đánh giá tình hình phát triển nuôi xen ghép trên phá tam giang - cầu hai - Pdf 13

Phần 1. Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ở Thừa Thiên Huế là một trong những
đầm phá ven biển lớn nhất ở Đông Nam Á. Nó đóng một vai trò kinh tế và
sinh thái quan trọng đối với đời sống mưu sinh của người dân địa phương
cũng như sự phát triển của tỉnh. Tuy nhiên những năm gần đây thì suy giảm
tài nguyên đầm phá và dịch bệnh ở tôm là những vấn đề mà cộng đồng người
dân vùng đầm phá gặp phải [4]. Giải pháp cho vấn đề này là nuôi xen ghép.
Đây là một mô hình phù hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản, ổn định cuộc
sống của người dân ở vùng phá Tam Giang - Cầu Hai. Nuôi xen ghép là một
hình thức khai thác tổng hợp sử dụng nhiều đối tượng ăn ở những tầng khác
nhau nhằm tạo ra hệ sinh thái cân bằng, giảm rủi ro cho người nuôi. Trước
đây, mô hình này đã phát triển ở phá Tam Giang tuy nhiên chỉ là hình thức
nuôi trồng tự phát dựa trên kinh nghiệm của người dân và chưa được hệ
thống. Trong 3 năm trở lại đây, được sự quan tâm hỗ trợ của các cơ quan chức
năng, các tổ chức phi chính phủ (NAV, IMOLA…) và sự phối hợp của các cơ
quan nghiên cứu, mô hình nuôi xen ghép đã được chuyển giao cho người dân
dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đó số lượng và quy mô nuôi xen ghép phát
triển rất nhanh.
Vinh Giang và Hương Phong là hai xã thuộc hai huyện Phú lộc và
Hương Trà, nằm bên phá Tam Giang - Cầu Hai. Là hai xã có diện tích nuôi
trồng thủy sản khá lớn, sinh kế của một bộ phận lớn người dân dựa vào các
hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản trên phá Tam Giang - Cầu Hai.
Trong những năm gần đây cùng với xu thế phát triển chung thì tại hai xã này
cũng có sự chuyển đổi hình thức nuôi trồng sang nuôi xen ghép một cách
mạnh mẽ. Tuy nhiên tại địa phương, có nhiều hộ vẫn chưa nuôi xen ghép,
theo một số thông tin không chính thức có được thì một số hộ trong năm tới
sẽ quay lại nuôi đơn canh và một số không muốn duy trì mô hình khi không
có sự hỗ trợ của dự án. Vậy, nuôi xen ghép có phải là hướng đi phù hợp cho
người dân ở đây? Liệu nuôi xen ghép có thể duy trì và có khả năng tiếp tục
phát triển ở trên đầm phá Tam Giang? Nếu đây là một hướng đi phù hợp thì

hình này là để có thể tạo ra một khối lượng sản phẩm mang tính chất hàng hóa
và có thể đầu tư thâm canh áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật. Loại hình này
phát triển mạnh trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai vào những năm 1998
-2005 và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, trong những năm gần
đây do phát triển ồ ạt, nên đã dẫn đến những rủi ro về môi trường và diện tích
nuôi trồng loại hình này đang có xu hướng giảm xuống [9].
Nuôi bàu, chuôm (nuôi hỗn hợp): Là hình thức nuôi nhiều loài trên một
diện tích, được vây bằng các loại lưới đặt trên đầm phá, chủ yếu là tận dụng
nguồn thức ăn tự nhiên. Các loài được nuôi không cố định và không mang
tính tận dụng không gian hay phối hợp của các loài, không đầu tư thức ăn
hoặc đầu tư rất thấp. Là hình thức nuôi thường được các hộ tham gia khai thác
thủy sản áp dụng.
