hệ thống chuyển mạch số neax61s - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để
từng bước bắt kịp sự phát triển của các nước trong khu vực và các nước trên thế
giới về mọi mặt kinh tế và xã hội. Với sự phát triển của xã hội định hướng thông
tin, các dịch vụ thông tin điện thoại, thông tin di động, thông tin số liệu ngày
càng trở nên đa dạng. Sự phát triển của công nghệ thông tin nói chung và sự
phát triển của nghành Viễn Thông đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc
áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới, nhờ đó chất lượng phục vụ được nâng lên rõ
rệt và mở ra nhiều dịch vụ mới. Trong đó hệ thống chuyển mạch có nhiều cải
tiến.
Hệ thống chuyển mạch số chất lượng cao phải có nhiều ưu điểm đối với
mạng viễn thông bao gồm phải tạo ra các dịch vụ chất lượng cao hơn, mềm dẻo
hơn trong việc phát triển tới mạng đa dịch vụ, có khả năng đáp ứng các dịch vụ
yêu cầu tốc độ cao, tương thích với các đường viễn thông băng rộng, thuận tiện
hơn và đơn giản hơn cho khai thác, quản lý hệ thống.
Hệ thống chuyển mạch số Neax61Σ là một hệ thống thoả mãn các điều
kiện trên, nó được cấu tạo dưới dạng các module tiêu chuẩn và có các giao diện
chuẩn. Do đó Neax61Σ có thể thích hợp với bất kỳ hệ thống chuyển mạch nào từ
dung lượng nhỏ tới dung lượng lớn, có thể phục vụ mọi ứng dụng bao gồm
chuyển mạch nội hạt, chuyển mạch đường dài, chuyển mạch quốc tế, trung tâm
chuyển mạch nội hạt dịch vụ di động và hệ thống điện thoại xách tay cá nhân,
đồng thời nó cũng nhanh chóng đưa ra các dịch vụ. Đây cũng là một trong
những hệ thống chuyển mạch số tiêu biểu mà em có dịp nghiên cứu trong đề tài
này.
1
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ TỔNG ĐÀI ĐIỆN THOẠI KỸ THUẬT SỐ SPC
I. Lịch sử phát triển của tổng đài.
Hệ tổng đài dùng nhân công được xây dựng ở New Haven của Mĩ năm
1878 là tổng đài thương mại thành công đầu tiên trên thế giới. Để đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về các dịch vụ điện thoại kết nối nhanh các cuộc nói chuyện

mềm lắp đặt hệ thống. Ngoài ra, hệ tổng đài điện tử mới triển khai tạo được sự
điều khiển một cách linh hoạt bằng cách thay thế phần mềm cho phép người sử
dụng có dịch vụ mới. Đồng thời, dễ vận hành và bảo dưỡng tốt hơn, tổng đài này
được sử dụng trang bị chức năng tự chẩn đoán. Ngoài ra, việc điều chế xung mã
(PCM) dùng trong các hệ thống truyền dẫn đã được dùng trong các hệ thống
chuyển mạch để thực hiện việc chuyển mạch đó.
II. Giới thiệu về các tổng đài kỹ thuật số SPC.
Các tổng đài điện tử số hoàn hảo là biểu hiện sự kết hợp thành công giữa kỹ
thuật điện tử - máy tính với kỹ thuật điện thoại. Các dấu hiệu thành công xuất
hiện từ những năm 60 của thế kỷ 20. Sau hai thập kỷ phát triển, các thế hệ của
tổng đài điện tử số chứa đựng nhiều thành tựu từ sự phát triển của kỹ thuật điện
tử. Sự phát triển này được thúc đẩy bởi nhu cầu gia tăng chất lượng, cải thiện giá
cả, tính duy trì và linh hoạt của các tổng đài cơ, và nhờ vào khai thác các ưu
điểm tuyệt đối về tốc độ trong kỹ thuật điện tử và máy tính.
Ứng dụng đầu tiên của các thiết bị điện tử vào các tổng đài điện thoại thuộc
về lĩnh vực điều khiển: Stored - Program - Control. Tổng đài SPC công cộng
đầu tiên là IESS được phát triển bởi các phòng thí nghiệm của AT & Bell. Được
giới thiệu tại Succasunna, New Jersey USA vào tháng 5 năm 1965. Nó đã khởi
đầu sự quan tâm của thế giới vào SPC, kết quả là trong những năm 70, một số
các hệ thống tổng đài dùng kỹ thuật điều khiển máy tính với các mức độ khác
nhau ra đời. Tuy nhiên, các hệ thống chuyển mạch đầu tiên này tất cả sử dụng
các thiết bị chuyển mạch cơ vì vấp phải các vấn đề trong việc phát triển các dãy
chuyển mạch bán dẫn phù hợp với các ứng dụng điện thoại công cộng.
Có hai trở ngại cản trở việc dùng các chuyển mạch bán dẫn cho tổng đài
điện thoại. Trước tiên là khó chế tạo một ma trận chuyển mạch bán dẫn với tính
3
năng xuyên nhiễu tốt, trở ngại thứ hai là các thiết bị bán dẫn không chịu được
các mức điện áp cao cũng như dòng điện chuông theo chuẩn điện thoại.
Các ứng dụng của các thiết bị bán dẫn vào chuyển mạch công cộng phải đợi
đến khi sử dụng kỹ thuật số, bằng cách dùng truyền dẫn số vào mạng điện thoại

