Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Chương I: Cơ sở lý luận về kiểm toán vốn bằng tiền
1. Khái quát về kế toán vốn bằng tiền
1.1 Khái nệm
Khái niệm : Vốn bằng tiền là những tài sản có thể dùng để dự trữ, tích luỹ và
làm phương tiện để thanh toán như: tiền mặt , tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển.
Tiền mặt tại quỹ bao gồm cả nguyên tệ và ngoại tệ hiện có tại quỹ của đơn vị.
Tiền gửi ngân hàng bao gồm tiền nguyên tệ và ngoại tệ được gửi tại ngân
hàng.
Tiền đang chuyển là tiền đang trong quá trình lưu thông từ ngân hàng về
quỹ tiền, từ quỹ chuyển đến ngân hàng.
1.2. Những quy định của kế toán vốn bằng tiền
Kế toán vốn bằng tiền phải căn cứ vào chế độ quản lý tiền tệ của Nhà nước
và tôn trọng những quy định sau:
Kế toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ
thống nhất là đồng Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
thể sử dụng ngoại tệ để ghi sổ kế toán nhưng phải được Bộ Tài chính chấp
nhận bằng văn bản.
Ở doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá bình
quân liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời
điểm phát sinh nghiệp vụ, hoặc tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ kinh
tế phát sinh để ghi sổ kế toán.
Đối với vàng bạc, đá quý, kim khí quý được tính ra tiền
theo giá thực tế (giá hoá đơn, hoặc giá thanh toán) để ghi sổ kế toán và theo
dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng
loại.
2. Kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
2.1. Ý nghĩa và mục tiêu kiểm toán vốn bằng tiền
2.1.1. Ý nghĩa
chung, tính hiện hữu, tính đầy đủ, tính chính xác số học, phân loại và trình bày,
quyền và nghĩa vụ, đánh giá và phân bổ.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, ngoài việc phải xác định chính xác các
mục tiêu cụ thể, Kiểm toán viên còn phải xác định chính xác các mục tiêu đó vào
từng phần hành kiểm toán để xây dựng hệ thống mục tiêu đặc thù. Việc xác định
mục tiêu kiểm toán đặc thù của mỗi phần hành, khoản mục cụ thể là một công
việc quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán, đồng thời làm
giảm rủi ro kiểm toán đến mức thấp nhất. Trên cơ sở mục tiêu kiểm toán đặc thù
cho từng khoản mục, Kiểm toán viên tiến hành các thủ tục để khẳng định mục
tiêu kiểm toán đó có được đơn vị tuân thủ hay không? Từ đó tìm ra các sai phạm.
Mục tiêu kiểm toán của khoản mục vốn bằng tiền nhằm xác định các vấn
đề chủ yếu sau:
Tính hiện hữu của kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền: Tức là xem xét
đánh giá sự hiện diện, tính liên tục và tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát
nội bộ đối với vốn bằng tiền có được đảm bảo không?
Sự đảm bảo về mức độ trung thực, hợp lý của các khoản mục vốn bằng tiền
trên báo cáo tài chính, thể hiện trên các khía cạnh sau:
Mục tiêu hiện hữu: xác nhận số dư các khoản tiền tồn tại vào
ngày lập bảng cân đối kế toán là hợp lý. Vì số dư này liên quan đến khả năng
thanh toán nên doanh nghiệp khai báo tiền vượt quá số dư thực tế để che dấu
tình hình tài chính thực hoặc thất thoát tài sản hoặc tiền bị chiếm dụng nên số
thực tế nhỏ hơn số sổ sách. Mục tiêu này liên quan đến mục tiêu hiện hữu của
khoản tiền và được coi là mục tiêu quan trọng trong kiểm toán khoản mục
này.
Mục tiêu về sự đầy đủ: Xác nhận tất cả các nghiệp vụ liên quan
đến tiền là có thật và đều được ghi nhận. Đây là mục tiêu quan trọng nhất vì
thế Kiểm toán viên cần chú trọng đến mục tiêu này để đảm bảo chất lượng
của cuộc kiểm toán.
Mục tiêu quyền sở hữu: Xác nhận doanh nghiệp có quyền sở
hữu về mặt pháp lý đối với các khoản tiền. Đây là mục tiêu Kiểm toán viên
công việc cho các thành viên trong nhóm, Kiểm toán viên được phân công kiểm
toán khoản mục vốn bằng tiền phải có trình độ, năng lực chuyên môn về vốn
bằng tiền và hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng. Sau khi được
phân công kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền, Kiểm toán viên phải xác định
mục tiêu kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện cũng cần tránh thay đổi nhân viên nhằm
đảm bảo hiệu quả cũng như chất lượng công việc. Đặc biệt, việc kiểm toán cho
một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp cho Kiểm toán viên tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm cũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng.
