PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
“Hạt muối là sản phẩm kết tinh từ thiên nhiên, là khoáng chất thiết yếu
của con người, là sản phẩm văn minh của nhân loại”[1]. Ngoài giá trị trong
cuộc sống hằng ngày muối cũng còn được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp
và y học. Trong đời sống văn hóa dân tộc người Việt Nam, nghề làm muối đã
xuất hiện từ rất lâu đời và đây có thể xem là một nghề truyền thống tồn tại mãi
với thời gian.
Việt Nam có bờ biển dài trên 3200km và có khí hậu nhiệt đới gió mùa là
một quốc gia có điều kiện thuận lợi để sản xuất muối. Ngành muối vốn được
xem là một ngành kinh tế trọng điểm trong phát triển nông nghiệp của Việt
Nam nhưng thực tế ngành muối hiện đang còn nhiều tồn tại. Diêm dân Việt
Nam đời sống còn rất nhiều vất vả, thị trường tiêu thụ bấp bênh, giá muối
không ổn định. Nghề làm muối lại vất vả và phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên
người dân nhiều nơi không còn mặn mà với nghề, mặt khác các chính sách
đầu tư cho nghề muối còn nhiều hạn chế, chưa thật sự được quan tâm. Chất
lượng muối nhiều nơi chưa đáp ứng nhu cầu muối sản xuất công nghiệp. Dẫn
đến tình trạng nước ta phải nhập khẩu muối ăn và muối dùng trong công
nghiệp chế biến thực phẩm và hóa chất. Đây là một thực tế đáng buồn.
Xã Hộ Độ một xã nằm ở phía Nam huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh cũng là
một địa phương có truyền thống lâu đời trong nghề làm muối. Với điều kiện tự
nhiên thuận lợi và những kinh nghiệm làm nghề quý báu do cha ông để lại nên
muối nơi đây được đánh giá có chất lượng cao và được nhiều nơi ưa chuộng.
Những năm trước kia nghề muối đưa lại thu nhập khá cho nhiều hộ dân, là một
nguồi cung cấp muối quan trọng cho các vùng lân cận và đi xa hơn nữa. Những
năm trước đây làm muối là nghề nghiệp chính của bà con diêm dân nơi đây.
Mặc dù hiện nay cơ cấu sản xuất đã có rất nhiều thay đổi nhưng nghề làm muối
vẫn là nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình để bám trụ lại với làng quê
của mình. Thế nhưng, những năm qua cùng với những bất cập chung với nghề
1
hóa chất, thực phẩm, y tế, mỹ phẩm
2. Muối thô: Là muối được sản xuất ra trên đồng muối hoặc khai thác ở
mỏ muối.
3. Muối tinh: Là muối được chế biến từ nguyên liệu muối thô theo
phương pháp nghiền rửa, hoặc tái kết tinh.
4. Muối công nghiệp: Là muối có hàm lượng các chất theo tiêu chuẩn do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền công bố dùng làm nguyên liệu cho ngành sản
xuất công nghiệp, hóa chất, thực phẩm, y tế, mỹ phẩm và một số lĩnh vực khác.
5. Sản xuất muối: Là quá trình làm ra muối từ nước biển, nguồn nước
mặn trong lòng đất hoặc khai thác từ mỏ muối.
3
6. Sản xuất muối thủ công: Là quá trình sản xuất được thực hiện trên
những đồng muối nhỏ lẻ, sử dụng sức lao động của con người, không sử dụng
thiết bị theo dây chuyền sản xuất.
7. Sản xuất muối công nghiệp: Là quá trình sản xuất muối thực hiện trên
đồng muối được thiết kế, xây dựng phù hợp theo yêu cầu công nghệ trên diện
tích tập trung, quy mô lớn và được vận hành theo một quy trình, công nghệ
bắt buộc. Hoặc sản xuất muối mỏ theo quy trình công nghiệp.
