đánh giá dự án cứu trợ tiền mặt do irish aid tài trợ tại hà tĩnh - nghiên cứu trường hợp tại xã đức hương, huyện vũ quang - Pdf 13

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ
bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với
các loại hình thiên tai. Chỉ tính 11 năm gần đây (1995-2006), các loại thiên tai
như: bão, lũ, lốc, đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản: làm chết và
mất tích 9.416 người, bị thương 7.622 người; làm đổ, trôi, ngập, hư hỏng
khoảng 7.966 tỷ ngôi nhà. Thiệt hại vật chất ước tính 61.479 tỷ đồng [1].
Trong những năm qua, khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai xảy
ra với tần suất càng ngày càng nhiều và mạnh trên khắp cả nước, gây ra nhiều
tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hoá, xã hội,
tác động xấu đến môi trường của đất nước, đời sống người dân, nhất là người
nghèo. Hiểu được những khó khăn của người dân vùng lũ, hàng triệu trái tim
với lòng nhân ái cùng hướng về đồng bào vùng thiên tai, các cá nhân, tổ chức
nhân đạo trong và ngoài nước đã tích cực thực hiện các hoạt động cứu trợ sau
lũ. Tuy nhiên, ở nước ta hoạt động cứu trợ bằng hiện vật vẫn là chủ yếu.
Cứu trợ bằng hiện vật đã giúp người dân giải quyết những khó khăn
trước mắt, nhưng bên cạnh đó cũng còn nhiều bất cập lien quan đến hoạt động
cứu trợ này. Nhiều khi hàng cứu trợ không đáp ứng được nhu cầu của người
dân. Cái người dân cần thì không có, cái được hỗ trợ có khi người dân không
cần. Ngoài việc tốn nhiều chi phí cho vận chuyển, bốc vác và trao hàng cứu
trợ, cán bộ địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức cấp phát do
sự khác nhau và đa dạng về chất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hoá, Hơn
nữa, do công tác tổ chức cứu trợ không tốt nên đôi khi bên cho đã đưa cả
những hàng không thể dùng được đến vùng thiên tai, do vậy đã làm mất đi ý
nghĩa tốt đẹp của hoạt động cứu trợ.
Xuất phát từ thực tế đó, Cơ quan hợp tác Phát triển quốc tế - Irish Aid,
Đại sứ quán Ireland đã thử nghiệm chương trình cứu trợ bằng tiền mặt cho
người dân bị thiệt hại nặng nề trong đợt lũ kép lịch sử hồi đầu tháng 10 năm
2010 tại ba tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Trị, thông qua dự án “Cứu trợ bằng tiền mặt
1

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Những khái niệm cơ bản về an sinh xã hội
Khái niệm an sinh xã hội (ASXH) là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm
từ social security (tiếng Anh) hoặc từ sécurites sociale (tiếng Pháp). Đây là
thuật ngữ xuất hiện trong một đạo luật của Mỹ năm 1935. Trong đạo luật này
ASXH được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cá nhân,
đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để
phát triển tài năng đến tột độ [9].
Thuật ngữ ASXH cũng được Tổ chức lao động quốc tế ILO ghi nhận:
“an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế
và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; bảo đảm chăm sóc y
tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [9].
Vậy ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình,
trước hết và chủ yếu là những trường hợp bị giảm sút thu nhập đáng kể do
gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất
việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ thai sản, về già cũng như các trường
hợp bị thiên tai, địch họa. Đồng thời, xã hội cũng ưu đãi những thành viên của
mình đã có những hành động xả thân vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc
biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam [9]. Ở
Việt Nam hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề an sinh
xã hội và các bộ phận cấu thành. Tuy nhiên, có thể thấy rằng hiện tại, ASXH
ở Việt Nam là một vấn đề nghiên cứu tương đối mới mẻ được cấu thành gồm
ba bộ phận chính là: Bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Song,
trong bài viết này tôi chỉ đề cập đến vấn đề cứu trợ xã hội.