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Đây là một giai đoạn quan trọng công việc lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.
Giai đoạn này sẽ cung cấp những thông tin cơ bản làm nền tảng cho các công
việc tiếp theo. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 - lập kế hoạch kiểm toán
đã xác định rằng Kiểm toán viên cần thu thập hiểu biết về ngành nghề kinh
doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ
và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
Công việc này rất cần thiết cho việc đảm bảo tính thận trọng nghề ngiệp đúng
mức của Kiểm toán viên. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (IAS) 310 chỉ rõ: “Để
thực hiện công tác kiểm toán tài chính, chuyên gia kiểm toán phải hiểu biết đầy
đủ về hoạt động đơn vị được kiểm toán, để xác định và hiểu được các sự kiện,
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
nghiệp vụ và cách làm việc của đơn vị, mà theo đánh giá của Kiểm toán viên có
thể có một tác động quan trọng đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm toán hoặc
đến báo cáo kiểm toán”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310: hiểu biết về tình hình kinh doanh,
đoạn 2 đã quy định: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, Kiểm toán viên
phải nắm bắt được tình hình kinh doanh của khách hàng để có thể nhận thức và
xác định sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động mà theo đánh giá Kiểm toán
số lượng bằng chứng của các thủ tục cơ bản khác nếu số liệu phân tích phù hợp
với dự đoán của Kiểm toán viên.
Bước 4: Tìm hiểu sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với
vốn bằng tiền
Đây là công việc hết sức quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro
kiểm soát đã được quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 400 – Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, đã nêu: “Kiểm toán viên phải có hiểu biết đầy đủ
về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ để đánh giá thái độ, mức độ quan tâm và
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
sự can thiệp của các thành viên trong hội đồng quản trị và ban giám đốc với kiểm
soát nội bộ và đánh giá khả năng của kiểm soát nội bộ của khách hàng trong việc
ngăn ngừa, phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính”.
Các nguyên tắc kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền
Nhân viên phải có đủ khả năng và liêm chính: Vì không thể có kiểm
soát nội bộ vững mạnh khi nhân viên không đủ khả năng, hoặc không liêm
chính và cố tình gian lận.
Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm: nghĩa là không cho bất cứ
cá nhân nào thực hiện các chức năng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
nghiệp vụ. Nói cách khác, mỗi cá nhân chỉ được phân công một nhiệm vụ
trong quá trình xử lý nghiệp vụ, bao gồm các chức năng xét duyệt nghiệp
vụ; ghi chép vào sổ kế toán; bảo quản tài sản; kiểm kê, đối chiếu các số liệu
ghi trên sổ sách kế toán với số liệu thực tế.
Tập trung đầu mối thu: nên hạn chế tối đa số người nắm giữ tiền, nghĩa
là chỉ cho phép một số ít nhân viên được thu tiền. Điều này làm giảm khả
năng thất thoát số tiền đã thu.
Ghi chép kịp thời và đầy đủ số thu: Phân công cho một nhân viên ghi
nhận kịp thời các nghiệp vụ thu tiền ngay vào thời điểm phát sinh.
Hàng ngày đối chiếu số liệu giữa thủ quỹ và kế toán, nộp ngay số thu
trọng
Thứ
yếu
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
1. Khi phát sinh nghiệp vụ thu chi tiền có được
phản ảnh đầy đủ vào các sổ sách liên quan?
2. Việc xét duyệt thu chi có giới hạn ở một số
người mà họ không đảm nhận việc ghi chép sổ
sách kế toán hay lưu giữ chúng?
3. Việc ghi chép, kiểm tra và lưu giữ sổ sách
trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền có được
thực hiện độc lập bởi các nhân viên chuyên trách
không?
4. Kế toán quỹ và thủ quỹ có độc lập với nhau
không?
5. Nơi thực hiện quá trình thu chi và quản lý cất
giữ tiền có đủ rộng, ngăn cách khỏi văn phòng?
6. Việc thu tiền có tổ chức việc thu tại công ty?
7. Công ty có sử dụng két sắt để bảo vệ tiền mặt
chưa?
8. Mã số của két sắt có được giữ bí mật theo quy
định không?
9. Quy trình xét duyệt các khoản chi tiền mặt có
được sự phê chuẩn của kế toán trưởng và thủ
trưởng đơn vị không?