kiểu rơle đã được đấu nối cố định. Khi cần thay đổi các số liệu để đưa vào dịch
vụ mới cho thuê bao hoặc thay đổi các dịch vụ đã có của thuê bao cần phải thay
đổi cấu trúc phần cứng đã được đấu nối chắc chắn. Những sự thay đổi này
thường rất phức tạp, nhiều khi không thực hiện được. Như vậy tính linh hoạt cho
công tác điều hành tổng đài gần như không có.
2. Đặc điểm của tổng đài số SPC:
Các tổng đài làm việc theo nguyên lý điều khiển theo các chương trình đã
ghi sẵn (Stored program contrled SPC). Người ta sử dụng các bộ xử lý giống
như các máy tính để điều khiển hoạt động của tổng đài. Tất cả các chức năng
điều khiển được đặc trưng bởi một loạt các lệnh đã ghi sẵn ở trong các bộ nhớ.
Ngoài ra các số liệu trực thuộc tổng đài như số liệu về thuê bao, các bảng
phiên dịch địa chỉ, các thông tin về tạo tuyến, tính cước thống kê… cũng được
ghi sẵn trong các bộ nhớ số liệu. Qua mỗi bước xử lý gọi sẽ nhận được một sự
quyết định tương ứng với loại nghiệp vụ, số liệu đã ghi sẵn để đưa đến thiết bị
xử lý nghiệp vụ đó. Nguyên lý chuyển mạch như vậy gọi là chuyển mạch theo
chương trình ghi sẵn rơle.
Các chương trình và các số liệu ghi trong bộ nhớ có thể thay đổi được khi
cần thay đổi nguyên tắc điều khiển hay tính năng của hệ thống. Nhờ vậy người
quản lý có thể linh hoạt trong công tác điều hành tổng đài.
Như đã biết, máy tính hay bộ xử lý có khả năng xử lý hàng chục nghìn hay
hàng triệu lệnh mỗi giây. Vì vậy khi ta sử dụng nó vào chức năng điều khiển
tổng đài, ngoài công việc điều khiển chức năng chuyển mạch thì cùng một bộ xử
lý có thể điều hành các chức năng khác vì các chương trình điều khiển và các số
liệu ghi trong bộ nhớ có thể thay đổi dễ dàng, mang tính tức thời nên công việc
điều hành để đáp ứng các nhu cầu của thuê bao trở nên dễ dàng, cả công việc
đưa vào dịch vụ mới cho thuê bao và thay đổi các dịch vụ cũ đều dễ dàng thực
5
hiện thông qua các lệnh trao đổi người máy. Chẳng hạn như cần khôi phục lại
nghiệp vụ cho thuê bao quá hạn thanh toán cước hoặc thay đổi từ phương thức
thập phân sang phương thức chọn số đa tần ta chỉ việc đưa vào hồ sơ thuê bao

