Lời Nói Đầu
Trong thế giới hiện đại, trớc xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế
giới, mọi quốc gia, mọi khu vực đều không thể đứng ngoài xu thế này.
Với chính sách đổi mới của nền kinh tế, nớc ta đã và đang nhanh chóng hội
nhập vào xu hớng chung của thế giới, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế
trong khu vực và thế giới nh AFTA, WTO, APEC v.v.. với quan điểm đó chúng ta
coi trọng vai trò của Thơng mại Quốc tế, coi đây là chiếc cầu nối liền giữa nền kinh
tế nớc ta với nền kinh tế thế giới, là chiếc đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất
trong nớc, thu hút đầu t v.v.. và là phơng tiện để thúc đẩy sự phân công lao động
quốc tế.
Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ khó có thề hoà nhập với công cuộc toàn cầu hoá,
khu vực hoá nếu không nhận ra những khó khăn của chính mình và không đủ sức v-
ợt qua những khó khăn đó. Một trong những khó khăn của Việt Nam trên con đờng
hội nhập kinh tế thế giới đó là xuất phát điểm của Việt Nam thấp, khoa học công
nghệ lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo nàn v.v..
Hiểu đợc vấn đề này, trong những năm qua Đảng và Chính phủ ta đã cho tiến
hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Và con đờng nhanh nhất để
thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cần nhanh chóng tiếp cận những công
nghệ và kĩ thuật tiên tiến của nớc ngoài bằng cách nhập khẩu máy móc thiết bị hiện
đại phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng đất nớc. Nhng
nhập khẩu máy móc, vật t thiết bị nh thế nào để phù hợp với điều kiện nền kinh tế
của Việt Nam và đạt hiệu quả cao là vấn đề mà các nhà doanh nghiệp nhập khẩu và
các ngành các cấp có liên quan đang rất quan tâm xem xét
Nhận thức đợc vai trò và tầm quan trọng của nhập khẩu thiết bị toàn bộ
trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nớc, trên cơ sở những kiến thức về kinh
tế và nghiệp vụ xuất nhập khẩu đã đợc truyền thụ tại nhà trờng và một số kinh
nghiệm thực tế thu thập đợc trong quá trình thực tập tại công ty Xuất Nhập Khẩu
Thiết Bị Toàn Bộ Và Kỹ Thuật, em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là: "
1
Tổng quan về hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ
trong cơ chế thị trờng
I. Khái quát về hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ
1. Khái niệm và đặc điểm của thiết bị toàn bộ
Khái niệm về thiết bị toàn bộ
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế , các
khái niệm và định nghĩa về thiết bị toàn bộ cũng đợc bổ sung và phát triển. Ngày
13/11/1992 Thủ tớng Chính Phủ đã ra quyết định số 91/TTg ban hành Quy định về
quản lý nhập khẩu máy móc, thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nớc, trong đó
đa ra định nghĩa Thiết bị toàn bộ nh sau:
Thiết bị toàn bộ là tập hợp máy móc thiết bị, vật t dùng riêng cho một dự án
có trang bị công nghệ cụ thể có các thông số kinh tế - kỹ thuật đợc mô tả và qui
định trong thiết kế của dự án.
Nh vậy, nội dung của hàng hoá thiết bị toàn bộ bao gồm:
Khảo sát kỹ thuật.
Luận chứng kinh tế- kỹ thuật hoặc nghiên cứu khả thi công việc thiết kế.
Thiết bị , máy móc, vật t cho xây dựng dự án.
Các công tác xây dựng, lắp ráp, hiệu chỉnh, hớng dẫn vận hành.
Các dịch vụ khác có liên quan đến dự án nh chuyển giao công nghệ, đào
tạo v.v..