10. Biên lai thu tiền hoặc phiếu bán hàng có
được quy định đánh số trước?
11. Các khoản tiền mặt thu về có nộp vào ngân
hàng đầy đủ và kịp thời không?
có nguy cơ xảy ra rất cao đối với khoản mục này. Rủi ro tiềm tàng của
khoản mục vốn bằng tiền phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như: bản chất
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, tính tung thực của ban
giám đốc, bản chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kết quả các lần kiểm toán
trước.
Rủi ro kiểm soát (CR): là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc
hoạt động không hiệu quả, do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai
phạm này. Đối với khoản mục vốn bằng tiền, kiểm toán sẽ tiến hành đánh
giá lại rủi ro kiểm soát của từng sơ sở dẫn liệu. Công việc này chủ yếu là để
nhận diện các điểm yếu, điểm mạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ, nhằm
điều chỉnh chương trình kiểm toán cho phù hợp.
Nếu Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp, thì các thử nghiệm
cuối năm có thể chỉ hạn chế ở mức đối chiếu với sổ phụ ngân hàng và so
sánh số dư này với xác nhận của ngân hàng. Nếu đánh giá mức độ rủi ro
trong kiểm soát là trung bình, thì có thể áp dụng các thủ tục trên và bổ sung
thêm một số thủ tục nhằm phát hiện gian lận. Nếu đánh giá rủi ro kiểm soát
là đáng kể hay tối đa thì kiểm toán cần mở rộng các thủ tục kiểm tra chi tiết
các khoản mục.
Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc
tính gộp lại mà trong quá trình kiểm toán, Kiểm toán viên không phát hiện
được.
Rủi ro kiểm toán (AR): AR = IR x CR x DR
DR = AR / (IR x CR)
Với mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được và các rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát xác định Kiểm toán viên sẽ tính ra rủi ro phát hiện và dựa vào đó
xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập.
Bước 6: Lập kế hoạch kiểm toán chung và thiết kế chương trình kiểm toán
Trên cơ sở hiểu biết về tình hình kinh doanh, nghĩa vụ pháp lý cùng hệ thống
đặt ra những câu hỏi có liên quan đến kiểm soát nội bộ.
Sau khi đã có mô tả về hệ thống kiểm soát nội bộ, Kiểm toán viên áp dụng
các thể thức cụ thể như: quan sát, phỏng vấn, xem xét… để khảo sát nội bộ và
đánh giá rủi ro kiểm soát. Nội dung và thể thức khảo sát về kiểm soát nội bộ với
tiền mặt thường tập trung vào các vấn đề sau:
Khảo sát, xem xét các quy định về phân công nhiệm vụ và về trách
nhiệm của các nhân viên, các bộ phân liên quan như:
Phân công người giữ quỹ và chế độ trách nhiệm về giữ quỹ,
xem xét theo nguyên tắc “tập trung đầu mối thu” có được đảm bảo hay
không.
Phân công và phân biệt giữa cán bộ có trách nhiệm duyệt chi
với kế toán và thủ quỹ có đảm bảo nguyên tắc “bất kiêm nhiệm”.
Sự phân công công việc giữa các nhân viên trong các khâu
hạch toán có đảm bảo cho việc thực hiện hạch toán tiền mặt được kịp thời
và chặc chẽ.
Thể thức các khảo sát trên đây thực hiện chủ yếu bằng việc xem xét các văn
bản quy định về phân công nhiệm vụ, trách nhiệm, thực hiện việc phỏng vấn
nhân viên liên quan, kết hợp quan sát trực tiếp sự vận hành của một số công việc
như kế toán quỹ và thủ quỹ. Nếu có sự kiêm nhiệm trong công việc không tuân
theo quy định hoặc không có sự tách biệt trách nhiệm rõ ràng thì hiệu lực kiểm
soát bị giảm đi, tiềm năng về gian lận hoặc sử dụng tiền mặt lạm dụng dễ xảy ra.
Khảo sát, xem xét các quy trình duyệt chi tiền mặt và khâu tổ chức
bảo quản chứng từ thu tiền, như:
Việc thực hiện quy trình duyệt chi tiền mặt có được giới hạn ở
một số người đảm bảo sự chặt chẽ và nguyên tắc “uỷ quyền, phê chuẩn” hay
không. Kiểm toán viên cần chú ý đến các dấu hiện của sự phê chuẩn trên
các hồ sơ và các chứng từ chi tiền của đơn vị.
Công việc tổ chức bảo quản các chứng từ tài liệu liên quan đến
tiền mặt, có được đơn vị chú ý và thực hiện như thế nào?
