nào khác.
Theo C.Mác, dịch vụ chỉ giá trị sử dụng đặc thù do lao động đem
lại giống như mọi hàng hóa khác, nhưng ở đây, cái giá trị sử dụng đặc thù
của lao động này được gọi bằng một danh hiệu đặc biệt là dịch vụ, bởi vì
lao động đó cung cấp những sự phục vụ không phải với tư cách là một đồ
vật mà với tư cách là một sự hoạt động [5,tr577]. Với tư cách là một loại
hàng hóa, dịch vụ cũng có giá trị và cả giá trị sử dụng, nghĩa là nó đáp
ứng một nhu cầu nào của người mua và do những chi phí sản xuất ra
chúng.
Vậy có thể hiểu khái niệm dịch vụ một cách chung nhất là: Dịch vụ
là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa
không tồn tại dưới hình thái vật thể; nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi,
hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người.
6
Dịch vụ có những đặc tính sau.
- Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời, không thể tách
rời.
- Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không rõ hình hài, không thể thấy
trước khi tiêu dùng.
- Không dự trữ được, không tích lũy được.
- Dịch vụ có tính không ổn định, không có chất lượng đồng nhất.
b. Khái niệm dịch vụ công cộng.
Khu vực công cộng là tổng thể các hoạt động do nhà nước đầu tư
vốn, trực tiếp thực hiện hoặc một phần do tư nhân đầu tư, tiến hành có sự
trợ giúp tài chính của nhà nước và được nhà nước quản lý với những cơ
chế đặc biệt nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu của
một số lượng hành khách nhất định.
Dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là dịch vụ vận
chuyển hành khách bằng các loại xe buýt từ nhỏ đến các loại xe buýt lớn
trên những tuyến đường cố định; được ra đời từ rất sớm và có mặt ở hầu
hết các nước trên thế giới.
Có nhiều loại hình vận tải công cộng khác, nhưng xe buýt vẫn là
loại hình quan trọng trong lĩnh vực vận tải hành khách công cộng, loại
hình xe buýt có những đặc điểm sau:
- Thuận tiện, an toàn, văn minh,
- Tính linh hoạt cao, vốn đầu tư thấp, sử dụng được hệ thống
đường sá của mạng lưới giao thông đường bộ.
- Tuyến đường cố định, đúng về thời gian, giá vé thống nhất, có
quy định nghiêm ngặt.
- Được phân bố hợp lý, đều khắp tất cả các khu dân cư, phù hợp
với quy hoạch của mạng lưới giao thông đường bộ.
8