Thiết bị toàn bộ là nhà máy, cơ sở sản xuất nông, lâm, ng nghiệp, cơ sở khoa
học hay thí nghiệm, bệnh viện, trờng học, công trình kiến trúc, công trình thủy lợi,
giao thông, bu điện v.v.. nhờ nớc ngoài thiết kế hoặc giúp ta thiết kế, do nớc ngoài
cung cấp thiết bị, nguyên liệu sản xuất thử, hớng dẫn xây lắp máy và sản xuất thử.
Ngoài ra, căn cứ vào tình hình đặc biệt, có thể có một số thiết bị tuy không đủ điều
kiện trên nhng đợc uỷ ban kế hoạch nhà nớc duyệt là thiết bị toàn bộ thì cũng đợc
quy định là thiết bị toàn bộ.
Việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ đợc tiến hành thông qua một hợp đồng (theo
hình thức trọn gói) với toàn bộ nội dung hàng hoá nêu trên hoặc thực hiện từng phần
tùy theo yêu cầu cụ thể.
liên quan theo qui định cụ thể của pháp luật.
Trớc kia, theo qui định của thông t 04/TM- ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ thơng
mại, muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp phải đợc Bộ
4
thơng mại cấp giấy phép kinh doanh phù hợp với Điều 5 Nghị định số 144/HĐBT
ngày 7/7/1992 trong đó ở phần nhập khẩu có ghi ngành hàng thiết bị, máy móc.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các yêu cầu nh:
-Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ có đủ năng lực chuyên
môn kỹ thuật, nghiệp vụ ngoại thơng, giá cả, pháp lý quốc tế trong kinh
doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
-Doanh nghiệp đã kinh doanh nhập khẩu ngành hàng máy móc thiết bị lẻ tối
thiểu 5 năm và có mức doanh số nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm
không dới 5 triệu USD.
-Doanh nghiệp có vốn lu động do nhà nớc giao tự bổ sung bằng tiền Việt nam
và tiền nớc ngoài tối thiểu tơng đơng với 500.000USD tại thời điểm đăng ký
kinh doanh nhập khẩu thiết bị.
Do đó, muốn nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp cần phải xin đăng ký
kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ với Bộ thơng mại bằng cách gửi bộ hồ sơ
đăng ký kinh doanh, bao gồm: đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị, giấy phép
kinh doanh xuất nhập khẩu, hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lu động (bao gồm vốn Nhà
nớc giao và vốn tự bổ sung), bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng (Biểu tổng hợp),
sơ đồ tổ chức bộ máy kinh doanh và cán bộ cần thiết để đảm bảo đủ năng lực kinh
doanh thiết bị.
Tuy nhiên, sau này theo nội dung của nghị định 33/CP ngày19/4/1994 về
Quản lý Nhà nớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu, nhập khẩu và tiếp đó là Nghị
định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định chi tiết rằng để đợc phép kinh doanh
xuất nhập khẩu (kể cả hàng hoá thiết bị toàn bộ), doanh nghiệp phải đợc thành lập
theo qui định pháp luật, đợc phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã
đăng ký kinh doanh, đã đăng ký mã số kinh doanh với Cục Hải Quan tỉnh, thành và
Đặc điểm: trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhập khẩu uỷ thác
không phải bỏ vốn, không xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên cứu thị trờng
tiêu thụ. Không phải lo tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra thay mặt bên uỷ
thác tìm và giao dịch với nớc ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục hải quan, thủ
tục xuất nhập khẩu hàng hoá cũng nh thay mặt bên uỷ thác tiến hành đòi bồi thờng
bên nớc ngoài khi có tổn thất. Khi tiến hành xuất nhập khẩu uỷ thác thì doanh
nghiệp xuất nhập khẩu chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ không tính vào doanh
số.
6
Nhập khẩu tự doanh : hoạt động nhập khẩu tự doanh chính là hoạt động
nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trên
cơ sở nghiên cứu thị trờng trong và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí để
đảm bảo kinh doanh xuất nhập khẩu có lãi đúng phơng hớng, chính sách,
luật pháp của quốc gia cũng nh quốc tế.