8. Chế biến muối: Là quá trình sử dụng thiết bị, kỹ thuật để làm ra loại
muối có chất lượng phù hợp, đáp ứng yêu cầu sử dụng trong các lĩnh vực từ
nguyên liệu muối thô.
9. Kinh doanh muối: Bao gồm các hoạt động chế biến, mua, bán, xuất
nhập khẩu, dự trữ và vận chuyển lưu thông muối.[2]
2.1.2 Một số nghiên cứu về nghề muối
Trước năm 1960 có rất ít tài liệu công trình nghiên cứu đề cập đến nghề
làm muối truyền thống cũng như kỹ thuật sản xuất muối. Cho đến cuối năm 70
của thế kỷ XX, tác giả Vũ Bội Truyền xuất bản 2 tác phẩm:”kỹ thuật sản xuất
muối ăn” (1978), hai công trình này giới thiệu kỹ thuật sản xuất muối ăn theo 2
phương pháp chủ yếu là phương pháp phơi cát và phương pháp phơi nước, đây
là cách làm muối đặc trưng của hai miền nam bắc nước ta. Năm 2005 tác giả
diêm dân (người sản xuất muối), và những khó khăn trong đời sống của họ
như “Mặn mòi làng muối Hộ Độ” của Võ Đức Báu, 1996, báo Hà Tĩnh, số
20,2. “Đôi điều trăn trở về làng muối Hộ Độ” của Nguyễn Trường Biên,
1999, báo Hà Tĩnh, số 3846.
2.2 Thực trạng của nghề muối
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ muối trên thế giới
“Muối là ngành hàng lớn có tầm quan trọng trong thương mại. Hằng
năm có khoảng 90 triệu tấn muối lưu thông giữa các châu lục. Về khối lương
lưu thông trên biển chỉ đứng sau dầu thô và quặng sắt”[3]
Hiện nay hầu như 111 quốc gia có biển đều làm muối. Bao gồm từ công
nghệ phơi nước truyền thống bằng năng lượng mặt trời, đến các công nghệ
khai thác khác trong việc khai thác nguồn nước ngầm, khai thác mỏ đá muối,
chưng cất các nồi cô chân không. Ở các nước có vĩ độ cao dùng phương pháp
5
đông lạnh (Nga, Thụy Điển) còn Nhật Bản chủ yếu dùng phương pháp chiết
điện thấm[4]
Muối được sản xuất từ ba nguồn muối mỏ, nước biển và các hồ nước
mặn trong đất liền. sản lượng muối toàn thế giới hàng năm đạt mức 200 triệu
tấn, 1/3 trong số này được sản xuất từ nước biển, 1/3 từ nước mặn trong đất
liền, số còn lại là muối mỏ.
Muối mỏ và muối biển chiếm phần lớn, đạt mức gần tương đương nhau.
Muối mỏ tập trung chủ yếu ở châu Âu, trong khi đó, muối biển có nhiều tại
châu Á, châu Phi và châu Úc, Nam Mỹ có cả hai loại muối này. Thống kê cho
thấy, hàng năm, sản lượng muối biển trên toàn thế giới đạt gần 70 triệu tấn;
muối mỏ đạt 60 triệu tấn; muối từ nguồn nước mặn đạt 70 triệu tấn/ năm.
Trong số đó, Australia và Mexico là hai quốc gia cung cấp muối lớn nhất trên
thế giới, với tổng sản lượng muối của riêng Australia đã là 14 triệu tấn/năm.
Tuy nhiên, nếu tính theo đầu người, thì Canada là quốc gia tiêu thụ nhiều
muối nhất trên thế giới, 360 kg/người/năm.[7]
Cũng theo thống kê, sản lượng muối (bao gồm cả muối biển và muối
muối từ nước biển.