3
Nuôi lồng: Là hình thức nuôi di động, ở đó thì các loại được nuôi chủ yếu là
các loài cá khác nhau. Thông thường trong một lồng chỉ có một loại cá như:
cá Chẽm, cá Mú, cá Hồng… Các loại cá được nuôi tận dụng thức ăn tự nhiên
trên dòng chảy và nguồn thức ăn công nghiệp kết hợp.
Nuôi chắn sáo: Là hình thức nuôi của các hộ có làm nghề khai thác thủy sản
hay áp dụng, hồ nuôi được hình thành bằng 4 sáo chắn xung quanh, 1 lớp hay
nhiều lớp lưới. Các loài được nuôi rất đa dạng: có cá Tôm, Cua, Cá,… và cho
ăn rất ít, dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên là chủ yếu.
Nuôi xen ghép: Là loại hình nuôi nhiều loài trên một diện tích ao nuôi trong
một thời gian nhằm tận dụng tiềm năng của ao nuôi. Với hình thức nuôi này
cho phép tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên và thể tích ao nuôi để đạt
được năng suất cao với chi phí đầu tư thấp, hạn chế được những rủi ro về dịch
bệnh, thị trường… Hiện nay các hình thức nuôi nuôi xen ghép trên đầm phá
chủ yếu bao gồm: Tôm - Cua, Tôm - Cá - Cua, Tôm - Cá, …[9].
2.2. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2.1 Thực trạng nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển miền trung Việt Nam, có bờ biển

Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn và cũng đã được
mở rộng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công
đạt được thì vẫn còn có rất nhiều sự tiềm ẩn về những khó khăn cũng như
những nguy cơ có thể xảy ra [1,3,5]. Diện tích nuôi tôm, sản lượng và năng
suất trung bình của tỉnh trong giai đoạn 5 năm từ 2003-2007 được thể hiện ở
bảng 2.
Bảng 2: Diện tích và sản lượng tôm nuôi tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn
2003-2007.
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Diện tích nuôi tôm
(ha)
3.672,2 3.998 3.464 3.024,4 3.053,1
Sản lượng tôm
(tấn)
3.174 3.443 3.362 3.861 3.710,5
Năng suất trung bình
(tấn/ha)
0,864 0,861 0,971 1,227 1,253
(Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, niên giám thống kê 2007)
Qua bảng cho thấy, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt đỉnh vào năm 2004
với gần 4.000 ha. Năm 2003 là năm có tổng diện tích nuôi chiếm tỷ trọng cao
nhất trong diện tích nuôi thủy sản của tỉnh 80,44%. Việc phát triển nuôi tôm
một cách ồ ạt và không có quy hoạch, việc chuyên canh con Tôm đã gây ra ô
5
nhiễm môi trường nước, dẫn đến sự bùng phát của dịch bệnh. Các hộ dân nuôi
trồng thủy sản thua lỗ tăng dần, điều đó là nguyên nhân làm diện tích nuôi tôm
nước lợ giảm nhẹ từ năm 2005, trong hai năm 2006, 2007 duy trì ở mức độ hơn
3.000 ha. Thực trạng này là đáng báo động, đầu năm 2007 đã có nhiều dự án về
phát triển vùng nuôi tôm, các giải pháp giảm rủi ro, hình thức nuôi trồng mới,
… đang được nghiên cứu và áp dụng đạt được những kết quả nhất định.

Cũng như toàn tỉnh, hoạt động NTTS ở phá Tam Giang - Cầu Hai cũng
được phát triển vào đầu những năm 90. Hình thức nuôi chủ yếu là chuyên
canh nuôi tôm sú. Đặc biệt trong những năm gần đây NTTS đã phát triển
nhanh về diện tích và số lượng hộ tham gia. Theo đó, hàng ngàn hecta đất NN
đã được chuyển đổi sang làm hồ nuôi tôm cá và làm lồng nuôi thủy sản được
xem là phong trào rất nổi trội. Diện tích nuôi tôm tăng đột biến từ 1.800 ha
năm 1999 lên đến 3.200 ha năm 2001 và đạt 4.100 ha năm 2006 (Số liệu
thống kê Thừa Thiên Huế, 2007). Theo Sở Thuỷ sản, NTTS đã gặt hái được
nhiều thành tựu và góp phần vào việc tăng thu nhập cho người dân. Diện tích
nuôi trồng và sản lượng của 4 huyện Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và
Phú Lộc tăng dần từ các năm 2003 đến 2007 (Bảng 4).