Đặc điểm: doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ,
tự chịu trách nhiệm về mọi mặt kinh doanh của mình liên quan đến quá trình nhập
khẩu. Đây là hoạt động mà doanh nghiệp phải xem xét kỹ càng, từ bớc nghiên cứu
thị trờng đến việc ký kết hợp đồng- bởi vì doanh nghiệp phải tự bỏ vốn mình ra, chịu
mọi chi phi giao dịch thị trờng, giao nhận ở kho tới chi phí vận chuyển và giao nhận
hàng hoá, chịu thuế VAT. Khi nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp phải tính kim
ngạch xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ hàng thì sẽ tính vào doanh số, do đó phải chịu
thuế.
2.3. Khung pháp lý hiện nay cho hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ ở
Việt Nam
Từ những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng không giống nh nhập
khẩu thiết bị lẻ thông thờng, công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ đòi hỏi cả một
khoảng thời gian rất dài để có thể hoàn tất các khâu, từ chuẩn bị nguồn vốn, chuẩn
bị dự án, lựa chọn phơng thức thực hiện đến phê duyệt, đàm phán, ký kết, tổ chức
thực hiện, và vận hành công trình. Trong suốt quá trình thực hiện, các khâu này lại
khẩu máy móc, thiết bị đồng thời đảm bảo quy hoạch xây dựng, áp dụng hiệu quả
công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, chính phủ Việt Nam đã ban hành quy
chế quản lý đầu t và xây dựng (Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999) và các
nghị định sửa đổi, bổ xung một số điều của quy chế nh nghị định 12/2000/NĐ-CP
ngày 5/5/2000 và Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của Chính Phủ
+ Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho đến nay vẫn luôn gắn
liền với hoạt động đấu thầu vì khi lựa chọn nhà cung cấp nớc ngoài, các doanh
nghiệp Việt Nam hầu hết là tổ chức đấu thầu để lựa chọn đối tác thích hợp. Điều
này dẫn đến việc Chính phủ ta luôn phải bổ xung thêm những nội dung cơ bản của
công tác đấu thầu và tổ chức đấu thầu, đa ra những quy định cụ thể hơn, hệ thống
hơn, đặc biệt là công tác quản lý nhà nớc về đấu thầu
Nghị định 88/1999/ NĐ-CP ngày 4/9/1999 ban hành Quy chế đấu thầu, cùng
với Nghị Định 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính Phủ- sửa đổi, bổ xung
một số điều của Quy chế đấu thầu - ra đời nhằm mục đích thống nhất quản lý các
8
hoạt động đấu thầu tuyển chọn t vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp và lựa chọn đối tác
để thực hiện dự án hoặc từng phần dự án trên lãnh thổ Việt nam.
+ Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc thiết bị, Bộ khoa
học công nghệ và môi trờng đã ban hành một hệ thống những văn bản pháp luật nh :
Thông t số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 hớng dẫn thực hiện
nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính Phủ quy định chi tiết về
chuyển giao công nghệ. Trong đó, có đa ra các định nghĩa về "chuyển giao công
nghệ", "tài liệu kỹ thuật", "đào tạo","các dịch vụ hỗ trợ, t vấn kỹ thuật và t vấn quản
lý kinh doanh "v.v.. đa ra các phơng thức thanh toán trong chuyển giao công nghệ
và quản lý chuyển giao công nghệ của nhà nớc. Đặc biệt, thông t đã nhấn mạnh
trong trờng hợp chuyển giao công nghệ đi kèm với nhập thiết bị thì phần chuyển
giao công nghệ cần lập thành một phần riêng của hợp đồng nhập khẩu thiết bị và chi
phí cho việc chuyển giao công nghệ cần tính riêng ngoài giá thiết bị
Quyết định 1091/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 22/6/1999 ban hành quy định
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc và phát triển kinh tế, lối thoát để có thể rút ngắn thời gian, rút ngắn
khoảng cách lại tiết kiệm đợc công sức cho những lĩnh vực mà mình có thế mạnh và
phù hợp với hoàn cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay chính là nhập khẩu thiết bị và
công nghệ từ các nớc tiên tiến. Có thể nói ngắn gọn những u thế mà nền kinh tế Việt
Nam nói chung và ngời nhập khẩu nói riêng tận dụng đợc nhờ nhập khẩu thiết bị
toàn bộ nh sau:
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho phép ngời mua có thể làm chủ kỹ thuật và
công nghệ mới, làm chủ các công nghệ và vật liệu trong các lĩnh vực của
nền kinh tế quốc dân mà nớc mình không có khả năng sản xuất hoặc việc
sản xuất rất tốn kém về thời gian và tiền của, từ đó tranh thủ sử dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và sẽ dần dần xây
dựng đợc một nền sản xuất hiện đại với chi phí hợp lý.
- Việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ giúp cho ngời mua tiết kiệm đợc quỹ thời
gian và một phần không nhỏ chi phí cho việc xây dựng các cơ quan
nghiên cứu khoa học, các viện thiết kế, phòng thiết kế chuyên môn, đào
tạo chuyên gia v.v.. mà đôi khi không mang lại hiệu quả mong muốn.
Thay vào đó chủ đầu t có thể tập trung đi sâu vào những lĩnh vực mà mình
có thế mạnh
10
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là một trong những con đờng nâng cao hiệu
quả sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân, hạn chế đợc việc phải nhập khẩu những hàng hoá là thành
phẩm của công nghệ cao từ nớc ngoài với chi phí cao
- Xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng quy mô nhà máy hiện tại có thể góp
phần tạo ra công ăn việc làm cho ngời lao động, đồng thời giúp cho các
cán bộ kỹ thuật và công nhân tiếp thu đợc kiến thức kỹ thuật mới cũng nh
phơng pháp quản lý tiên tiến của nớc xuất khẩu. Những u điểm trên hoàn
toàn thích hợp với mục tiêu thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
+ Nhân tố ảnh hởng đến dung lợng thị trờng: cần phải đánh giá đúng mức độ
ảnh hởng của từng nhân tố, xác định nhân tố nào có ý nghĩa quyết định đến xu hớng
vận động của thị trờng từ đó xác định chính xác nhu cầu nhập khẩu mặt hàng đã lựa
chọn.
Có 3 nhóm nhân tố ảnh hởng chính đến dung lợng thị trờng đó là các
nhóm nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến đổi theo chu kỳ (nh đặc điểm của
sản xuất, lu thông và phân phối sản phẩm của từng thị trờng đối với mỗi loại hàng
hoá, sự vận động của t bản v.v..), các nhóm nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến
đổi lâu dài (nh thị hiếu, tập quán của ngời tiêu dùng, ảnh hởng của hàng hoá thay
thế, các chính sách, biện pháp của chính phủ, sự tiến bộ cuả khoa học kỹ thuật và
công nghệ), các nhóm nhân tố làm dung lợng thị trờng biến đổi tạm thời (nh thiên
tai, hạn hán, lũ lụt hoặc các hiện tợng gây ra đột biến về cung cầu)
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: tức là việc nghiên cứu tình hình hoạt động,
thị phần, chiến lợc kinh doanh và khả năng thay đổi chiến lợc kinh doanh
của, các điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh trong cùng một
mặt hàng kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng
- Nghiên cứu sự vận động của môi trờng kinh doanh: để nắm bắt quy luật
vận động của môi trờng kinh doanh từ đó có các biện pháp hoặc chính
sách tơng ứng. Môi trờng kinh doanh gồm môi trờng tự nhiên, văn hoá, xã
hội, chính trị, pháp luật .v.v.. có tác động lớn, chi phối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
12
Nghiên cứu thị trờng quốc tế: doanh nghiệp cần xem xét các yếu tố về
cung cầu, giá cả, cạnh tranh v.v.. đặc biệt quan tâm đến các thông tin về
nguồn hàng và giá cả hàng hoá
- Nguồn cung cấp hàng hoá: nắm vững đợc tình hình các nguồn cung cấp
trên thị trờng thế giới, nghiên cứu đặc điểm các nớc cung cấp hàng hoá
cho doanh nghiệp để xem xét mức độ ổn định và an toàn của nguồn cung
cấp hàng hóa nh chính sách xuất khẩu của nớc cung cấp là u tiên hay hạn
tơng tự nh báo cáo tiền khả thi nhng mức độ chi tiết cao hơn nhiều. Đây thực chất là
sự cụ thể hoá báo cáo tiền khả thi.