tính cước, thống kê cũng được ghi sẵn như các tệp số liệu. Các chương trình
và các số liệu ghi sẵn có thể thay đổi được khi cần thay đổi nguyên tắc điều
khiển hay tính năng của hệ thống. Nhờ vậy người quản lý có thể linh hoạt trong
quá trình điều hành tổng đài. Quá trình xử lý điều khiển này tạo ra tính linh hoạt
ở mức cao trong việc điều khiển phần cứng và khả năng nâng cấp một tổng đài
mà không phá bỏ các dịch vụ sẵn có.
IV. Ưu điểm của các tổng đài kỹ thuật số SPC
Tổng đài SPC có nhiều ưu điểm đối với sự quản trị và các thuê bao của nó.
Tuy nhiên, cần phải nói rằng các kết quả đều xuất phát từ những ưu thế của
SPC, do đó các tổng đài SPC analog cũng có những ưu điểm như vậy. Hơn nữa
toàn bộ những ưu điểm sẽ không phát huy được cho đến khi các tổng đài SPC
được dùng phối hợp với một môi trường truyền dẫn số.
1. Tính linh hoạt cao.
Qua phân tích cấu trúc phần cứng trong tổng đài SPC được điều khiển và
dữ liệu trong các bộ nhớ như trên. Quá trình xử lý điều khiển này đã tạo ra tính
linh hoạt ở mức cao trong việc điều khiển phần cứng.
Nó có thể phối hợp dễ dàng với các hệ thống báo hiệu của các tổng đài
khác. Có khả năng thực hiện các phương thức tính cước khác nhau, như tính
cước thuê theo thời gian cho các cuộc gọi đường dài, áp dụng giá cước khác
nhau cho thời gian ban ngày và ban đêm, các giải thuật định tuyến có thể thay
đổi
2. Các tiện ích thuê bao.
Các tổng đài SPC cho phép hàng loạt các tiện ích thuê bao được cung cấp
rẻ hơn và dễ hơn trong các tổng đài khác. Các tiện ích này được phân phối bởi
hệ thống quản lý khi thấy thích hợp. Sau đó nhiều tiện ích được yêu cầu bởi các
thuê bao trên cơ sở call- by- call. Ví dụ: báo chuông, cảnh báo về một cuộc gọi
quấy rối
3. Tiện ích quản trị:
7
Tổng đài SPC cung cấp một dải rộng lớn các tiện ích quản lý, những công

và chuyển mạch.
Tuy nhiên chuyển mạch số hoàn toàn bao gồm các hệ thống điều khiển, do
đó hình thành một tổng đài điện tử SPC hoàn toàn là kỹ thuật số. Các cuộc gọi
có thể được thiết lập xuyên qua các hệ thống chuyển mạch số rất nhanh chóng
(thường 250 µs).
5. Tiết kiệm không gian.
Các hệ thống chuyển mạch số nhỏ hơn nhiều so với các hệ thống tổng đài
Analog có khả năng tương đương. Do sử dụng các mạch tích hợp và bộ ghép
phân thời cỡ lớn trong tổng đài số, chúng thường nhỏ hơn 25% so với các hệ
thống tổng đài Analog SPC.
6. Dễ dàng bảo trì.
Các thiết bị dùng trong các tổng đài kỹ thuật số SPC có một tỷ lệ lỗi thấp
hơn các thiết bị được dùng trong các hệ thống tổng đài Analog SPC vì không có
các thành phần vật lý phải di chuyển và thừa hưởng tính tin cậy của kỹ thuật bán
dẫn, hơn nữa hệ thống số không có yêu cầu bất kỳ sự điều chỉnh thường xuyên
nào, các chương trình chẩn đoán trong tổng đài thường cho phép định vị nhanh
chóng các lỗi phần cứng, lỗi thuộc module đặc biệt hay các đơn vị lắp ghép
ngoại vi nào.
Các lỗi có thể xảy ra ngay trong phần mềm cũng như phần cứng của tổng
đài. Lỗi phần mềm được xác định tự động và cả bằng tay. Quá trình bảo trì phần
mềm được thực hiện dễ dàng bởi hàng loạt các chương trình chẩn đoán và bằng
cách thông báo lỗi được cung cấp bởi hệ thống điều khiển tổng đài.
7. Chất lượng cuộc nối cao.
Toàn bộ thất thoát đường truyền của một cuộc nối xuyên qua mạng là độc
lập với số lượng các chuyển mạch và các liên kết truyền dẫn, hơn nữa các thất
thoát này xảy ra trong các quá trình chuyển đổi AD tại mỗi đầu kết nối, nên nó
cho phép tối thiểu tiếng ồn làm cho mức độ nghe của thuê bao tốt hơn và kiểm
soát được tiếng dội.
8. Khả năng cung cấp các dịch vụ phi thoại.
9