2.1.2. Cứu trợ xã hội
Có thể nói, cứu trợ xã hội là một hoạt động mang tính chất từ thiện,
tương thân tương ái giúp đỡ nhau của con người trong các giai đoạn lịch sử
khác nhau. Không phải lúc nào trong cuộc sống con người cũng gặp được

nhận phải tuân thủ.
- Hỗ trợ tiền mặt phổ cập hay tập trung vào một nhóm đối tượng.
4
- Các hình thức khác của chương trình hỗ trợ bằng tiền mặt, như tín
dụng và trả tiền cho việc làm, [4]
2.1.4. Khái niệm về đánh giá và đánh giá dự án có sự tham gia
Đánh giá là hoạt động rất quan trọng trong chu trình dự án. Đánh giá là
xem xét một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công
và những tác động (về kinh tế, xã hội, môi trường, ) của dự án so với mục
tiêu. Mục đích của đánh giá là nhằm tìm ra nguyên nhân tại sao dự án lại đạt
hay không đạt được mục tiêu và các kết quả đề ra. Hoạt động đánh giá thực
chất là trả lời các câu hỏi: Dự án đã và chưa làm được những gì? Tại sao làm
được và chưa làm được? Những gì cần phải điều chỉnh hoặc tiếp tục thực hiện
trong thời gian tới? [7]
Đánh giá dự án có sự tham gia là hoạt động đánh giá mà trong đó đề cập
đến sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong quá trình thực hiện dự án
[7,186].
2.1.5. Nội dung đánh giá dự án
2.1.5.1. Đánh giá tính thích hợp
Đánh giá tính thích hợp là xem xét dự án có ý nghĩa và có phù hợp nhu cầu
của các bên tham gia cũng như điều kiện cụ thể của địa phương không. Một dự
án được coi là thích hợp khi: Dự án đáp ứng được nhu cầu người hưởng lợi. Dự
án phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư. Dự án phù hợp với chủ trương, chiến
lược phát triển của địa phương, của vùng và cao hơn là của nhà nước. Dự án phù
hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của địa phương [7,197].
Tóm lại, dự án được coi là thích hợp nếu như các mục tiêu và hoạt động
của dự án phù hợp với các vấn đề nêu trên.
2.1.5.2. Đánh giá kết quả
Đánh giá kết quả là xem xét dự án có đạt được các kết quả như mong
muốn không. Các kết quả đạt được của dự án thể hiện qua chỉ tiêu sau: Mục

thôn như sau:
2.1.6.1. So sánh giữa thực tế đạt được với kế hoạch của dự án
6
Đây là phương pháp rất thông dụng, được dùng chủ yếu để đánh giá kết
quả đạt được của dự án. Khi so sánh, cần xem xét trong bối cảnh cụ thể. Các
chỉ tiêu dùng so sánh phải đồng nhất giữa thực tế và kế hoạch của dự án
2.1.6.2. So sánh lợi ích và chi phí
Đây là phương pháp rất cơ bản, thường được sử dụng để đánh giá tác
động của dự án. Chi phí là những gì mà cá nhân hay xã hội bị mất đi hay phải
chi tốn khi tiến hành dự án. Khi xem xét chi phí, cần phải chú ý đến cả 3 loại chi
phí, đó là chi phí ban đầu, chi phí duy trì và chi phí hoạt động. Ngoài ra còn có
các chi phí phát sinh do tác động xấu của dự án tới môi trường sinh thái và xã hội
cần phải tính đến. Lợi ích của dự án là những gì mà cá nhân hay xã hội được lợi
khi tiến hành dự án. Trong đó có lợi ích về kinh tế, về xã hội và môi trường.
2.1.6.3. So sánh trước và sau khi có dự án
Đây là phương pháp so sánh cơ bản trong khi đánh giá, thực chất là xem
xét những lợi ích mà dự án đã tạo ra sau khi thực hiện so với trước khi có dự
án. Phương pháp này chỉ có thể áp dụng khi dự án có đủ số liệu cơ bản ban
đầu trước khi thực hiện ở tất cả các cấp (hộ, cấp cộng đồng và cấp vùng).