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 8
hiểm tiền mặt và vấn đề ký quỹ của thủ quỹ (nếu có); bao gồm:
Xem xét hệ thống bảo hiểm về tiền mặt của đơn vị như két
đựng tiền, hệ thống chống cháy, hệ thống khoá, hệ thống báo động… có
đảm bảo an toàn cho tiền mặt hay không.
Xem xét đối với trường hợp đơn vị có mua bảo hiểm tài sản nói
chung để thấy được sự coi trọng của đơn vị đối với sự an toàn của tài sản
trong đó có tiền mặt. Trường hợp đơn vị có quy định và thực hiện quy định
thủ quỹ phải có ký quỹ cũng thể hiện sự ngăn ngừa gian lận, biển thủ tiền
mặt của đơn vị một cách có hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của thủ quỹ.
Những công việc khảo sát về kiểm soát nội bộ đối với tiền mặt nói trên
giúp cho kiểm toán viên đánh giá được hiệu lực của kiểm soát nội bộ và
mức độ rủi ro kiểm soát đối với tiền mặt. Từ đó xác định phạm vi và thiết
kế các khảo sát cơ bản để kiểm toán đối với các số liệu kế toán (khảo sát chi
tiết các nghiệp vụ và số dư tiền mặt).
2.2.2.2. Thử nghiệm kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
2.2.2.2.1. Tiền mặt
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Tiếp theo sau việc khảo sát về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần tiến hành
các khảo sát về các nghiệp vụ tiền mặt. Dưới đây sẽ trình bày các mục tiêu kiểm
toán cụ thể và thể thức khảo sát thông thường, phổ biến mà kiểm toán viên
thường sử dụng trong khảo sát nghiệp vu tiền mặt:
Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền mặt thu, chi ghi trên sổ kiểm toán
tiền mặt đều thực tế phát sinh và có căn cứ hợp lý.
Để khảo sát mục tiêu này, kiểm toán viên thường tiến hành các thể thức chủ
yếu sau đây:
Kiểm tra các bằng chứng về sự phê duyệt chi tiền của người có
trách nhiệm (chữ kí phê duyệt, tính đúng đắn của sự phê duyệt). Kiểm tra
mẫu những chứng từ chi tiền đối với những khoản chi lớn và bất thường về
nội dung chi, xem xét các chứng từ có đầy đủ chứng từ gốc kèm theo chứng
thu tiền mặt (chưa ghi ngay khoản đã thu mà chờ khi thu được khoản khác để che
dấu sự thiếu hụt về tiền mặt thu được) cũng cần được Kiểm toán viên cảnh giác
khi kiểm tra ngày ghi sổ tiền mặt và sổ kế toán khác có đảm bảo kịp thời và đúng
kỳ không.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Mục tiêu kiểm toán: các khoản thu, chi tiền mặt đều được đánh giá,
tính toán đúng đắn, đặc biệt đối với tiền mặt là ngoại tệ, vàng bạc và đá quý.
Kiểm toán viên cần thực hiện các khảo sát liên quan đánh giá, tính toán thực
hiện ở đơn vị đối với tiền mặt, trong đó đặc biệt đối với tiền mặt là ngoại tệ, vàng
bạc và đá quý. Các khảo sát cụ thể thường là:
Kiểm tra việc tính toán thu chi tiền mặt và việc đối chiếu số liệu giữa kế
toán và thủ quỹ.
Kiểm tra việc tính toán quy đổi ngoại tệ có phù hợp với tỷ giá ngân hàng
công bố có hiệu lực cùng thời điểm; việc sử dụng phương pháp đánh giá
vàng bạc, đá quý có đảm bảo phù hợp và nhất quán hay không.
Khảo sát việc thực hiện nghiệp vụ đánh giá ngoại tệ tồn quỹ có được duy trì
và thực hiện đúng thể thức quy định hay không.
Kiểm tra việc tính toán các khoản giảm giá, hoa hồng … đã chi bằng tiền mặt.
Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền thu được đều
được gửi vào ngân hàng kịp thời, thực hiện quy định thanh toán qua ngân
hàng.
Các khảo sát chủ yếu thường được thực hiện gồm:
Khảo sát việc thực hiện các nghiệp vụ thanh
toán, các khoản lớn qua ngân hàng.
Đối chiếu giữa sổ kế toán tiền mặt với sổ ngân
hàng về ngày bán hàng thu tiền mặt; ngày nộp tiền mặt vào ngân hàng và số
tiền mặt nộp vào ngân hàng.