xử lý cuộc gọi.
Tuy rằng đối tượng sử dụng khác nhau, nhưng chúng thường có chung các
chức năng sau:
Hình 2: Sơ đồ khối chức năng của phân hệ ứng dụng
(A): phối ghép về phía đường truyền: có thể là đường dây thuê bao (đối với
các thuê bao), đường trung kế (đối với các tổng đài)
(B): thực hiện ghép kênh hoặc tập trung tải (ghép kênh sơ cấp): tiếp tất cả
các thuê bao ở đầu vào thông qua Card thuê bao và khi các thuê bao này tích cực
thì gửi về trung tâm.
(C): phối ghép về phía trường chuyển mạch: cần phải qua tâm trường
chuyển mạch ở ngần hay ở xa.
(D): điều khiển: nhận một phần chức năng điều khiển mà tổng đài thông
thường là những điều khiển sơ bộ thuộc về lĩnh vực có liên quan đến sử dụng
11
(A) (B) (C)
(D)
(3’)
(1) (1’) (1’’)
Trường
chuyển
mạch
Đường
dây
N N M
(2)
làm cơ sở cho các hệ thống điều khiển trong tổng đài chính. Việc liên hệ điều
khiển trong phần này với bộ phận chính.
Nếu ở trực tiếp có thể giải quyết bằng Bus dữ liệu trong mạch này, nếu ở xa
nó sẽ được ghép liền đường truyền thông qua khối (C) và đi qua giao diện (B)
về tổng đài chính. Trong trường hợp các đối tượng sử dụng là các thuê bao tập

13
S
D1
DI ODE
Q1
NPN
T R
T1
10TO1CT
BO
- 48V
+V
V1
5V
H
Decoder Coder
HOS
U1A
TxCLK
TxSYN
PCM out
PCM in
RxSYN
RxCLK

TB
GND
48V
GND
5V

bao tương tự nhưng chức năng C nằm ngay thuê bao. Đường truyền từ thuê bao
tới tổng đài là Digital. Các user liên lạc trực tiếp với CPU để thực hiện một số
14
chức năng tổng đài cũng như trong mạng nên thuê bao này được coi như một
khai thác viên.
1.3. Giao tiếp trung kế tương tự (Analog Trunk Interface).
Được dùng để kết nối với các tổng đài tương tự nhau. Chúng có nhiệm vụ
cấp nguồn, giám sát cuộc gọi và phối hợp báo hiệu. Chúng không có nhiệm vụ
tập trung thuê bao nhưng thực hiện biến đổi A/D ở tổng đài. Nó còn cung cấp
chức năng điều khiển đệm (Pad control) cho các tuyến trung kế đặc biệt. Các tín
hiệu thông tin từ một mạch điện trung kế được chuyển sang tín hiệu PCM bằng
một bộ mã hoá. Các tín hiệu PCM được ghép kênh thành một đường tín hiệu
PCM-TDM 120 kênh thoại bởi bộ ghép kênh sơ cấp PMUX. Những mạch điện
này có thể truyền xung quay số DP (Dial Pulse), mã đa tần MFC.
1.4. Giao tiếp trung kế số.
Giao tiếp trung kế số kết nối trực tiếp với các đường truyền dẫn PCM với
phân hệ chuyển mạch. Tuỳ thuộc vào phương pháp mã hoá cho hệ thống mà
hoặc 4 đường PCM 30 kênh (luật A) hoặc 5 đường PCM 24 kênh (luật µ) được
nối tới bộ giao tiếp trung kế số. Ở giao tiếp này tốc độ dòng số rất lớn, cần phải
chọn hướng và độ lớn của từng hướng đó. Mạch này bao gồm các chức năng
GAZPACHO gồm các chữ cái đầu của từng chức năng sau:
• G (Geiration): Nhận dạng tín hiệu đồng bộ khung.
• A (Aligment): Sắp xếp khung.
• Z (Zero): Nén quãng tín hiệu có nhiều bít “0” ở phía phát.
• P (Polar Conversion): Đổi cực tín hiệu để tạo tín hiệu lưỡng cực.
• A (Alarm Processing): Xử lý cảnh báo.
• C (Clock Recovery): Khôi phục đồng hồ.
• H (Hunt During Reframe): Tách xung đồng bộ.
• O (Office Signalling): Báo hiệu giữa các tổng đài.
2. Phân hệ chuyển mạch.