Bảng 4: Diện tích nuôi trồng thủy sản ven và trên đầm phá của các huyện tỉnh
đến cuối năm 2006
Huyện
Diện tích nuôi thủy sản (ha)
Tổng Cao Triều Hạ Triều Chắn Sáo
Phú Lộc 1.010,00 325,65 684,35 0
Phú Vang 1.908,27 765,41 662,56 480,30
Quảng Điền 694,05 30,70 656,35 7,00
Hương Trà 287,60 27,70 259,90 0
(Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế, niên giám thống kê 2007)
Theo qui hoạch của tỉnh, nuôi tôm được xem là hoạt động NTTS quan
trọng nhất xét về diện tích nuôi, số người tham gia cũng như qui mô đầu tư.
Chính quyền tỉnh đặc biệt chú trọng vào hoạt động sản xuất công nghiệp này
và coi đó là một trong những giải pháp xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội trong vùng. Trong những năm 2000-2002 nuôi tôm đã
có những kết quả tốt và mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho ngư dân [8]. Tuy
nhiên trong những năm gần đây, tôm là đối tượng nuôi có nguy cơ rủi ro cao.
Cùng với sự thâm canh hóa trong nuôi tôm trên đầm phá, ô nhiễm nguồn
nước và dịch bệnh là những thách thức cho sự phát triển bền vững của nuôi

hợp với từng điều kiện (vốn, hồ, kỹ thuật, kinh nghiệm…) của hộ và đặc biệt
là cần nghiêm cấm sử dụng các loại phương tiện có tính huỷ diệt.
Đầm phá không chỉ hỗ trợ sinh kế của nhiều cộng đồng ngư dân, mà
còn là hệ sinh thái nuôi dưỡng nhiều loài thủy sản gần bờ và xa bờ. Việc phát
8
triển các ngư cụ đánh bắt hủy diệt có thể là một trong những nguyên nhân
quan trọng làm hủy diệt sinh thái ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật, tới sự
phát triển bền vững. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, xây
dựng các mô hình nuôi trồng thủy sản an toàn với môi trường sinh thái có thể
là một giải pháp cho sự phát triển bền vững kinh tế của cả khu vực.
2.2.4 Một số vấn đề trong NTTS trong giai đoạn 2005 - 2010
Phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ đầm phá rộng lớn, với diện tích
mặt nước vào khoảng 22.000 ha [4], với chế độ nước lên xuống theo mùa, có
nhiều thức ăn tự nhiên là điểm thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy hải sản.
Với những điều kiện tự nhiên khá thuận lợi việc phát triển thủy sản ở đây đã
phát triển mạnh từ những năm 90 và đến năm 2004 thì diện tích nuôi trồng
trên đầm phá đạt mốc cao nhất và có dấu hiệu chững lại ở những năm tiếp
theo. Sự chững lại này chứng tỏ việc phát triển NTTS trên phá Tam Giang
đang gặp phải những trở ngại. Sau đây là một số đề mà NTTS trên phá Tam
Giang đang gặp phải.