Mục tiêu kiểm toán: các nghiệp liên quan
đến tiền mặt đều được hạch toán đúng.
sổ cái, đối chiếu với số liệu của ngân hàng xác nhận.
Kiểm toán viên thu thập hoặc tự lập bảng kê chi tiết về các loại tiền
(tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý) gửi tại ngân hàng.
Thực hiện việc đối chiếu để xác nhận về số liệu liên quan đến tiền gửi
ngân hàng.
Kiểm toán việc quy đổi ngoại tệ và tính giá đối với vàng bạc, đá
quý gửi tại ngân hàng (thể thức khảo sát như kiểm toán tiền mặt).
Kiểm toán việc tính toán khoá sổ kế toán tài khoản tiền gửi ngân
hàng thông qua việc yêu cầu khách hàng cung cấp sổ phụ (hoặc các bản sao
kê) của ngân hàng gửi cho đơn vị ở khoản thời gian trước và sau ngày khoá
sổ để đối chiếu với số liệu trên sổ của đơn vị nhằm phát hiện chênh lệch tìm
hiểu nguyên nhân (nếu có).
Gửi thư xác nhận số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng vào thời gian
khoá sổ.
Kiểm toán viên có thể yêu cầu đơn vị kê khai hoặc tự mình thu thập
và kê khai về tiền gửi ngân hàng của đơn vị tại các ngân hàng có liên quan và
đảm nhận việc gửi đi, nhận về “thư” đề nghị các ngân hàng xác nhận số dư
tiền gửi ngân hàng vào thời điểm báo cáo. Việc xin xác nhận này không thể
thiếu trong khảo sát tiền gửi ngân hàng. Cùng với nội dung về đề nghị xác
nhận số dư tiền gửi, kiểm toán viên cũng xin ý kiến về các thông tin có liên
quan khác như:
Số dư của mọi tài khoản của đơn vị tại ngân hàng.
Các giới hạn trong việc sử dụng tiền gửi ngân hàng.
Mức lãi suất (của các khoản tiền gửi đã có lãi).
Các khoản khác: cầm cố, thế chấp, mở thư tín dụng hay các khoản tương tự.
Thư xác nhận này là một cơ sở để đối chiếu với số liệu kế toán tai đơn vị (như
đã nêu trên). Nếu thấy chênh lệch, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân có liên quan.
Khảo sát các quá trình chuyển khoản:
Nghiệp vụ chuyển khoản là loại nghiệp vụ đặc thù riêng của tiền gửi ngân
hàng. Trường hợp tiền gửi của đơn vị được chuyển từ ngân hàng này sang ngân
ngày lập bảng cân đối kế toán và cho các Kiểm toán viên khi tiến hành kiểm
tra số dư.
Những sự kiện này bao gồm: tuyên bố phá sản do tình trạng tài chính xấu của
một khách hàng có số dư khoản phải thu lớn chưa thanh toán, giải quyết một vụ
kiện với một món tiền ghi sổ, bán các khoản đầu tư với giá thấp hơn giá trị ghi
sổ,…Kiểm toán viên cần phải thận trọng để phân biệt giữa các sự kiện đã có vào
ngày lập bảng cân đối kế toán và các sự kiện mới phát sinh ngày cuối năm.
Ví dụ: Một số séc của đơn vị đã ghi vào tồn quỹ của đơn vị ngày 31/12, đầu
năm sau khi nộp vào ngân hàng mới biết là không có khả năng thanh toán. Nếu
số tiền trên séc là trọng yếu, cần phải điều chỉnh lại tồn quỹ ngày 31/12 và loại
trừ những séc không có khả năng thu tiền này…
Những sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến
báo cáo tài chính nhưng cần công khai. Các sự kiện này thường bao gồm: sự
phát hành trái phiếu hoặc các chứng khoán vốn, sự tụt giảm thị trường chứng
khoán làm giảm các khoản đầu tư, khách hàng có số dư khoản phải thu lớn bị
phá sản do gặp thiên tai, hoả hoạn,…
Các thủ tục kiểm toán của việc xem xét các sự kiện trên được chia làm hai nhóm:
Nhóm các thủ tục thường được kết hợp với
nhau thành một phần của quá trình kiểm tra các số dư tài khoản cuối năm.
Nhóm các thủ tục thực hiện đặc biệt nhằm
mục đích phát hiện các sự kiện hoặc quá trình phải được thừa nhận trong kỳ
kiểm toán.