Thứ hai, đây là một ngành sản xuất ra sản phẩm thiết yếu phục vụ đời
sống con người và là sản phẩm có tác động lớn đến an sinh xã hội trong hoà
bình cũng như khi có chiến tranh xảy ra.[4]
Thứ ba, ngành này cũng sản xuất ra những loại nguyên liệu quan trọng
phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ muối ăn,
người ta có thể điện phân để lấy kim loại Natri (Na) nguyên chất, xút
(NaOH), Clo (Cl
2
), Hyđro (H
2
), axít Clohyđric (HCl) và những hoá chất cơ
bản dùng để sản xuất ra rất nhiều sản phẩm công nghiệp khác. Muối ăn còn
dùng trong việc sản xuất thuốc nhuộm, thuốc nổ, Natri Carbonat (Na
2
CO
3
),
phân bón Amon Clorua (NH
4
Cl) xà phòng và bột giặt. Ngoài ra, trong quá
trình làm muối, người ta còn có thể thu được Magie Oxit (MgO), Magie
Clorua (MgCl) sử dụng trong công nghiệp sản xuất gốm sứ, thủy tinh… Và
cuối cùng, đây là ngành sản xuất có liên quan đến sinh kế của hàng vạn
diêm dân, những người vốn đã rất nghèo khó và ít có điều kiện vươn lên
trong cuộc sống.[5]
7
2.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ muối ở nước ta
Nghề làm muối là một nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam, gắn
chặt với nguồn nước biển và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí
STT Địa phương Diện tích Sản lượng
Diện tích
thực (ha)
Tỷ lệ (% so
cả nước)
Sản lượng
thực
(tấn/niên vụ)
Tỷ lệ (%
so cả
nước)
1 Bạc Liêu 3.205,00 21,30 39.661,0 4,95
2 Sóc Trăng 317,00 2,10 4.600,0 0,58
3 Bến Tre 1.505,25 10,04 54.972,0 6,86
4 Bình Thuận 1.012,77 6,75 86.977,0 10,86
5 Khánh Hòa 1.2.01,15 8,01 50.984,0 6,37
6 TP Hồ Chí Minh 1.516,00 10,11 65.256,0 8,15
7 Trà Vinh 301,20 2,01 11.640,0 1,45
8 Bà Rịa -
Vũng Tàu
1.128,50 7,53 68.563,0 8,56
9 Ninh Thuận 1.531,00 10,22 135.000,0 16,80
10 Phú Yên 180,00 1,20 13.975,0 1,75
11 Bình Định 218,90 1,45 22.921,0 2,86
12 Quảng Ngãi 135,00 0,90 6.054,0 0,75
13 Quảng Nam 35,00 0,23 3.900,0 0,49
14 Quảng Bình 96,50 0,04 6.272,0 0,78
15 Hà Tĩnh 243,00 1,62 25.465,0 3,18
16 Nghệ An 836,62 5,58 79.586,5 9,94
17 Thanh Hóa 417,89 2,78 27.896,0 3,48
Việt Nam có hai phương pháp sản xuất từ muối biển là sản xuất theo
phương pháp phơi cát ở miền Bắc và sản xuất theo phương pháp phơi nước ở
miền Nam. Cả hai phương pháp này nếu sản xuất theo cách thức truyền thống
hầu như không tách được hết tất cả tạp chất từ nước biển. Các tạp chất tan
như gốc sunfat, magiê, canxi… cần chất trợ lọc để loại bỏ.
Hiện tại, Tổng Công ty Muối Việt Nam có nhiều cơ sở ứng dụng phương
pháp sản xuất mới (dùng bể lọc) tách được cả tạp chất tan và không tan, tuy
nhiên qui mô chưa lớn. Chỉ một số cơ sở ứng dụng được công nghệ cao này như
Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Thuận… còn đa phần vẫn theo phương pháp
truyền thống lạc hậu, thiếu máy móc.