2.1.6.4. So sánh vùng có dự án và vùng không có dự án
Phương pháp này thường được dùng để đánh giá những dự án có quy mô
nhỏ, được thực hiện trên phạm vi một thôn hay một xã, vì kết quả sẽ chính
xác hơn là so sánh trên một phạm vi rộng.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình mưa lũ và thiệt hại tại Hà Tĩnh trong đợt lũ kép 2010
Trận lũ chồng lũ từ cuối tháng 9/2010 đến ngày 19/10/2010, gây hậu quả
hết sức nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản nhân dân và tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh hà tĩnh, theo báo cáo của UBND tỉnh Hà Tĩnh cụ thể
như sau:
Mưa lớn làm cho mực nước trên các sông đều vượt trên báo động 3, gây

Thừa Thiên Huế. Cơn bão đã gây ra thiệt hại to lớn về người và của trên diện
rộng làm gần 200.000 người mất nhà cửa và cướp đi sinh mạng của 163 người
cùng với nhiều thiệt hại về kinh tế xã hội. Với hai tỉnh bị thiệt hại nặng nề
nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đây là cơn bão tồi tệ nhất trong 45 năm qua
tại việt nam (tính đến thời điểm năm 2009) [16].
Để giúp cho người dân các vùng lũ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc
sống và hồi phục lại sản xuất một cách nhanh chóng, ý tưởng chuyển giao tiền
mặt trong cứu trợ đã được thực hiện, trong đó có các dự án đi đầu trong việc
thử nghiệm hình thức cứu trợ này bao gồm một số dự án sau:
8
Dự án cứu trợ bằng tiền mặt không điều kiện do Cơ quan Phát triển
Quốc tế Hoa kỳ phối hợp với Hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ tài trợ và được thực
hiện bởi Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã cứu trợ cho 4 tỉnh bị ảnh hưởng nhiều
nhất là Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, với 8500 hộ gia đình
được hỗ trợ. Các hộ gia đình đã được lựa chọn bởi tiêu chí rằng họ là những
gia đình bị ảnh hưởng nhiều bởi cơn bão Ketsana năm 2009, những gia đình
được ưu tiên khi họ thuộc vào những hộ có các điều kiện dễ bị tổn thương
nhất. Số tiền cứu được chia làm 3 mức sau: Gia đình có 1 thành viên được
300 ngàn đồng; 2 thành viên được 600 ngàn đồng; lớn hơn hoặc bằng 3 thành
viên được nhận 1 triệu đồng. Tại Quảng Ngãi đã giảm thành 2 mức là: Hộ gia
đình 1 đến 3 thành viên được nhận 500 ngàn đồng, từ 4 thành viên trở lên
được nhận 1 triệu đồng [16]. Kết quả dự án chuyển tiền vô điều kiện này đã
giúp cho những người nghèo nhất và có điều kiện dễ tổn thương ở các tỉnh mà
họ thực hiện có thể mua được các thực phẩm cơ bản và các nhu cầu cấp thiết
khác trong bối cảnh sau thiên tai. Tuy nhiên, ngoài những thành công mà dự
án mang lại, thì dự án đang còn những điểm yếu như: Việc đánh giá thì
trường tại các địa phương chưa được tiến hành chặt chẽ, đang còn dùng giả
định để đánh gái thị trường; Việc đào tạo và tập huấn cho cán bộ thôn xã
trước khi tiến hành chọn hộ hưởng lợi chưa được chú trọng; Theo nhận định
của người dân thì thời gian cấp phát hơi muộn một chút;

PHẦN 3: NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Thiệt hại của người dân do lụt kép năm 2010
- Thiệt hại trên phạm vi toàn xã do đợt lũ lụt kép cuối năm 2010.