- Về suy thoái môi trường NTTS
Từ năm 2005, hầu hết các xã nuôi tôm ven phá đều phải vay nợ ngân
hàng. Ở xã Quảng An, sau vụ nuôi 2005 bị thất bại, có đến 80% người nuôi
nợ ngân hàng từ 20-50 triệu đồng, có hộ nợ lên đến 100 triệu đồng [6]. Từ
năm 1994 đến nay, đã có rất nhiều ngiên cứu trong nước và quốc tế về quản
lý nguồn lợi sinh học đầm phá một cách hợp lý do các tổ chức IDRC, IMOLA
và dự án NAV tài trợ. Hầu hết các nghiên cứu này đều cho thấy rằng vấn đề
suy thoái môi trường đầm phá đang là vấn đề cấp thiết nhất hiện nay. Trong
những năm gần đây thì mật độ nuôi tăng lên nhanh chóng, và đi kèm với nó là
tình trạng môi trường nuôi ngày càng suy thoái. Do người dân không quản lí

có sự thống nhất, gây chồng chéo làm cản trở dòng nước chảy và nảy sinh các
vấn đề cấp thoát nước, làm cho dịch bệnh dễ dàng lây lan.
2.3 Một số NC liên quan đến mô hình nuôi xen ghép
NTTS nước lợ, nước mặn có giá trị kinh tế cao của các đối tượng nuôi
nên chỉ trong thời gian ngắn diện tích tăng lên rất nhanh. Người sản xuất đã
quá tập trung phát triển theo hướng chuyên canh nên làm cho môi trường
nước ao nuôi bị suy thoái và tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, đặc biệt là
trong nuôi chuyên tôm. Trước tình hình như vậy những hướng giải quyết giữa
bảo tồn và phát triển đã được đặt ra. Một trong những giải pháp thích hợp
10
được sự nhất trí cao của các tổ chức nghiên cứu quốc tế và trong nước là áp
dụng hình thức nuôi kết hợp (nuôi ghép nhiều đối tượng).
Một số nghiên cứu về nuôi xen ghép đã được tiến hành trên phá Tam
Giang, mà đáng chú ý là nghiên cứu được tiến hành bởi Nguyễn Phúc Tài và
Phạm Xuân Hùng thuộc Đại học Kinh tế Huế, đề tài được tiến hành trong
năm 2008 tại Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tập trung vào so
sánh hai mô hình nuôi chủ yếu đó là nuôi chuyên canh và nuôi xen ghép. Kết
quả nghiên cứu của đề tài cho thấy việc chuyển đổi mô hình nuôi xen ghép
với việc đa dạng hóa đối tượng nuôi đã đem lại kết quả cao bền vững hơn với
mô hình nuôi chuyên canh tôm [9]. Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa thực tế
rất cao, nó chứng minh được bằng định lượng hiệu quả về mặt kinh tế của mô
hình nuôi xen ghép.
Một đề tài nuôi xen ghép nữa cũng đáng quan tâm là đề tài của Nguyễn
Ngọc Phước, Đại học Nông lâm Huế, nghiên cứu này được tiến hành tại xã
Lộc Bình - huyện Phú Lộc, với mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế và ảnh
hưởng môi trường của mô hình nuôi ghép (tôm sú và cá đối). Kết quả của
nghiên cứu này chỉ ra rằng, thứ nhất tất cả các thông số chất lượng nước khá
phù hợp cho tôm sú và cá đối phát triển, đồng thời lượng NH
3
trong ao nuôi

Vùng nghiên cứu: nghiên cứu này được thực hiện tại hai xã Vinh Giang
- Phú Lộc và Hương Phong - Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Là hai xã ven
phá Tam Giang - Cầu Hai có hoạt động NTTS khá phát triển.
Về thời gian: Từ ngày 06/01/2010 - ngày 09/05/2010
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
+ Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, đất đai
+ Điều kiện kinh tế xã hội: Dân cư và lao động, cơ cấu thu nhập
- Đặc điểm nông hộ nghiên cứu
+ Số lao động, độ tuổi, trình độ văn hoá của chủ hộ
+ Số năm tham gia NTTS, diện tích và thu nhập của hộ
- Tình hình NTTS tại Vinh Giang và Hương Phong
+ Diễn biến NTTS
+ Tình hình nuôi xen ghép tại hai xã
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi xen ghép ở nông hộ
+ Các nguồn áp dụng và lí do chuyển đổi hình thức nuôi
+ Mức độ tác động của các yếu tố
- Khả năng duy trì và phát triển nuôi xen ghép
+ Tính phù hợp
+ Tính hiệu quả: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả cải thiện mô trường và khả
năng tận dụng nguồn lực.