.
N
1
2
.
.
.
M
Z
N: là số đầu vào của bộ chuyển
mạch
M: là số đầu ra của bộ chuyển
mạck
Theo định nghĩa dưới sự điều khiển của chuyển mạch Z một hay nhiều đầu
vào bất kỳ được nối với một hay nhiều đầu ra bất kỳ. Để giải quyết vấn đề này,
trong phần tử chuyển mạch Z được trang bị K kênh dẫn K<<N,M.
Kênh dẫn là tập hợp những mạch điện để tín hiệu đầu vào chuyền ra được ở
đầu ra.
Dưới sự điều khiển của chuyển mạch Z thiết bị cấp kênh dẫn cho đối tượng
trao đổi thông tin với nhau, cùng lúc tối đa là có K cặp đối tượng trao đổi được,
từ (K+1) sẽ bị từ chối, người ta gọi là tổn thất. Ở góc độ kinh tế K càng nhỏ
càng tốt.
Tín hiệu đồng bộ SYM tác động lên các bộ điều khiển, từ đó cấp khe thời
gian động để có hoạt động tương ứng giữa tín hiệu đầu vào và tín hiệu đầu ra.
Hình4: Sơ đồ khối hệ thống ghép kênh theo thời gian.
Chuyển mạch thời gian cho phép sử dụng đồng thời các điểm chuyển mạch
bằng cách phân chia thời gian thành những khoảng nhỏ hơn sao cho các điểm
chuyển mạch riêng biệt cụ thể và tương ứng với chúng là các đường dây nối
trung gian được gắn chặt một cách hoàn toàn với các cuộc nối hiện có. Chuyển
mạch phân chia theo thời gian ở mức độ như nhau được ứng dụng cho các tín

Như vậy, dung lượng của bộ nhớ CM là C
CM
= R*log
2
(R) (bit).
Thời gian ghi đọc :
t
WR
=t
RD
=
R
s
2
125
µ
>> δ
WR

RD.
(Trong đó δ
WR
, δ
RD
là thời gian truy nhập bộ nhớ: kể từ khi ra lệnh thì phải
mất từng ấy thời gian mới thực hiện được.)
Chuyển mạch cấp T kiểu này dựa trên cơ sở ghi các từ mã 8 bít vào bộ nhớ
chuyển mạch rồi đọc các từ này ở các thời điểm mong muốn.
Bộ xử lý trung tâm điều khiển sự nối tiếp của các khe thời gian đầu ra được
đọc từ bộ nhớ chuyển mạch thời gian. Nói cách khác, chuỗi địa chỉ để đọc từ

(tuần tự) (tuần tự) (điều khiển) (tuần tự)
Giả sử muốn trao đổi thông tin trên khe thời gian Ts
i
và Ts
j
của Bus tín hiệu
PCM đầu vào tầng CM cấp T, các thông tin trên hai khe thời gian này được ghi
vào các ô nhớ thứ i và thứ j của BM tại các thời điểm tương ứng Ts
i
và Ts
j
. Đồng
thời bộ điều khiển đấu nối cũng ghi thông tin điều khiển quá trình đọc vào bộ
nhớ CM. Giá trị “j” được ghi vào ô nhớ i và giá trị “i” được ghi vào ô nhớ j.
Khi bộ đếm số khe thời gian tự động đếm đến Ts
i
, giá trị “j” trong ô nhớ i được
đọc ra và nó được dùng làm địa chỉ để đọc ô nhớ j của bộ nhớ BM (chứa thông
tin khe thời gian TS
j
đầu vào). Tương tự như vậy, khi đến khe thời gian TS
j
, ô
nhớ j của CM được đọc ra và nó điều khiển quét ô nhớ thứ i (mang thông tin của
TS
j
) ra Bus tín hiệu PCM đầu ra của tầng chuyển mạch thời gian.
Vậy việc đọc ghi BM không được chiếm quá thời gian của một khe thời
gian, nghĩa là trong mỗi khe thời gian có hai hoạt động truy nhập bộ nhớ BM:
một nửa sử dụng để ghi và một nửa sử dụng cho đọc.