Vai trò của muối ăn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân rất quan trọng,
sự phát triển mau chóng của các ngành công nghiệp hoá chất đòi hỏi một
10
lượng lớn muối ăn với độ tinh kiết khá cao; nhưng hiện nay, phương pháp sản
xuất muối của nước ta còn thô sơ và lạc hậu, độ tinh khiết của muối còn kém,
mức sản xuất còn thấp so với khả năng của diện tích và nhân lực.
2.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh
muối ở nước ta hiện nay
Việt Nam được đánh giá là nơi “địa lợi” cho nghề muối, bởi có khoảng
hơn 3.000 km bờ biển và khí hậu nhiệt đới. Thế nhưng vài năm trở lại đây,
nhập khẩu muối ngày càng tăng. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất
cân đối cung cầu của ngành muối được đánh giá là do thiếu “thiên thời” và
“nhân hòa”. Có 3 yếu tố chính tác động tới nghề muối là yếu tố chính sách,
yếu tố điều kiện tự nhiên và yếu tố thị trường.[8]
2.3.3.1 Yếu tố chính sách
Chính sách nông nghiệp nông thôn: là tổng thể các biện pháp kinh tế
hoặc phi kinh tế có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và các ngành có
liên quan đến nông nghiệp nông thôn theo một định mức với một mục tiêu
nhất định”[9].Chính sách nông nghiệp nông thôn không chỉ là chính sách đơn
thuần về nông nghiệp, nông thôn mà là các chính sách, các biện pháp tác động
trường phát triển hàng hóa xuất ra bán giá cao, người sản xuất thu được
nhiều lợi nhuận, khi đó nó thúc đẩy phát triển với tốc độ cao, quy mô sản
xuất được mở rộng và ngược lại[9]. Hiện nay thị trường tiêu thụ muối của
nước ta đang có nhiều bất cập, giá muối bấp bênh, người dân sản xuất ra
không tiêu thụ được còn chính phủ mấy năm gần đây phải đi nhập khẩu
muối dùng cho công nghiệp.
Việc Việt Nam xin gia nhập WTO vào cuối năm 2005 cũng như những
kết quả và triển vọng sau 5 năm trở thành thành viên chính thức của diễn đàn
Á - Âu APEC trong “Tuần lễ APEC tại Việt Nam” tháng 10 vừa qua là cơ hội
và thách thức rất lớn cho sản phẩm muối Việt Nam. Trong xu thế hội nhập
này, đòi hòi Tổng công ty muối phải nâng cao và cải tạo công nghệ hiện có để
tạo ra được những sản phẩm muối chất lượng hơn, tương đương các nước
trong khu vực và Quốc tế để xâm nhập vào thị trường nước ngoài nâng cao
thương hiệu VISALCO.
12
Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam là một nước có nền kinh tế
“dựa vào các yếu tố”- có nghĩa là một nền kinh tế mà sự tăng trưởng dựa vào
các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và lực lượng lao động chủ yếu
giản đơn. Như vậy, đối với ngành muối Việt Nam với truyền thống khai thác
theo phương pháp thủ công dựa vào sức lao động của diêm dân thì chất lượng
muối Việt Nam sẽ là một lợi thế cần khai thác triệt để. Với tốc độ tăng trưởng
GDP hơn 7%, mức sống của người dân Việt Nam đang dần được nâng cao
cùng với tâm lý thích tiêu dùng hàng Việt Nam chất lượng cao, các sản phẩm
muối chất lượng cao của Tổng công ty muối đang ngày càng thu hút. Trong
những năm tới với nhu cầu càng cao của người dân đòi hỏi một sự đầu tư
không chỉ về chất lượng mà còn là hình thức của sản phẩm muối Việt Nam.[8]
2.3.3.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sản xuất muối
Do đặc điểm của nghề làm muối là phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết
nên tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến nghề sản xuất muối. Tự nhiên là nhân tố
khó dự đoán nhất do tình hình thời tiết những năm gần đây thay đổi thất
đến chất lượng muối.