+ Khả năng duy trì và phát triển
13
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chon mẫu
Chọn điểm nghiên cứu
Điểm NC được chọn là 2 xã thuộc vùng ven phá Tam Giang - Cầu Hai, là xã
Vinh Giang và Hương Phong. Đảm bảo các tiêu chí:
+ Mang tính đại diện cho hoạt động nuôi xen ghép tại vùng phá Tam
Giang - Cầu Hai.

3.3.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Tất cả các số liệu điều tra được mã hoá, nhập trên phần mềm Excel và
xử lý thông kê bằng trên phần mền SPSS.
- Ở nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp là: Phân tích định tính và
phân tích định lượng nhằm phân tích thực trạng nuôi xen ghép, khả năng phát
triển của hình thức nuôi xen ghép và sự tác động của các yếu tố.
- Tiến hành phân tích, so sánh giữa các hộ áp dụng hình thức nuôi xen
ghép và các hộ nuôi đơn canh, sự khác nhau của nuôi xen ghép ở 2 điểm
nghiên cứu. Để từ đó tìm ra sự khác biệt, các yếu tố tác động và tìm hiểu khả
năng phát triển nuôi xen ghép ở đây và bước đầu đưa ra giải pháp để phát
triển mô hình ở trên vùng phá Tam Giang - Cầu Hai.
15
Phần 4. Kết quả nghiên cứu
4.1 Tình hình cơ bản của xã Vinh Giang - Phú Lộc và Hương Phong - Hương trà
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí, nguồn lợi tự nhiên
Vinh Giang là xã nằm ven bờ đầm phá Cầu Hai, phía Đông Bắc giáp xã
Vinh Hải, phía Đông Nam giáp xã Vinh Hiền, Tây Bắc giáp xã Vinh Hưng,
phía Tây Nam được bao bọc bởi hệ thống đầm phá Cầu Hai với diện tích
1.044 ha. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng và
đánh bắt tài nguyên thuỷ sản đầm phá.
Xã Hương Phong là một xã bãi ngang nằm phía Tây Bắc huyện Hương
Trà tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 12 Km. Phía Bắc giáp xã Hải
Dương, phía đông giáp thị trấn Thuận An, phía Tây giáp xã Quảng Thành
huyện Quảng Điền, phía Nam giáp xã Hương Vinh, huyện Hương Trà. Xã
nằm vị trí đặc biệt, hai mặt giáp sông, một mặt giáp phá Tam Giang thuận lợi
trong phát triển NN và khai thác NTTS.
Như vậy là hai xã Vinh Giang và Hương Phong đều có vị trí thuận lợi
để phát triển sản xuất NTTS. Đặc biệt tại Hương Phong với vị trí nằm gần
thành phố Huế rất thuận tiện để thông thương trao đổi mua bán hàng hoá, và

(%)
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích đất tự
nhiên
1536,00 100 1877,00 100
1 Đất NN 1240,10 80,74 1488,02 79,28
1.1 Đất sản xuất NN 566,20 36,86 205,96 10,97
1.2 Đất lâm nghiệp 5,00 0,03 28,06 1,49
1.3 Đất NTTS 215,00 14,00 210,00 11,19
1.4 Mặt nước khai thác
thuỷ sản
453,90 29,55 1044,00 55,62
2 Đất phi NN 240,20 15,64 206,72 11,01
2.1 Đất thổ cư 32,60 21,22 96,30 5,13
2.2 Đất chuyên dùng 207,60 13,52 110,42 5,88
3 Đất chưa sử dụng 55,70 3,64 182,26 9,71
(Nguồn: Tổng hợp số liệu thứ cấp các báo cáo)
Hai xã Vinh Giang và Hương Phong là hai xã có diện tích đất tự nhiên
khá lớn, lần lượt là 1877 ha và 1536 ha. Với quỹ đất tự nhiên lớn sẽ tạo điều
