khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước - Pdf 13

mục lục
phần a: lời nói đầu
Trang
phần b: nội dung
i. Khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
1. Người có quyền khiếu nại QĐKL
2. Quyết định kỷ luật
3 Một số điều luật, Nghị định liên quan
ii. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại
1. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
2. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại
iii. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ,
công chức
iv. Thủ tục giải quyết khiếu nại quy định kỷ luật
1. Về thời hiệu khiếu nại
2. Về thụ lý việc khiếu nại
3. Về thời hạn giải quyết
4. Nội dung
phần c: kết luận
1. Kết luận
2. Kiến nghị
1
phần a: lời nói đầu
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, một
trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm
đến đó là việc mở rộng dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Xuất phát từ bản chất tốt đẹp
của Nhà nước ta, đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đây chính là tinh thần cơ bản của Hiến pháp cũng như toàn bộ hệ thống pháp
luật nước ta. Ngoài việc đưa ra những chế định có tính nguyên tắc bảo đảm
cho bộ máy Nhà nước hoạt động thực sự vì lợi ích của nhân dân, Hiến pháp

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài tiểu luận là: “Khiếu nại và giải quyết
khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính
Nhà nước”. Với trình độ, kiến thức và thực tiễn công tác còn hạn hẹp. Sau
khi được các thầy, cô giáo trường Cán bộ Thanh tra trang bị có hệ thống kiến
thức lý luận phần nghiệp vụ công tác thanh tra. Bản thân tôi cũng thấy cần
làm rõ những quy định của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước do
khiếu nại quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức là một loại khiếu nại đặc
thù, mang tính chất nội bộ của cơ quan tổ chức có thẩm quyền.
3
phần b: nội dung
I. Khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.
1. Người có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật.
Khoản 1 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo quy định “Công dân, cơ quan, tổ
chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp
luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cán bộ, công chức có
quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền khi có căn cứ
cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
của mình”. Như vậy, theo quy định của điều luật nêu trên thì cán bộ, công
chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật của người có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật. Tuy nhiên, khi thực hiện quyền khiếu nại, người khiếu nại
phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như: Phải là đối tượng chịu tác động
trực tiếp của quyết định hành chính; phải có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích
của mình bị xâm phạm; phải tuân thủ những thủ tục, trình tự mà pháp luật quy
định như: thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại, gửi đơn khiếu nại, đơn khiếu
nại phải được gửi đến đúng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại…
2. Quyết định kỷ luật.
Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức là quyết định bằng văn bản của

được giải quyết theo Điều lệ của tổ chức đó”.
Điều 27 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 của Chính phủ
quy định: “Khiếu nại quyết định kỷ luật của thủ trưởng cơ quan nào ký ban
5
hành thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết; trong trường hợp
còn khiếu nại tiếp thì thủ trưởng cơ quan trực tiếp có trách nhiệm giải quyết”.
Như vậy, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật của
cán bộ, công chức cũng được áp dụng theo những quy định của Luật khiếu
nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành.
II. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
1. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại.
Theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo thì người khiếu nại có
quyền.
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu
nại. Quyền khiếu nại là một quyền mà pháp luật quy định cho chủ thể khiếu
nại có quyền tự mình thực hiện việc khiếu nại các quyết định kỷ luật khi có
căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Mặt khác, pháp luật cũng quy định người
khiếu nại có thể thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện việc khiếu
nại.
Người khiếu nại được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết
khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại. Quy định này nhằm tạo điều
kiện cho người khiếu nại biết được quá trình giải quyết vụ việc của mình, để
họ có thể thực hiện tốt việc khiếu nại.
Người khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm
phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quy định này
liên quan trực tiếp đến việc bảo đảm quyền lợi cho người khiếu nại và đây
chính là mục đích của việc giải quyết khiếu nại. Mặt khác, bằng quy định này
đã xác định việc khiếu nại của người khiếu nại là đúng, và như vậy những
quyền lợi của người khiếu nại bị vi phạm cần được khắc phục, việc thực hiện

kém, lãng phí làm khó khăn cho người có thẩm quyền trong việc xử lý các
khiếu nại.
- Người khiếu nại có nghĩa vụ trình bày trung thực diễn biến sự việc,
cung cấp thông tin, tài liệu cho người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại;
người khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và
việc cung cấp tài liệu, thông tin đó. Nghĩa vụ này xuyên suốt quá trình xem
xét, giải quyết khiếu nại, nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người khiếu
nại. Bởi vì, chỉ bằng việc cung cấp các tài liệu, chứng cứ xác đáng, trung thực
thì đó chính là cơ sở, căn cứ để chứng minh việc khiếu nại của mình là đúng,
quyền lợi của mình bị vi phạm. Mặt khác, trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ
do người khiếu nại cung cấp và quá trình thu thập xác minh, kiểm tra các tài
liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp thì người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại mới có thể ra những quyết định chính xác trong quá trình giải
quyết khiếu nại.
Người khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo thì các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp
luật phải được người khiếu nại nghiêm chỉnh chấp hành. Đây là một quy định
pháp luật cần thiết, có ý nghĩa bắt buộc người khiếu nại phải chấp hành, bảo
đảm tính pháp chế trong việc giải quyết khiếu nại. Theo quy định của Luật
khiếu nại, tố cáo thì quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành
bao gồm:
- Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng.
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà trong thời gian do Luật
quy định người khiếu nại đã không khiếu nại tiếp hoặc không khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án.
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần tiếp theo mà trong thời hạn do
Luật định người khiếu nại không khiếu nại tiếp.
8
Ngoài ra, Luật khiếu nại, tố cáo cũng quy định: Người có trách nhiệm