2.2.3.2. Đánh giá kết quả của toàn bộ công việc kiểm toán khoản mục vốn
bằng tiền
Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán khoản mục vốn
bằng tiền, kết quả thu thập được và cân nhắc để đưa ra ý kiến nhận xét về khoản
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
mục này để nhận xét về báo cáo tài chính. Để đạt được mục đích này, Kiểm toán
viên thường thực hiện các công việc sau:
nghiệm và độc lập không tham gia vào cuộc kiểm toán xem xét lại nhằm đánh
giá khách quan xem cuộc kiểm toán có được tiến hành hợp lý không, các Kiểm
toán viên có khả năng đánh giá các bằng chứng mà họ tập hợp được hay không,
cuộc kiểm toán có được thực hiện với sự thận trọng thích đáng hay không?
2.2.4. Chuẩn bị những điều cần trình bày trong thư quản lý về khoản mục vốn
bằng tiền
Thư quản lý là thông báo cho khách hàng về những bình luận của công ty
kiểm toán đối với việc cải tiến công việc kinh doanh của khách hàng. Nó giúp
cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Việc kết hợp kinh nghiệm của
Kiểm toán viên trong nhiều ngành kinh doanh khác nhau với một sự hiểu biết sâu
sắc thu được khi tiến hành kiểm toán, giúp cho Kiểm toán viên cung cấp cho ban
quản trị khách hàng nhiều thông tin bổ ích.
Thư quản lý không bắt buộc nhưng trong hầu hết các cuộc kiểm toán đều
được lập nhằm tạo mối quan hệ tốt hơn giữa công ty kiểm toán và khách hàng.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Không có tiêu chuẩn nào trong việc viết thư quản lý. Mỗi thư phải được triển
khai để đáp ứng phong cách của Kiểm toán viên và nhu cầu của khách hàng.
Nhưng thư quản lý phải chỉ ra được các nhược điểm và yếu kém của doanh
nghiệp, ảnh hưởng của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Quy trình kiểm toán vốn bằng tiền do công ty TNHH kiểm
toán và kế toán AAC thực hiện
1. Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC (trước đây là Công ty kiểm toán
và kế toán AAC trực thuộc Bộ Tài Chính thành lập từ năm 1993) là một trong số
rất ít các công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. AAC hoạt
động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hình doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc
lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức
quan chức năng tín nhiệm và đánh giá cao về chất lượng phục vụ.
1.4. Các loại hình dịch vụ của công ty
Kiểm toán: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán luôn luôn là thế mạnh của AAC.
Các dịch vụ kiểm toán do AAC cung cấp đều được lập kế hoạch và tiến hành
theo các Quy trình kiểm toán chuẩn do AAC xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ
các Chuẩn mực kiểm toán, Quy chế kiểm toán độc lập và các quy định hiện hành,
đồng thời có sự so sánh, đối chiếu và vận dụng các Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
và Thông lệ được chấp nhận chung của Quốc tế. Từ các kết quả kiểm toán , AAC
đảm bảo cung cấp những góp ý xây dựng hiệu quả cho các khách hàng của mình.
Trải qua một thời gian dài nỗ lực xây dựng và không ngừng phát triển, AAC đã
tạo dựng được niềm tin của các khách hàng trong từng dịch vụ kiểm toán.
Các dịch vụ kiểm toán do AAC cung cấp bao gồm:
• Kiểm toán báo cáo tài chính,
• Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế,
• Kiểm toán hoạt động,
• Kiểm toán tuân thủ,
• Kiểm toán nội bộ,
• Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB,
• Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư XDCB.
Thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng do các
quy định về thuế càng ngày càng trở nên phức tạp. Thông qua một đội ngũ các
chuyên gia am hiểu về các sắc thuế và tận tâm, AAC sẵn sàng hỗ trợ các khách
hàng hoàn thành đúng nghĩa vụ thuế với nhà nước đồng thời tận dụng triệt để
các lợi thế về thuế trong hoạt động kinh doanh để gia tăng lợi ích của các chủ sở
hữu công ty. Đối với nhiều cá nhân, thuế thu hút được sự quan tâm ngày càng
nhiều hơn. Với khả năng của mình, AAC giúp các khách hàng của mình có đầy
đủ tự tin hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước cũng như đảm bảo được giá trị
tài sản của mình. AAC sẵn sàng bảo vệ khách hàng trong mọi trường hợp tranh
chấp xảy ra. AAC làm việc hết mình để xây dựng uy tín của chính mình, niềm
tin đối với khách hàng không chỉ vì các khách hàng , vì Nhà nước mà còn vì
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Chú thích:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
Tổng Giám đốc công ty: là người đại diện của công ty trước Bộ
trưởng bộ tài chính và cơ quan pháp luật về toàn bộ quá trình hoạt động của công
ty.