kiện rất lớn để phát triển kinh tế địa phương. Trong cơ cấu đất của xã Vinh
Giang, diện tích mặt nước chiếm tới 55,62%, rất thích hợp cho việc phát triển
nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản các loài thuỷ sản tự nhiên. Diện tích đất NN
của xã Vinh Giang có thể tiến hành các hoạt động canh tác chỉ có 205,96 ha,
17
chiếm tỷ lệ tương đối thấp (10,97%), và do đặc điểm tự nhiên của địa phương
nên diện tích này cho năng suất rất thấp. Không kể những khi mất mùa,
những năm lúa cho thu hoạch bình thường, thậm chí là được mùa lúa thì năng

Bảng 6: Tình hình dân số và lao động tại Vinh Giang và Hương Phong
tt Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Vinh Giang Hương Phong
Số
lượng
Phần
trăm
(%)
Số
lượng
Phần
trăm (%)
1 Tổng số hộ hộ 1.161 1.959
2 Số nhân khẩu Người 4.838 8.392
3 Số lao động Người 2.703 5.549
4 Lđ NN Người 1.364 50,04 2.851 51,30
5 Lđ khai thác NTTS Người 859 31,77 620 11,20
6 Ngành nghề phụ khác Người 480 18,19 2.078 37,50
Tính bình quân
7 Tốc độ gia tăng dân số % 0,62 1,10
8 Bình quân lao động/hộ Người 2,33 2,64
9 Bình quân nhân khẩu/hộ Người 4,17 5,25
(Nguồn: UBND xã Hương Phong và Vinh Giang, 2010)
Bảng trên cho thấy: Vinh Giang có 1.161 hộ với 4.838 nhân khẩu, lực
lượng lao động của xã khá dồi dào, số người trong độ tuổi lao động là 2.508
người (chiếm 51,8% tổng số khẩu). Bình quân nhân khẩu của xã là 4,17 khẩu/
hộ, với bình quân lao động là 2,33 lao động/hộ. Còn tại Hương Phong 1.959
hộ với 8.392 nhân khẩu, với số nhân khẩu khá đông với bình quân 5,25 nhân

2 Nuôi trồng, khai thác
thuỷ sản
8.000 33,33 7.000 18,92
3 Dịch vụ và nghề phụ
khác
6.000 30,97 12.000 32,43
4 Tổng 24.000 100 37.000 100
(Nguồn: UBND xã Hương Phong và Vinh Giang, 2010)
Bảng 7 cho thấy rằng cơ cấu thu nhập tại Vinh Giang có sự đồng đều
về nguồn thu giữa 3 nguồn thu chính: nông nghiệp, NTTS và khai thác thuỷ
sản, dịch vụ và nghề phụ khác. Hương Phong có sự khác biệt lớn trong cơ cấu
nguồn thu. Tổng thu nhập của Vinh Giang có phần thấp hơn so với tổng thu
nhập ở Hương Phong, nhưng thu nhập bình quân trên đầu người thì lớn hơn,
với thu nhập bình quân 4.960 triệu/người/tháng so với Hương Phong 4.400
triệu/người/tháng. Tại cả hai địa phương thì nông nghiệp vẫn đang đóng vai
trò quan trọng chiếm một phần lớn trong cơ cấu thu nhập. Trong thời gian tới
ở cả 2 hai địa phương, đang định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
20
hướng giảm dần cơ cấu thu nhập của nông nghiệp, tăng cơ cấu thu nhập từ
thuỷ sản và dịch vụ.
Tóm lại, tại cả hai điểm nghiên cứu đều có vị trí địa lí và điều kiện tự
nhiên khá thuận lợi để phát triển NTTS, do đó sẽ có nhiều cơ hội để có hoạt
động NTTS đầy tiềm năng. Không chỉ vậy, lực lượng lao động dồi dào cũng
chính là một thuận lợi để đảm bảo cho quá trình phát triển của địa phương.