- Thiệt hại của hộ do lũ lụt kép cuối năm 2010
3.1.2. Tình hình thực hiện dự án cứu trợ của Irish Aid
- Khái quát về dự án cứu trợ của Irish Aid
- Tính hợp lý và khả thi trong tiến trình thực hiện dự án
3.1.3. Kết quả dự án cứu trợ của Irish Aid
- Thực trạng của chương trình cứu trợ bằng tiền mặt
- Kế hoạch sử dụng tiền của hộ
- Thực tế sử dụng tiền của hộ
- Kết quả của việc sử dụng tiền của hộ
- Tính thích hợp của dự án
- Các tác động ban đầu của dự án
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ hưởng lợi từ dự án cứu trợ tiền mặt của
Irish-Aid ở xã Đức Hương, bao gồm: Các hộ nghèo và cận nghèo bị thiệt hại
do đợt lũ kép năm 2010 gây ra.
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Dự án cứu trợ tiền mặt của Irish-Aid được thực hiện tại 7 xã của 2
huyện: Vũ Quang và Hương Khê. Trong đó, xã Đức Hương được chọn làm
điểm nghiên cứu, đây là một xã nông nghiệp còn nhiều khó khăn, chịu ảnh
hưởng nặng nề của lũ lụt năm 2010 và được các chương trình cứu trợ của các
tổ chức nhân đạo ủng hộ, trong đó có dự án cứu trợ tiền mặt của Irish-Aid. Do
vậy Đức Hương là xã có những đặc điểm điển hình, có thể đại diện cho 7 xã
của dự án.
11
3.3. Phương pháp đánh giá và thu thập thông tin

12
(i) Thảo luận nhóm người dân: Nhóm 1 gồm 8 người đại diện cho hộ
hưởng lợi và nhóm 2 gồm 8 người đại diện cho hộ không hưởng của dự án.
Mục đích: Xác nhận lại một số thông tin đã thu được từ những cuộc
phỏng vấn trước đó, tìm hiểu ý kiến đánh giá của hộ về tiến trình dự án cứu
trợ, về sự công bằng minh bạch trong quá trình chọn hộ hưởng lợi, tính phù
hợp của dự án cứu trợ bằng tiền mặt, nguyện vọng của hộ về các loại hình cứu
trợ.
(ii) Thảo luận nhóm các lãnh đạo địa phương: Thành phần là các trưởng
hoặc phó thôn, các thành viên trong ban cứu trợ, đại diện các tổ chức đoàn thể
và UBND xã Đức Hương.
Mục đích: Thu thập các ý kiến đánh giá về quá trình cứu trợ và về tính phù
hợp của dự án đối với điều kiện của địa phương, mong muốn của chính quyền
và kiến nghị của họ.
Trong các cuộc thảo luận nhóm sử dụng những công cụ : Thẻ màu
c. Phương pháp phỏng vấn người am hiểu:
Đã phỏng vấn một số cá nhân ở địa phương, những người hiểu biết về
tình hình thiệt hại, cuộc sống, các hoạt động cứu trợ đã thực hiện trên bàn. Đó
là những người đang tham gia vào bộ máy chính quyền, tổ chức đoàn thể, bao
gồm: Trưởng thôn; Cán bộ Hội Phụ Nữ, Hội Nông Dân, cán bộ tiếp nhận cứu
trợ của UBND xã.
Mục tiêu: Thu thập thông tin về hiện trang thiệt hại và đời sống của
người dân sau lũ, vai trò của họ trong quá trình cứu trợ bằng tiền của Irish
Aid, ý kiến đánh giá của họ về cứu trợ bằng tiền mặt. Kiểm tra chéo các thông
tin đã ghi nhận trong quá trình khảo sát.
d. Quan sát thực tế
Thông qua quan sát thực tế để thấy được các thiệt hại và sự khôi phục
của hộ dân cũng như toàn xã sau khi được cứu trợ.