chứng về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị
khiếu nại.
- Người bị khiếu nại có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quyết định
giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Quy định có ý nghĩa rất quan
trọng mà người bị khiếu nại phải thực hiện, nó liên quan trực tiếp đến việc
khôi phục và bảo vệ quyền lợi cho người khiếu nại. Bởi vì, người bị khiếu nại
là người được pháp luật giao cho quyền quản lý, khi thực hiện quyền này nếu
đã có quyết định kỷ luật được xác định là không đúng đắn, thì họ phải chấp
hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết đó. Mặt khác, việc chấp hành quyết
định giải quyết khiếu nại còn gắn với trách nhiệm giải quyết của người bị
khiếu nại, điều đó có nghĩa là: nếu quyết định kỷ luật bị khiếu nại là sai trái
thì bản thân người bị khiếu nại phải thay đổi (sửa đổi, huỷ bỏ quyết định bị
khiếu nại hoặc phải ban hành quyết định mới phù hợp với quy định của pháp
luật).
- Người bị khiếu nại có nghĩa vụ: bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu
quả do quyết định trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ này của người bị khiếu nại gắn bó chặt chẽ với nghĩa vụ chấp hành
nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại, bởi vì theo quy định của Luật
thì khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, việc bồi thường thiệt hại (nếu có)
phải được xác định rõ trong nội dung quyết định giải quyết khiếu nại như:
mức bồi thường, trách nhiệm bồi thường, thời hạn phải bồi thường.
III. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức.
Theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày
07/8/1999 của Chính phủ thì:
10
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ký ban hành.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có thẩm quyền.
a. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật do mình ký ban hành.
b. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật mà Chủ tịch Uỷ ban

1. Về thời hiệu khiếu nại.
Điều 49 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hiệu khiếu nại là 15
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật. Trong trường hợp vì ốm đau,
thiên tai địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách
quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo
đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
2. Về thụ lý việc khiếu nại.
Đơn khiếu nại phải được gửi đến người đã ra quyết định kỷ luật. Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, người đã ra quyết định
kỷ luật phải thụ lý để giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết.
Luật khiếu nại, tố cáo quy định rõ: Việc khiếu nại phải được thực hiện
bằng đơn; trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, địa chỉ
của người khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại
và có chữ ký của người khiếu nại.
Chú ý: Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được
thụ lý để giải quyết:
- Quyết định kỷ luật bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
12
- Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có
người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người đại diện không hợp pháp.
- Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp đã hết.
- Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án,
quyết định của Tòa án.
13
3. Về thời hạn giải quyết.
Đối với thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu. Điều 52 Luật khiếu nại,
tố cáo quy định: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể
từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết

khiếu nại phải ra quyết định giải quyết bằng văn bản. Quyết định giải quyết
khiếu nại phải có các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định.
- Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
- Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;
- Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
- Giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định kỷ
luật bị khiếu nại;
- Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có).
Quyết định giải quyết khiếu nại phải được gửi cho người khiếu nại và
cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Cán bộ, công chức khiếu nại quyết định kỷ luật buộc thôi việc, kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết lần đầu, nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết đó thì trong thời hạn quy định tại Điều 39 của Luật khiếu nại,
tố cáo có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc
khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật về cán bộ,
công chức và pháp luật về tố tụng hành chính (Điều 55 Luật khiếu nại, tố
cáo). Điều 39 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo
quy định: “… Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định
15
giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thì
có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường
hợp luật có quy định khác”.
- Đối với công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng hoặc tương đương trở
xuống bị kỷ luật buộc thôi việc, sau khi khiếu nại mà người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại lần đầu vẫn giữ nguyên hình thức kỷ luật đó thì trong thời
gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại có quyền
khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án
hành chính tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
16

nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Qua nghiên cứu và phân tích, tôi
mạnh dạn có mức độ kiến nghị sau:
- Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh,
chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc
của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công
cuộc xây dựng phát triển đất nước.
- Đề cao và thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong công tác giải quyết
khiếu nại, phải xác định công tác này là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là
một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá năng lực, hiệu quả công tác này của
người đứng đầu cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức có trách nhiệm.
- Tăng cường hoạt động thanh tra; bởi hoạt động thanh tra, kiểm tra là
một nội dung của hoạt động quản lý. Thực hiện tốt chức năng thanh tra là một
yêu cầu quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện mục tiêu quản lý.
- Nghiên cứu sửa đổi Luật khiếu nại, tố cáo. Để tách Luật khiếu nại, tố
cáo thành hai luật: Luật tố cáo và Luật khiếu nại. Để luật khiếu nại, đặc biệt là
khiếu nại hành chính phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và thông lệ
quốc tế.
- Tăng cường công tác phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu
rộng trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, lực
lượng vũ trang và nhân dân để mọi người hiểu rõ chính sách, pháp luật biểu
dương kịp thời những nhân tố điển hình tốt, phê phán những việc làm trái
pháp luật. Góp phần xây dựng một bộ máy quản lý khoa học, tiên tiến.

18

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status