4.1.3 Đặc điểm các hộ được khảo sát
Đặc điểm chung của các hộ được khảo sát trong nghiên cứu này được
được thể hiện qua các chỉ tiêu về: tuổi chủ hộ, số năm đến trường của chủ hộ,
số lao động, số nhân khẩu, số năm NTTS, diện tích NTTS, thu nhập của
hộ/năm (bảng 8).
Bảng 8: Đặc điểm hộ khảo sát

Thu nhập
hộ/năm
52,3 13,44 65,4 18,19 45 7,07 52,2 15,41
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2010)
Số liệu bảng trên cho ta thấy rằng tại xã Vinh Giang độ tuổi bình quân
của chủ hộ của hai hình thức nuôi khác nhau không có sự khác biệt đáng kể,
lần lượt là 47,35 ở hộ nuôi chuyên tôm và 46,8 tại hộ nuôi xen ghép. Tuy
21
nhiên sự khác biệt về độ tuổi chủ hộ lại được thể hiện khá rõ tại điểm nghiên
cứu thứ 2, tại Hương Phong độ tuổi của hộ nuôi xen ghép là cao hơn 5 tuổi so
với độ tuổi trung bình của hộ nuôi chuyên tôm với độ tuổi trung bình là 42.
Điều này có thể được giải thích là các hộ nuôi chuyên tôm tại Hương Phong
chủ yếu có diện tích ao cao triều, diện tích này được đưa vào sử dụng NTTS
vào năm 2003. Với độ tuổi trung bình khá cao của các hộ được phỏng vấn,
đây là độ tuổi có kinh nghiệm trong sản xuất nuôi trồng và có sự am hiểu về
tình hình NTTS qua các giai đoạn tại địa phương.
Xét về số nhân khẩu và số lao động, số khẩu bình quân giữa các nhóm
hộ và hai điểm nghiên cứu là không có sự khác biệt nào đáng kể. Số khẩu
bình quân của các nhóm hộ khá lớn tương ứng khoảng từ 5 đến 5,5 khẩu/hộ.
Đó cũng là đặc trưng chung cho các hộ ở ven phá và ven biển, là tiềm năng về
lao động cho sự phát triển sau này của vùng đầm phá. Thông thường các hộ
đây rất đông con, nhất là các chủ hộ có độ tuổi trên 50 thường có từ 5-7 người
con. Bình quân số lao động của các hộ của cả hai điểm nghiên cứu vào
khoảng 2,5 người trong khi số khẩu bình quân trên một hộ lại khá đông,
chứng tỏ nguồn lao động ở đây còn hạn chế và sẽ gặp khó khăn khi đến vụ
thả, gieo trồng hay thu hoạch. Đa số lao động ăn theo tại hai điểm nghiên cứu
đang trong độ tuổi đi học, nên ngoài khoản chi hằng ngày còn phải có khoản
khá lớn đầu tư cho việc học hành, điều này đã làm cho nguồn vốn để tái đầu
tư vào sản xuất rất khó khăn. Vì vậy việc phát triển mô hình NTTS đầu tư
thấp nhanh thu hồi vốn và chắc ăn là rất cần thiết.

hộ, tuy nhiên diện tích nuôi của các hộ có sự chênh lệch khá lớn, tại xã Vinh
Giang diện tích trung bình của hộ nuôi đơn là 1,25 ha, đối với hộ nuôi xen
ghép là 1,44 ha. Như vậy, diện tích ao trung bình của mỗi hộ là khá lớn nhưng
lại có sự khác biệt quá lớn giữa hộ nuôi nhiều nhất và hộ nuôi ít nhất. Cụ thể:
Hộ có diện tích lớn nhất là gần 3 ha, trong khi đó hộ thấp nhất chỉ có 1 hồ với
diện tích 0,3 ha. Thông thường tại đây những hộ NTTS trước năm 1994
thường có diện tích nuôi trồng rất lớn, còn các hộ nuôi sau năm 1999 thì diện
tích nuôi trồng rất nhỏ. Tại Hương Phong tình trạng tương tự cũng xảy ra, đối
với hộ nuôi chuyên tôm diện tích trung bình là 1,28 ha và hộ nuôi xen ghép là
1,49 ha. Như vậy, qua đây chúng ta có thể thấy việc đầu tư NTTS của người
dân về mặt qui mô là mang tính tự phát và thiếu quy hoạch chung. Với sự
biến động diện tích ao nuôi khá lớn sẽ ảnh hưởng đến quyết định NTTS đối
23
với các ao nuôi và sự áp dụng nuôi trồng của các hộ, đồng thời nguồn thu
nhập của nông hộ cũng sẽ có nhiều chênh lệch.