3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được phân tích trên các nội dung chủ yếu, đó là sự thích hợp,

4.1.1.3. Điều kiện Khí hậu - Thủy văn
Xã Đức Hương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thời tiết trong năm
được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa.
- Lượng mưa: trung bình hàng năm khoảng 2.300mm. Số ngày mưa
trong năm dao động từ 170 - 180 ngày. Lượng mưa phân bố trong năm không
đều, chỉ tập trung vào mùa Đông và kết thúc muộn. Tổng lượng mưa vào 5
tháng mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 8) chỉ chiếm khoảng 25% lượng mưa cả
năm. Vì vậy vào mùa này thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng đến đời sống và
sản xuất của người dân [11].
- Nhiệt độ - độ ẩm: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,5ºC, được chia
làm hai mùa: Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình
17,2º C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 5,2ºC. Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10,
15
nhiệt độ trung bình là 29,5ºC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 40,2ºC. Độ ẩm
không khí tương đối trung bình hằng năm khoảng 85% [11]
- Nắng-gió: Bình quân ở Đức Hương có 230 ngày nắng, nhưng do phân
bố không đều nên vụ đông xuân thường thiếu ánh sáng, trong khi đó vụ Hè
Thu lại qua dư thừa. Gió mùa Đông Bắc hình thành từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau, tốc độ gió thường cấp 3 đến cấp 4. Gió mùa Đông Bắc làm cho nhiệt
độ không khí giảm kèm theo mưa rét kéo dài, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất
và đời sống. Gió Lào xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7. Gió này thường gây
khô hạn và nóng làm ảnh hưởng đến sản xuất vụ mùa [11].
- Bão lụt: Bão lụt thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10, thường gây
sạt lỡ đất ở hai bên sông Ngàn Sâu, làm cho diện tích hoa màu ở đây mất
trắng do nước dâng cao làm ngập úng [11].
- Thủy văn: Chế độ thủy văn của xã chịu ảnh hưởng chính của sông
Ngàn Sâu. Sông có diện tích lưu vực 1050 km
2
, lưu lượng trung bình đạt
51m

cung cấp sử dụng điện của toàn xã, mạng lưới đường dây điện được phân bổ
đều đến từng thôn xóm, từng hộ gia đình. Đến nay đã có 100% số hộ được sử
dụng điện lưới quốc gia [11].
b. Văn hóa - Y tế - Giáo dục
Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, phong trào xây dựng đời
sống văn hóa cơ sở được duy trì và phát triển tốt. Đến nay các làng đã có quy
ước về việc cưới, việc tang và lễ hội, thực hiện cuộc vận động xây dựng làng
xã văn hóa, gia đình văn hóa. Xã đã đầu tư hệ thống trạm truyền thông; diện
tích đất dành cho điểm Bưu điện văn hóa xã, tượng đài liệt sỹ và 13 hội quán
trên toàn xã là 3,17 ha. Có một sân vận động trung tâm xã và 8 sân vận động
ở 8 thôn, bên cạnh các nhà văn hóa thôn đều có sân bong chuyền.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thường xuyên quan tâm.
Từng bước nâng cao chất lượng khám và điều trị, hoạt động y tế dự phòng có
chuyển biến, các dịch bệnh xảy ra được dập tắt kịp thời. Xã có 1 trạm y tế,
bao gồm 1 y sỹ, 3 y tá và 1y tá thôn.
Về giáo dục các cấp học được duy trì và phát triển đồng đều, diện tích
dành cho giáo dục là 3,98 ha. Xã có hệ thống nhà trẻ mẫu giáo đạt chuẩn quốc
gia sắp được xây xong và một trường mầm non bán công hiện đang sử dụng.
Trường tiểu học đã được công nhận trường chuẩn quốc gia giai đoạn một.
Trường trung học cở sở với cơ sở hạ tầng có 3 nhà 2 tầng gồm 18 phòng học,
có dãy nhà cấp 4 cho các giáo viên ở xa. Công tác khuyến học, xây dựng
trung tâm học tập cộng đồng ở xã được triển khai sâu rộng [11].