- Những yếu tố ảnh hưởng đến độ bay hơi như: nhiệt độ, độ ẩm không
khí; hướng và sức gió… là những yếu tố có ảnh hưởng nhiều trong sản xuất
muối. Lượng bay hơi càng lớn thì thời gian và hiệu quả sản xuất muối càng
cao và ngược lại. Nơi sản xuất muối cần có độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ
không khí cao, thời gian nắng dài và có hướng gió thổi từ lục địa thổi tới với
cấp gió vừa phải (cấp 4-5).
- Lượng mưa: lượng mưa có ảnh hưởng lớn trong sản xuất muối. Lượng
mưa lớn phải xây dựng các thiết bị tháo nước ngọt, mất thời gian và chi phí để
tháo nước ngọt, khôi phục sản xuất, cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các
cơ sở hạ tầng đồng muối.
- Bão: bão có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất muối. Ngoài việc khắc
phục những ảnh hưởng do mưa lớn gây ra, bão còn làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cơ sở hạ tầng của đồng muối, nhất là các cống lấy nước, mương dẫn nước…
- Số lần mưa ít, số lượt nắng liền nhiều: Số lần mưa ít, mặc dù lượng
mưa cao mà số lượt nắng liền có nhiều thì ảnh hưởng đối với sản xuất muối
không cao nếu số lần mưa nhiều (cho dù lượng mưa nhỏ), số lượt nắng liền ít
thì ảnh hưởng nhiều đến sản xuất muối vì khi đó không đủ thời gian nắng để
muối kết tinh. Nếu hàng năm, mưa chỉ tập trung vào một số tháng trong năm
thì ảnh hưởng xấu của mưa tới sản xuất muối biển ở đồng muối sẽ không
14
nhiều bằng khi mưa rải đều trong các tháng của vụ sản xuất. Bởi vì mỗi khi có
mưa, diêm dân phải mất nhiều thời gian và chi phí để phơi khô mặt ô bay hơi
và đưa nước chạt về nơi sản xuất… Mưa, nhất là mưa bất thường cũng thường
làm mất đi phần nước biển đã được cô đặc đến những nồng độ nhất định trong
quá trình bay hơi trước đó, đôi khi còn làm mất đi lượng muối đã được sản
xuất trước đó do đa phần các kho chứa trong đồng muối đều là kho tạm.[6]
2.4 Thực trạng sản xuất muối ở Hà Tĩnh
Theo báo cáo của Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Hà Tỉnh cho biết Hà
Tĩnh có 137 km bờ biển, có 08 xã thuộc 4 huyện có hộ dân làm nghề muối,
họ ngày càng điêu đứng. Trong khi đó, Nhà nước phải đi nhập khẩu muối để
cân bằng cung cầu.
Không chỉ phập phồng với giá muối "nóng lạnh", người làm muối gần
như phải tự xoay sở trước hàng loạt khó khăn: Thiếu vốn đầu tư, phương tiện
vận chuyển, dự trữ
Do phải vay vốn với lãi suất cao, nhiều diêm dân còn phải bán "muối
non" để trả nợ, sau một vụ sản xuất, người dân lãi rất thấp. Không được hỗ trợ
đúng mức, người làm muối phải tự cứu mình bằng cách bỏ nghề quay sang
tìm kiếm nghề khác.
Bước sang năm 2011 tình hình lại khó khăn hơn. Nguyên nhân trước hết
do giá muối trên thị trường đều hạ xuống mức thấp chưa từng có, từ giá bán
ra 1.500 đồng/kg xuống còn 1.000 đồng/kg
Không những rớt giá mà còn khó tiêu thụ nên tình trạng muối tồn kho
ngày một nhiều. Trong khi đó mùa vụ mới đã cận kề nhưng diêm dân nhiều
xã không mặn mà với nghề muối, bỏ bê ô nại, kéo nhau lên thành phố làm
cửu vạn hoặc vào Nam tìm kế sinh nhai.[11]
16
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ sản xuất muối ở xã Hộ Độ
huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh.