Đối với các dự án thông thờng thì chỉ cần lập báo cáo khả thi là đủ. Đối với
các công trình phức tạp và quan trọng thì ngời ta có thể lập cả báo cáo tiền khả thi
và báo cáo khả thi. Nếu việc lập báo cáo tiền khả thi cho thấy việc đầu t xây dựng
công trình này là hoàn toàn hợp lý thì sẽ bắt đầu lập báo cáo khả thi. Sở dĩ nh vậy vì
một khi báo cáo khả thi đã đợc thẩm định và thông qua thì sẽ bắt đầu tiến hành công
việc thiết kế.
Mặc dù có khác nhau về tên gọi và cách phân định các phần cụ thể bên trong
nhng luật chứng kinh tế kỹ thuật và báo cáo khả thi có thể coi tơng tự nh nhau. Đây
chỉ là cách gọi khác nhau cho công việc tìm hiểu tính hợp lý và các giải pháp của
việc xây dựng một công trình thiết bị toàn bộ.
3. Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
Đàm phán : có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp. Đàm phán tạo điều kiện cho hai bên hiểu biết nhau rõ hơn
để dễ dàng đi đến thống nhất những bất đồng, những tồn tại, những vớng
mắc nẩy sinh. Đặc biệt đối với thiết bị toàn bộ là loại hàng hoá mà đặc
điểm của nó là có nhiều chi tiết kỹ thuật, nhiều linh kiện máy móc dẫn
đến nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu cần phải thoả thuận để đi đến thống
nhất về các linh kiện đồng bộ về thời gian giao hàng v.v.. sao cho thuận
tiện nhất cho cả hai phía. Hai bên có thể trao đổi về mọi điều kiện giao
dịch, về mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua
bán. Từ đó đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề còn khúc mắc giữa
ngời mua và ngời bán để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng.
Ký kết hợp đồng : sau khi đàm phán nhất trí với các điều kiện mua, bán,
hai bên tiến hành ký kết hợp đồng. Có thể nói giai đoạn đàm phán là bàn
14
đạp để đi đến việc ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu. Nếu đàm phán có kết
quả thì các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán ngoại thơng. Nhng tr-
Trong thơng mại quốc tế hợp đồng có thể là một văn bản hoặc nhiều văn bản
nh những điện báo, th từ giao dịch v.v.. Do đặc điểm của thiết bị toàn bộ nên hợp
đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ thờng gồm nhiều văn bản chẳng hạn nh đơn chào
hàng cố định của ngời bán và chấp nhận của ngời mua hoặc đơn đặt hàng của ngời
mua và chấp nhận của ngời bán.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng xuất nhập khẩu đợc ký kết, đơn vị kinh doanh sẽ tổ chức
thực hiện hợp đồng đó. Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp cần
phải tiến hành công việc theo trình tự sau:
4.1. Xin giấy phép nhập khẩu
Hiện nay, các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu muốn
thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký mà hàng hoá
đó không thuộc danh mục các loại hàng hoá cấm nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều
kiện thì doanh nghiệp chỉ việc đăng ký mã số với cơ quan hải quan là có thể tiến
hành hoạt động nhập khẩu. Còn nếu loại hàng hoá doanh nghiệp cần nhập khẩu
thuộc danh mục hàng nhập có điều kiện thì doanh nghiệp phải xin hạn ngạch nhập