4.2. Các thiệt hại do lũ kép năm 2010 tại xã Đức Hương
4.2.1. Thiệt hại trên địa bàn toàn xã
Theo báo cáo của UBND xã Đức Hương, lũ lụt đã chia cắt hoàn toàn 8/8
thôn, xóm của xã. Số hộ bị ngập là 798 chiếm 85,2% tổng số hộ trên toàn xã.
17
Trong đó, số hộ bị ngập sâu 1m - 2,5 m có 558 hộ chiếm 59,6% số hộ toàn xã,
chủ yếu tập trung tại các thôn Hương Đại, Hương Thọ, Hương Phố, Hương
Phùng, Hương Hòa, Hương Đồng. Trận lũ lụt kép đã để lại cho nhân dân xã

10 Sạt lở bờ sông ngàn sâu Triệu đồng 15.000
11 Các thiệt hại khác Triệu đồng 4.701
Tổng 77.757
Nguồn: UBND xã Đức Hương, 2010
Lũ lớn và kéo dài đã làm cho hầu hết các công trình trên toàn xã bị ngập
và hư hỏng nặng. Trong đó bị nặng nhất là các công trình xây dựng như:
Công trình giao thông, thủy lợi, các trường học và UBND xã. Số liệu ở bảng 1
18
cho thấy, nông nghiệp là lĩnh vực bị thiệt hại rất nặng chủ yếu là những tổn
thất về trồng trọt (lúa, đậu, ngô), chăn nuôi (gia cầm, lợn). Thực tế cho thấy,
do vị trí và địa hình của các thôn nên mức độ thiệt hại giữa các thôn của xã là
khác nhau. Thôn Hương Đại, Hương Phố, Hương Thọ nằm ở vị trí thấp gần
sông Ngàn Sâu nên bị thiệt hại nặng nhất; Các thôn Hương Phùng, Hương
Hòa một phần nằm ở gần sông nhưng phần còn lại nằm trên đồi cao nên chỉ
có những hộ ở thấp mới bị ảnh hưởng đến cả trong vườn, nhà và ngoài đồng;
Một số thôn nằm trên đồi cao như Hương Tân và Hương Giang ít bị thiệt hại.
Tuy nhiên ở ngoài đồng thì tất cả các thôn đều bị tổn thất như nhau.
4.2.2. Tình hình thiệt hại của hộ sau lũ kép
4.2.2.1. Thiệt hại đối với đời sống của hộ
Sau cơn lũ đời sống của hộ khó khăn hơn rất nhiều do nơi để trú ẩn,
lương thực, thực phẩm, các dụng cụ sinh hoạt gia đình, các phương tiện phục
vụ nghe nhìn và đi lại, những đồ dùng cá nhân, để phục vụ cho cuộc sống
của họ đều bị hư hỏng hoặc cuôn trôi. Sức khỏe, y tế cũng bị thiệt hại nặng,
do đó đã ảnh hưởng đến cuộc sống chung của cả gia đình. Vì vậy việc tìm
hiểu các thiệt hại về đời sống của người dân là rất quan trọng, giúp hiểu được
người dân bị ảnh hưởng tới điều kiện sống như thế nào, những nhu cầu cấp
thiết trong cuộc sống hàng ngày có còn được đảm bảo không. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, trận lũ kép vào đầu tháng 10 năm 2010 đã gây thiệt hại về nhiều
mặt trong đời sống của người dân xã Đức Hương như: Nhà cửa, các dụng cụ
sinh hoạt gia đình, lương thực, các Phương tiện nghe nhìn và đi lại, cho đến

thôn Hương Giang, Hương Tân. Trong các hộ khảo sát không có hộ nào bị
thiệt hại về người, do trận lũ vừa qua đã được các cấp ban ngành giúp đỡ kịp
thời, trong lũ nước dâng cao nhưng không chảy xiết nên người có thể chạy lên
trên các nóc nhà.