- Thời gian nghiên cứu từ : 01/2011 đến 05/2011
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của nghề sản xuất
muối trong 3 năm trở lại đây.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu được tiến hành ở xã Hộ Độ huyện
Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh.
hướng phát triển kinh tế của UBND xã Hộ Độ các năm 2008, 2009, 2010
- Sách, báo, internet các vấn đề liên quan đến nghề muối
- Các chương trình, dự án phát triển nghề muối của xã, huyện, tỉnh, của
các tổ chức phi chính phủ
- Các nghị định liên quan tới ngành muối của chính phủ.
Thu thập thông tin sơ cấp:
•Phỏng vấn sâu người am hiểu:
Nghiên cứu đã tiến hành 07 cuộc phỏng vấn sâu trong đó có chủ tịch xã,
phó chủ tịch, 4 người có thâm niên trong nghề làm muối, và 2 xóm trưởng
các xóm Vĩnh Yên và Trung Châu.
18
+ Nội dung: Tìm hiểu nghề làm muối, thực trạng và giải pháp.
+ Công cụ: Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc kết hợp với nói chuyện.
•Thu thập thông tin cấp hộ:
Quan sát, phỏng vấn theo bảng hỏi bán cấu trúc là những công cụ được
áp dụng để thu thập các thông tin liên quan đến thực trạng của nghề muối.
Số lượng mẫu thu thập qua bảng hỏi bán cấu trúc cụ thể như sau:
- Tổng số mẫu điều tra là 40 mẫu
- Tổng số nhân khẩu trong 40 mẫu điều tra là: 189 nhân khẩu với 117 lao
động đang làm việc.
- Số người được phỏng vấn trực tiếp là 40 người
- Số người được phỏng vấn gián tiếp thông qua 40 người trên là: 149
người
3.3.4. Phương pháp phân tích
Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp này được sử dụng để mô tả tổng quát về địa bàn nghiên
cứu, thực trạng sản xuất muối, thực trạng tiêu thụ của nghề muối tại địa bàn
nghiên cứu.
- Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình
bày số liệu thô và lập bảng phân phối tần số. Tần số là số lần thực hiện của
21
Hộ Độ nằm cách trung tâm thành phố Hà Tĩnh 7km về phía Bắc, có dòng
sông Hạ Hoàng thông ra biển qua cửa Sót, nơi đây là một địa bàn thuận lợi
cho việc giao thông đi lại bằng đường thủy. Hiện nay, khu vực này là một
trong những địa điểm hoạt động kinh tế sôi động, có tuyến đường tỉnh lộ 9 đi
qua, là cửa ngõ để vào huyện Lộc Hà cũng như ra biển lớn.
4.1.1.2 Địa hình
Nhìn chung Hộ Độ có địa hình nhỏ gọn, tương đối thấp, bằng phẳng. Ba
phía được bao bọc bởi sông Hộ Độ và sông Đò Điệm. Dạng địa hình chủ yếu
là đồng bằng ven sông, phù sa chính đã tạo nên những dãi đồng bằng này.
4.1.1.3 Khí hậu
Thuộc vùng duyên hải miền Trung nên xã có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
trong năm có hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô, phù hợp với 2 thời kì
xâm nhập của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Mùa khô kéo dài
từ tháng 4 tháng 9, với nhiệt độ trung bình là 32
0
C, có khi lên tới 39
0
C đến
40
0
C, thời gian này gió phơn Tây Nam thổi từ Tây Trường Sơn qua (hay còn
gọi là gió Lào) thổi vào tạo nên nhiệt độ rất khô và nóng vào đầu mùa hạ.
Vùng đồng bằng Nghệ An, Hà Tĩnh là hai nơi thời tiết gió Tây phát triển rất
mạnh, hằng năm quan sát được 20 đến 30 ngày. Với đặc trưng khô nóng,
hằng năm nhận được lượng bức xạ mặt trời lớn, gió nhiều, bốc hơi mạnh, là
điều kiện lý tưởng để hạt muối kết tinh nhanh.