Về thu nhập bình quân của hộ/năm, tại Vinh Giang và Hương Phong có
sự chênh lệch nhau. Đặc biệt là hộ nuôi xen ghép tại Vinh Giang thu nhập
bình quân của các hộ trên năm là khá cao với 65,4 triệu/hộ/năm, tuy nhiên
biến động cũng khá lớn. Cần phải nói rằng, các hộ nuôi xen ghép tại Vinh
Giang chủ yếu tập trung ở thôn Nghi Xuân, và nguồn thu chính của các hộ ở
đây không phải là từ NTTS mà là từ đánh bắt khai thác thuỷ sản. Còn các hộ
nuôi chuyên tôm tại Vinh Giang thu nhập bình quân trên hộ của họ cũng là
khá lớn với 52,3 triệu/năm, nguồn thu chính của những hộ này là NTTS. Tại
Hương Phong, thu nhập của các hộ nuôi xen ghép cũng cao hơn với 52,41
triệu/năm. Sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ là do sự dao động diện tích
giữa các hộ tạo ra. Trong những năm gần đây nhờ chuyển qua nuôi xen ghép
thu nhập của các hộ dân tại Hương Phong đã ổn định hơn, trong khi đó thu
nhập của các hộ nuôi chuyên tôm là 45 triệu/năm.
Như vậy chúng ta thấy rằng các yếu tố về trình độ văn hoá, số nhân
khẩu, số lao động, số năm NTTS và đặc biệt diện tích đất nuôi trồng đã có

6 Số hộ nuôi lỗ hộ 97 41 6 98 35 5
7 Số hộ nuôi lãi hộ 67 90 192 60 87 180
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo NTTS của 2 xã Hương Phong và Vinh
Giang)
Qua bảng chúng ta thấy rằng, diện tích NTTS và số hộ NTTS giảm
mạnh vào năm 2008 và tăng lên vào năm 2009. Điều này được giải thích, theo
kết quả phỏng vấn người am hiểu thấy rằng tình hình NTTS tại hai xã xấu đi
bắt đầu từ những năm 2003, khi môi trường bắt đầu bị ô nhiễm; tuy nhiên
diện tích NTTS vẫn tăng lên nhưng sản lượng và năng suất thì không còn đảm
bảo, tính ổn định rất thấp. Người dân lúc này vẫn còn tin tưởng con Tôm và
vẫn tiếp tục đầu tư do có lãi ở những vụ nuôi trước. Đến năm 2005 - 2006 thì
tình hình bắt đầu nghiêm trọng, các hộ NTTS hết vốn đầu tư và bắt đầu nợ
nần chồng chất, đến năm 2007 sau vụ mùa thất bại thì gần như đồng vốn của
người dân cạn kiệt không thể tiếp tục sản xuất, và dẫn đến bỏ hoang hồ nuôi.
Vào lúc đó có đến gần 100% hộ NTTS đều có nợ từ 40 - 80 triệu/hộ. Cùng
thời gian đó một số nông hộ đã chuyển đổi sang hình thức nuôi xen ghép thì
đã có lãi, từ đó những người dân của địa phương cùng với sự giúp sức của
chính quyền và các tổ chức phi chính phủ… đã phát triển và nhân rộng mô
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status