Kết quả điều tra cho thấy, nhà cửa của người dân nơi đây chủ yếu bị sạt
lở nền, bay mái, hư vách phên. Có 79,7% nhà của hộ bị hư nhẹ (dưới mức
30%) do ngâm nước lũ quá lâu và trong khi lũ lên cao người dân đã phải phá
20
nóc nhà để nhận cứu trợ và thoát thân. Chỉ có rất ít hộ có nhà bị cuốn trôi
hoàn toàn hay hư hỏng quá nặng với mức độ thiệt hại từ 30 đến 50% và lớn
hơn 50% tương ứng là 14,1% và 6,2 % trong tổng số hộ bị ảnh hưởng, do các
hộ này có nhà nằm ngay bên cạnh song.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, dụng cụ sinh hoạt gia đình của các hộ
bị thiệt hại rất nhiều (chiếm 93,3% trong tổng số hộ được khảo sát), các vật
dụng bị thiệt hại rất đa dạng từ bàn ghế đến các dụng cụ để ăn uống. Số liệu ở
bảng 2 cũng cho thấy, mức độ thiệt hại về dụng cụ sinh hoạt cũng rất cao ở
mức từ 30 đến 50% và trên 50% có tỉ lệ hộ tương ứng là 51% và 25,5% so với
tổng số hộ bị thiệt hại. Sở dĩ có mức độ thiệt hại như vậy là do các hộ chủ
quan cho rằng nước lũ sẽ không lên cao, đồ dùng sinh hoạt lại nhiều hơn các
thứ khác trong nhà nên không thể đưa lên cao kịp thời. Còn lại các hộ bị thiệt
hại dụng cụ sinh hoạt ở mức dưới 30% ( chiếm 23,5% số hộ bị ảnh hưởng)
chủ yếu là các hộ có nhà cửa kiên cố hơn và có địa hình cao hơn.
Kết quả Khảo sát cũng cho thấy, lương thực của các hộ bị ảnh hưởng
trên diện rộng chủ yếu là lúa, ngô và lạc, với mức độ thiệt hại rất lớn. Mức độ
thiệt hại trên 50% có gần một nửa số hộ (chiếm 49,5% số hộ điều tra) bị ảnh
hưởng, còn lại lần lượt là mức độ từ 30 đến 50% có khoảng 38,1%, mức dưới
30% chiếm 12,4%. Những hộ thiệt hại ít, do nhà có vị trí cao chỉ bị hư hỏng
một số do ẩm móc vì để lâu ngày trong lũ, một số hộ khác không dự trữ lương
thực nhiều nên có thể cất giữ kịp thời khi nước lên.
Hầu hết các hộ được điều tra đều là những hộ cận nghèo và nghèo nên

Mức độ thiệt hại
10-30% 30-50% >50%
Chăn nuôi 92,4 44,3 41,2 14,5
Trồng trọt 97,1 50 37,3 12,7
Dụng cụ sản xuất 72,4 40,8 43,4 15,8
Nguồn: Phỏng vấn hộ năm 2011
Số liệu ở bảng 3 cho thấy, số hộ bị thiệt hại về chăn nuôi, trồng trọt và
dụng cụ sản xuất khá cao lần lượt là 92,4%; 97,1% và 72,4% số hộ điều tra.
Kết quả điều tra cũng cho thấy, số hộ có mức độ thiệt hại trong chăn nuôi
trên 50% khá thấp, chỉ chiếm 14,5% trong số các hộ bị thiệt hại, mức độ thiệt
hại dưới 30% và từ 30% đến 50% lần lượt là 44,3%; 41,2%. Thiệt hại trong
chăn nuôi của hộ chủ yếu là gà, vì người dân cho rằng nếu lũ có lên cao thì gà
có thể bay lên các chuồng trâu hay bò nên không cần đưa đi tránh lũ, nhưng
mọi thứ đã nằm ngoài dự đoán của họ do nước lũ lên quá nhanh và rất lớn nên
gà của họ đã bị cuốn trôi. Còn trâu, bò là tài sản quý giá đối với các gia đình ở
22
vùng nông thôn, đặc biệt là các hộ nghèo, nên khi lũ lên người dân đã đưa
chúng lên gửi cho các hộ trên cao ở các thôn như Hương Giang, Hương Phùng,
Hương Hòa, Hương Tân. Vì vậy thiệt hại về gia súc của các hộ không đáng kể.