4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
4.1.2.1 Tài nguyên đất
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 668,96 ha (2007), nhìn chung đất đai ở
Hộ Độ khá đa dạng. Theo tài liệu điều tra nông hóa thổ nhưỡng tỉnh Hà Tĩnh
năm 1976 và tài liệu điều tra bổ sung thì đất đai chủ yếu có các loại sau
Đất cát nhẹ: Chiếm khoảng 25% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Loại
đất này bao quanh xã.
Đất mặn trung bình do nước mạch mặn: chiếm 50% tổng diện tích đất tự
nhiên, phân bố ở khu vực giữa địa bàn xã. Đây là loại đất tốt và chủ yếu để
sản xuất muối.
Đất mặn không trồng trọt được: loại đất này phân bố tập trung ở xóm
Nam Hà, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên. Thực tế, đây cũng là loại
đất có thể làm muối, tuy nhiên không tốt bằng loại đất trên
Đất mặn chua: chiếm đến 20% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở phía
Bắc giáp xã Mai Phụ. Đất mặn chua cũng có thể sử dụng để làm muối, nếu
gia công làm giảm bớt độ chua và tăng thêm độ mặn của đất.
Nhìn chung, với phương pháp sản xuất muối theo phương pháp phơi
cát thì chủ yếu là lấy chất mặn từ đất đã phơi với nước mặn, nên đất có độ
mặn càng lớn càng tốt. Tuy vậy, nếu đất bị mặn thì không có khả năng làm
nông nghiệp. Trên thực tế, xã nhà đã tận dụng loại đất này để trồng rừng
phòng hộ.[12]
23
Bảng 4.1: Kết quả điều tra về tình hình sử dụng đất của xã 2 năm
2005 và 2010.
Chỉ tiêu ĐVT
Năm 2005 Năm 2010
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
Tổng diện tích
đất tự nhiên
Ha 668,96 100 668,96 100
Nguồn nước ngầm: Hầu như trong xã, nguồn nước ngầm đều nhiễm mặn.
Mức độ nông sâu thay đổi tùy thuộc vào địa hình và lượng mưa trong năm.
4.1.2.3 Tài nguyên biển
Xã Hộ Độ cách biển 6 km nhưng có dòng sông Hạ Hoàng thông ra với
biển nên người dân đã lợi dụng chế độ thủy triều để lấy nước phục vụ cho
nghề muối. Độ mặn của nước cộng với độ mặn của đất, qua các thao tác sản
xuất sẽ tạo ra hạt muối tinh khiết.
4.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
Do đặc thù của vùng nên diêm nghiệp là ngành kinh tế chính của xã.
Bình quân năng suất hằng năm năng suất đạt 80 tấn/ha. Thu nhập bình quân
đầu người năm 2010 đạt 9,5 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo của xã
thời điểm tháng 12 năm 2010 là 11% (theo chuẩn nghèo mới của cả nước)
Hạ tầng kinh tế - xã hội của xã đang nằm ở tốp trung bình của tỉnh. Hầu như
mọi người dân đều được sử dụng nước sạch nhờ chương trình đưa nước sạch về
với người dân được thực hiện từ năm 2007. Trình độ quản lý, năng lực lãnh đạo
của hệ thống chính trị ở xã: Đảm bảo đạt chuẩn theo tiêu chí của Nhà nước.
- Đặc điểm nguồn nhân lực.
Diện tích đất ở là 38ha. Dân số toàn xã ước tính có 1890 hộ với 7845
khẩu chia làm 13 xóm, Nhìn chung dân cư tập trung khá đông. Cụm dân cư
bố trí khá hợp lý, hầu như xóm nào cũng có diện tích làm muối
Hiện xã có khoảng 2790 người trong độ tuổi lao động, trong đó tỷ lệ nam
49%, nữ 51%.
25