Tổng Giám đốc sẽ đánh giá rủi ro của hợp đồng kinh tế liên quan
đến hoạt động của công ty, duy trì mối quan hệ với các bộ cao cấp của công
ty.
Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có
tầm quan trọng.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 17
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng tư vấn –
đào tạo
Phòng kiểm toán
xây dựng cơ bản
Phòng kiểm toán
báo cáo tài chính
Phòng hành chính
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã thực hiện, ký
báo cáo kiểm toán và thư quản lý
Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết
thúc cuộc kiểm toán hoặc ủy quyền lại
Phó Tổng Giám đốc: AAC có hai phó tổng làm việc trong lĩnh vực
kiểm toán báo cáo tài chính và xây dựng cơ bản.
Trợ lý kiểm toán viên: Là người tham gia thực hiện công tác kiểm
toán nhưng chưa trúng tuyển kỳ thi kiểm toán viên cấp quốc gia. Tuỳ theo năng
lực và thâm niên công tác, trợ lý kiểm toán viên được chia thành ba loại:
Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba
tháng, được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó và
chưa trúng tuyển kỳ thi kiểm toán viên cấp quốc gia. Theo thông lệ, những
người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học
và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán
và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào
nghề. Trợ lý kiểm toán viên cấp 1 được phân công thực hiện các công việc
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
dưới sự chỉ dẫn nghiệp vụ của một kiểm toán viên khác và hiếm khi chịu
trách nhiệm trước Giám đốc công ty.
Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: Là người làm việc ở công ty kiểm toán
được hai năm, chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó.
Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: Là người làm việc ở công ty được ba
năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng
đoàn kiểm toán cho những công ty nhỏ.
1.6. Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH kiểm toán và
kế toán AAC
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế
toán AAC gồm ba giai đoạn thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: các giai đoạn của quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
1.6.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quá trình kiểm toán nhằm
tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho cuộc kiểm
toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 nêu rõ: kiểm toán viên và công ty
kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm
toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả. Lập kế hoạch kiểm toán giúp kiểm
kiểm toán
Tài liệu và thông tin yêu
cầu khách hàng lập
Kiểm tra kế hoạch
kiểm toán
Tìm hiểu
khách hàng
Hệ thống kế
toán
Hệ thống kiểm
soát nội bộ
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Bản ghi nhớ kế hoạch kiểm toán – B1
Các điểm cần lưu ý của năm trước – B2
Hợp đồng kiểm toán – B3
Tìm hiểu về khách hàng – B4
Chương trình xem xét hệ thống kế toán – B5
Phân tích tóm tắt hệ thống kiểm soát nội bộ - B6
Các thủ tục phân tích theo kế hoạch – B7
Ghi chú những thảo luận về kế hoạch kiểm toán – B8
Tài liệu và thông tin đề nghị khách hàng lập – B9
Kiểm tra kế hoạch kiểm toán – B10
1.6.2. Thực hiện kiểm toán
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp, kỹ thuật kiểm
toán thích ứng với từng đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm
toán, đưa ra ý kiến xác thực về mức độ trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính.
Nội dung cơ bản của giai đoạn thực hiện kiểm toán ở công ty TNHH kiểm
toán và kế toán AAC:
Quy định về nhiệm vụ của nhóm trưởng: Nhóm trưởng giữ vai trò
hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình kiểm toán. Thực hiện nhiều
báo cáo tài chính. Đây là giai đoạn mà các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá
trình thực hiện kiểm toán, nêu ra ý kiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo
cáo kiểm toán. Các giấy tờ làm việc cụ thể trong giai đoạn này ở công ty TNHH
kiểm toán và kế toán AAC gồm:
Chỉ mục giấy làm việc
Xác nhận bản thảo báo cáo kiểm toán
Trang trình duyệt
Trao đổi với khách hàng khi kết thúc kiểm toán
Danh mục kiểm tra cuối cùng
Bàn luận về thư quản lý
Tổng kết của nhóm trưởng
Tổng kết của các thành viên trong nhóm
Kiểm tra khái niệm hoạt động liên tục
Kiểm tra sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ
Biên bản ghi nhận tiến độ làm việc
Bảng chấm công
Tuỳ theo từng công ty, từng đối tượng khách hàng cụ thể mà công ty TNHH
kiểm toán và kế toán AAC tiến hành thực hiện các công việc cụ thể trong giai
đoạn kết thúc kiểm toán sẽ có sự khác nhau. Đối với những công ty nhỏ, các
nghiệp vụ phát sinh không nhiều. Thời gian thực hiện kiểm toán ngắn, công ty
TNHH kiểm toán và kế toán AAC có thể bỏ qua bớt một số giấy tờ làm việc
không cần thiết như: Biên bản ghi nhận tiến độ làm việc, bảng chấm công, Bàn
luận về thư quản lý…mà vẫn đảm bảo được chất lượng của cuộc kiểm toán và
không ảnh hưởng đến hình ảnh công ty trong tâm trí khách hàng.