khẩu hoặc giấy phép nhập khẩu của Bộ Thơng Mại hoặc Bộ quản lý chuyên ngành
4.2. Mở L/C
Hoạt động này đợc ngời mua thực hiện khi phơng thức thanh toán là thanh
toán tín dụng chứng từ. Thờng bên mua mở L/C trớc thời gian giao hàng từ 20 đến
25 ngày. L/C là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền
cho ngời xuất khẩu nếu họ trình đợc chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của
L/C Khi mở L/C ngời mở dựa trên căn cứ là các điều khoản của hợp đồng để điền
vào mẫu của giấy xin mở L/C kèm theo bản sao hợp đồng cùng 2 uỷ nhiệm chi là uỷ
nhiệm chi để ký quỹ theo quy định mở L/C và uỷ nhiệm chi để trả thủ tục phí mở L/
C cho ngân hàng
4.3. Thuê tàu
Công ty có thể uỷ thác thuê tàu hoặc tự thuê tàu. Nhà nhập khẩu chỉ thuê tàu
nếu trong hợp đồng quy định hoặc nhập khẩu theo giá FOB. Khi đó, ta phải tiến
sẽ quyết định cho hàng hoá đi hoặc không cho hàng hoá đi. Nếu đồng ý cho hàng
hoá qua, hải quan sẽ kiểm tra xác định số thuế phải nộp của lô hàng dựa trên kết quả
tự tính thuế của ngời khai hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá (nếu có), ra
thông báo thuế hoặc viết biên lai thu thuế (nếu có), viết biên lai lệ phí hải quan .v.v..
17
Công ty phải hoàn toàn tuân theo quy định của hải quan. Nếu vi phạm các
quyết định của hải quan sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ nặng nhẹ
4.6. Nhận hàng nhập khẩu
Căn cứ theo nghị định 200/CP thì mọi giao nhận hàng nhập khẩu đều phải uỷ
thác cho cảng, nên phải ký kết hợp đồng với cảng. Khi hàng về thì cảng phải có
trách nhiệm báo cho chủ hàng và chủ hàng cử ngời đến làm thủ tục nhận hàng.
Công ty phải tiến hành một số công việc sau:
- Ký kết hợp đồng uỷ thác cho cảng về việc giao nhận hàng từ tàu nớc ngoài
về
- Xác nhận với cảng kế hoạch tiếp nhận hàng nhập khẩu theo lịch tàu, cơ
cấu mặt hàng, điều kiện giao nhận
- Cung cấp tài liệu cấn thiết cho việc giao nhận hàng hoá nh: vận đơn, lệnh
giao hàng .v.v..
- Thanh toán cho cảng các khoản phí tổn về giao nhận, bốc xếp bảo quản
vận chuyển hàng hoá
- Theo dõi việc giao nhận đôn đốc cảng lập biên bản (nếu cần) về hàng hoá
và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xảy ra trong lúc giao
nhận
4.7. Kiểm tra hàng hoá
Khi nhận hàng nhập khẩu, công ty phải tiến hành kiểm tra hàng hoá thông
qua một công ty giám định nh Vinacontrol. Nếu phát hiện thiếu hụt, tổn thất công ty
yêu cầu Vinacontrol tiến hành lập chứng từ giám định để đòi bồi thờng hoặc nếu rủi
ro đó đã đợc mua bảo hiểm thì công ty có thể yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản
giám định và bồi thờng những thiệt hại đã xảy ra.
vật chất kỹ thuật, chính sách thơng Mại của họ luôn khuyến khích thực hiện hoạt
động nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Nhng đôi khi các nớc này lại ban hành quá nhiều
các văn bản, quy định có liên quan tới việc đầu t, tiếp cận công nghệ, nhập khẩu
máy móc thiết bị, chuyển giao và áp dụng công nghệ.v.v.. dẫn đến gây khó khăn
cho các nhà đầu t, các nhà nhập khẩu.