Những thứ như rơm và chuồng trâu bò ở đây cũng bị cuốn trôi hay hư hỏng
nặng do hầu hết các chuồng nuôi của họ không được chắc chắn nên dễ bị tác
động do nước lũ.
Số liệu ở bảng 3 cũng cho thấy, trồng trọt cũng bị ảnh hưởng rất nhiều,
thiệt hại với mức độ dưới 30% chiếm một nữa (50%) số hộ bị thiệt hại, mức
từ 30 đến 50% và trên 50% lần lượt là 37,3% và 12,7% số hộ bị thiệt hại.
Trồng trọt có tỉ lệ số hộ bị ảnh hưởng cao hơn chăn nuôi nhưng lại có mức độ
thiệt hại không bằng chăn nuôi, bởi: Thứ nhất, trước khi cơn lũ đến người dân
đã kịp thu hoạch vụ mùa và chưa đi vào vụ mới, thứ hai do các thiệt hại về
trồng trọt chủ yếu của hộ là các cây trong vườn có giá trị kinh tế không cao và
không trồng nhiều một thứ, chủ yếu là: các loại rau, chuối, một số cây ăn quả

phẩm, đồ dùng gia đình, cá nhân, ) và cứu trợ bằng tiền mặt hoặc hỗ trợ
phiếu mua hàng (để đổi lấy hàng hóa).
24
Đánh giá nhu cầu
Xây dựng phương án cứu trợ
Tổ chức phát tiền
Chọn hộ, thẩm định,niêm yết danh sách và thu nhận ý kiến
Xây dựng phương án phát tiền
Tổ chức hội thảo tập huấn
Đánh giá hiệu quả sử dụng
Viết báo cáo
Dự án của Irish-Aid là cứu trợ tiền mặt không điều kiện, tức là người dân
có quyền được sử dụng bất cứ việc gì họ muốn. Đây là một hoạt động cứu trợ
mới ở Việt Nam, vì vậy việc để chính người dân đánh giá mức độ cần thiết
của dự án cấp tiền mặt là rất quan trọng. Kết quả cuộc thảo luận nhóm với các
hộ hưởng lợi và không hưởng lợi, đều chỉ ra rằng hình thức cứu trợ này rất
hợp lý, những thiệt hại và nhu cầu khôi phục hậu quả sau lũ lụt của mỗi hộ là
khác nhau nên cứu trợ bằng tiền mặt giúp người dân thuận lợi và linh động
trong việc quản lý, sử dụng nguồn tài trợ. Các hộ sẽ tự cân đối và chi tiêu số
tiền cứu trợ cho các hoạt động khôi phục lại đời sống hoặc sản xuất một cách
hiệu quả nhất. Tất cả (100%) hộ được hỏi đều trả lời rằng tiền dự án cấp đã
đáp ứng được nhu cầu cần thiết của gia đình họ.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 100% người dân được hỏi có mong
muốn được cứu trợ bằng tiền mặt. Họ cho rằng việc cứu trợ bằng hiện vật
cũng rất quan trọng, nhưng hiện vật chỉ bó hẹp một vài thứ như quần áo,
lương thực, giống cho sản xuất, và một số ít vật dụng cá nhân nhưng không
đủ để đáp ứng được tất cả các nhu cầu của mọi người, có một số vật dụng khi
nhận được họ không sử dụng được như quần áo quá cũ hay rộng so với
họ, Còn đối với tiền mặt họ có thể mua được những thứ mà gia đình đang
cần và không phải bỏ phí bất kỳ thứ gì.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status