2. Quy trình kiểm toán vốn bằng tiền tại công ty cổ phần XYZ do công ty
TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện
2.1. Giới thiệu về công ty cổ phần XYZ
Để đạt được sự hiểu biết về hoạt động kinh doanh của khách hàng kiểm toán
viên cần tìm hiểu các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của khách hàng như cấu trúc sở hữu và quản lý; hoạt động kinh doanh; chính
Đặc thù sản xuất kinh doanh và phương thức hoạt động: công ty
chủ yếu thi công công tác bê tông cốt thép tại các công trình thủy điện với
quy mô vừa.
Cơ cấu sở hữu vốn hiện tại của công ty là vốn sở hữu của nhà
nước chiếm 51% vốn điều lệ của công ty, vốn của cổ đông khác chiếm
49% số vốn điều lệ của công ty
Môi trường kiểm soát nội bộ: Công ty đã xây dựng các quy chế
quản lý nội bộ trên cơ sở các văn bản quy định của pháp định hiện hành
được áp dụng triệt để từ phòng ban nghiệp vụ đến các tổ đội sản xuất với
từng nội dung công việc cụ thể trên cơ sở sử dụng tiền vốn có hiệu quả, hạn
chế khâu trung gian, kiểm soát chặc chẽ và xử lý nghiêm khắc việc gây ra
các thất thoát, lãng phí; sản phẩm là thước đo cho sự cống hiến của mỗi cán
bộ công nhân viên trong đơn vị. Mọi cổ đông cùng tham gia quá trình sản
xuất kinh doanh của công ty trên nguyên tắc bình đẳng, lắng nghe và điều
chỉnh ngay những vấn đề bất hợp lý. Việc hạch toán kinh doanh được cập
nhật thường xuyên theo từng tổ, đội sản xuất và theo từng hạng mục công
trình.
Các chính sách kế toán chủ yếu:
Báo cáo tài chính tuân thủ theo hệ thống kế toán Việt Nam.
Báo cáo tài chính được lập theo chế độ kế toán Việt Nam.
Đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán là VNĐ tuân thủ theo
chuẩn mực kế toán Việt Nam, hệ thống kế toán Việt Nam theo văn bản chấp
thuận của Bộ tài chính số 14910/BTC – CĐKT ngày 24 tháng 11 năm 2005.
Kỳ kế toán bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.
Hình thức sổ kế toán: kế toán thủ công – hình thức nhật ký chứng từ.
Nguyên tắc chuyển đổi ngoại tệ: Các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến
ngoại tệ được quy đổi sang VNĐ. Chênh lệch tỷ giá phát sinh từ các
nghiệp vụ này được ghi nhận vào kết quả hoạt động kinh doanh.
Số dư các tài sản bằng tiền vào công nợ phải thu, phải trả có gốc ngoại tệ
tại ngày kết thúc niên độ kế toán được chuyển đổi theo tỷ giá ngoại tệ tại
TK141, 627, 641, 642,
241
TK 311, 331, 315, 333,
334, 336, 338
Thu tiền
Doanh thu
Tiền gửi
ngân hàng
Thu hồi nợ
Chi tiền
Gửi ngân
hàng
Đầu tư tài
chính
Mua vật tư,
hàng hóa,
TSCĐ
Sử dụng cho
chi phí
Thanh toán
nợ
TK 112
TK 111
TK 511
TK 112
Thu hồi vốn
đầu tư
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
2.2.1.2. Hạch toán tiền gửi ngân hàng
dịch vụ
Gửi tiền vào
ngân hàng
Thu hồi nợ
Rút tiền
Về quỹ
Đầu tư tài
chính
Mua vật tư,
hàng hóa,
TSCĐ
Chi phí xây
dựng cơ bản
Thanh toán
các khoản nợ
phải trả
111
TK 112
511, 711
112
131,138
121,128, 222, 228
Thu hồi vốn
đầu tư
Thu hồi vốn
đầu tư
411
Chi phí
627, 641, 642, 811