2
n
3
Khối
chuyển
mạch
Bus
địa
chỉ
Các bộ
nhớ
điều
khiển
chuyển
mạch
CM1 CM2 CM3 CMn
Hình5: Sơ đồ khối chuyển mạch không gian
Tương tự như với chuyển mạch thời gian, chuỗi để mở và đóng các cổng
được ghi trong bộ nhớ và điều khiển chuyển mạch không gian được thực hiện
theo nội dung của bộ nhớ đó.
Đối với các chuyển mạch không gian làm việc với các tín hiệu PCM được
ghép kênh theo thời gian, các đường nối qua chuyển mạch không gian được
phân chia sử dụng theo thời gian. Các tín hiệu thoại được lấy mẫu với tần số
8Khz và được mã hoá thành các mẫu 8 bit. Sau đó chúng được ghép kênh phân
chia theo thời gian thành các khung tín hiệu PCM-TDM và được truyền đi với
tốc độ 1 khung/125µs. Mỗi mẫu chiếm một khoảng thời gian gọi là khe thời gian
trong một khung tín hiệu. Nội dung của mỗi từ mã được truyền đi theo tuyến
Bus địa chỉ trong khoảng mỗi khe thời gian. Chuyển mạch không gian thực hiện
kết nối các tuyến vật lý để thực hiện phép chuyển thông tin trên các khe thời
gian của Bus PCM-TDM đầu vào lên cùng một khe thời gian đó của một Bus

giải phân thông thường. Nhược điểm của việc điều khiển theo đầu vào có liên
quan đến sự cần thiết phong toả những đầu vào không được sử dụng để ngăn
ngừa những cuộc nối kép trong những đầu vào khác nhau được nối với chính
đầu ra. Do đó các hệ thống chuyển mạch số thông thường không sử dụng điều
khiển đầu vào.
2.4 Kết hợp chuyển mạch cấp T và chuyển mạch cấp S.
Thông thường chuyển mạch cấp T chỉ sử dụng cho chuyển mạch khoảng
128 ÷ 512 kênh. Để nâng cao dung lượng chuyển mạch người ta kết hợp nối
giữa chuyển mạch cấp T và chuyển mạch cấp S để tạo thành trường chuyển
mạch nhiều tầng, mỗi tầng được ghép từ một số ma trận chuyển mạch kích
thước nhỏ hoặc các bộ chuyển mạch có dung lượng lớn.
Nếu ghép hai chuyển mạch chuyển mạch T và chuyển mạch S với nhau ta
có thể có được một chuyển mạch tuỳ ý với dung lượng lớn và có thể đổi được
khe thời gian tuyến tức đổi được K*R vị trí. Có nhiều cách kết hợp như vậy như:
T, T-S, T-S-T, S-T-S, T-S-S-T, S-S-T-S-S
• T và T-S : dùng cho tổng đài có dung lượng nhỏ và trung bình, cỡ vài
ngàn số
23
• T-S-T và S-T-S : dùng cho tổng đài có dung lượng trung bình và lớn, cỡ
và chục ngàn số.
• T-S-S-T và S-S-T-S-S : dùng cho tổng đài có dung lượng rất lớn từ vài
trăm tới hàng triệu số.
Sau đây ta xét hai cách kết hợp điển hình là T-S và T-S-T để thấy được
nguyên lý của việc kết hợp này.
* Trường chuyển mạch T-S:
Trường chuyển mạch T-S có cấu trúc điều khiển đơn giản nên thường được
sử dụng cho trường chuyển mạch dung lượng nhỏ, mặt khác tầng ra của T-S làm
việc theo nguyên lý chuyển mạch không gian nên thông thường nó có cấu trúc
theo kiểu tổn thất vì vậy nó không thích hợp cho các hệ thống có dung lượng
lớn.

24
Giả sử khe thời gian rỗi đầu tiên được tìm thấy là TS
r
, việc tìm khe thời
gian rỗi này do bộ điều khiển đấu nối thực hiện.
Các bộ nhớ điều khiển được quét lần lượt theo các khe thời gian nội bộ.
Khi quét đến ô nhớ thứ r, ứng với khe thời gian TS
r
, giá trị “r1” được quét từ
CMT
Ai
sẽ điều khiển đọc thông tin M
A
ra khỏi ô nhớ r1 của BM
Aj
và chuyển nội
dung này ra thanh dẫn thứ i. Đồng thời từ thứ r1 của CMS
j
cũng được đọc ra và
nó điều khiển chuyển mạch cấp S chọn đường i để chuyển tin tức M
A
đến tầng
chuyển mạch thời gian thứ hai. Tại đây tin tức M
A
đựơc lưu lại cho đến khe thời
gian TS
r2
thì nó sẽ được quét ra khỏi bộ nhớ BM
Aj
dưới sự điều khiển của bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status