Ngợc lại, các nớc xuất khẩu thiết bị toàn bộ lại có xu hớng ngăn chặn việc
bán những công nghệ và máy móc hiện đại mới tạo ra, đặc biệt là những công nghệ
mà mới chỉ một mình họ nắm giữ. Thiết bị máy móc và công nghệ đợc các nớc nh
Nhật, Hoa Kỳ xuất khẩu chẳng qua là những máy móc thiết bị và công nghệ đã sử
19
dụng ở trong nớc họ từ trớc đó nhiều năm, thậm chí hàng chục năm, và khi đợc bán
ra chúng vẫn có thể coi là hoàn toàn mới đối với nhiều quốc gia đang phát triển. Rõ
ràng trong nhiều trờng hợp, ngời nhập khẩu thiết bị toàn bộ vẫn rơi vào tình thế "lực
bất tòng tâm", dù có sẵn sàng bỏ nhiều tiền ra để mua công nghệ cũng không đợc
mua, và vì thế để thực hiện đợc mục tiêu của mình đã đặt ra mà phải "xuống thang"
theo những yêu cầu từ phía nhà xuất khẩu.
2. Trình độ sản xuất - khoa học công nghệ và quản lý
- Trình độ sản xuất - khoa học công nghệ :
Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ chịu sự chi phối tác động mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật. Các quốc gia phát triển có trình độ khoa học kỹ thuật cao thờng
là ngời xuất khẩu thiết bị toàn bộ. Trong khi các quốc gia nhập khẩu thiết bị toàn bộ
lại là các quốc giao đang và chậm phát triển mà Việt Nam là một ví dụ điển hình.
Đây là những nớc còn yếu kém về trình độ khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng
hoặc đang có nhu cầu về thiết bị công nghệ để phục vụ cho quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Tuy nhiên, việc xác định đúng đắn trình độ công nghệ của thiết bị toàn bộ
nhập khẩu là không dễ dàng. Mặc dù hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống các
tiêu chuẩn kỹ thuật để đánh giá trình độ công nghệ của máy móc, dây chuyền nhập
khẩu nhng việc áp dụng và thực hiện nó còn nhiều bất cập.
Trong trờng hợp tỷ giá hối đoái giảm đồng nội tệ bị mất giá so với đồng ngoại
tệ, hàng hoá nhập khẩu trở nên đắt hơn vì ngời nhập khẩu phải dùng nhiều đơn vị
đồng tiền nội tệ hơn để mua cùng một số lợng hàng nhập khẩu. Điều này, kích thích
sự tăng giá cả trong nớc, làm hạn chế nhập khẩu hàng hoá hoặc kích thích sự phát
triển sản xuất các hàng hoá thay thế nhập khẩu ở trong nớc. Tỷ giá hối đoái giảm tác
động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Việc tăng chi phí đồng tiền dân tộc
để mua hàng hoá từ nớc ngoài các nhà nhập khẩu đã phải tăng chi phí sản xuất kinh
doanh của mình. Đây là một nhân tố cơ bản làm giảm hiệu quả kinh doanh của hoạt
động nhập khẩu. Việc tăng chi phí sẽ dẫn tới tăng giá thành sản xuất, do đó sẽ làm
giảm cầu trên thị trờng nội địa về sản phẩm nhập khẩu. Mặt khác do giá cả tăng lên
ngời tiêu dùng nội địa sẽ sử dụng hàng hoá thay thế khác. Điều này, làm giảm kết
quả của hoạt động nhập khẩu dẫn tới giảm hiệu quả của các doanh nghiệp tham gia
hoạt động nhập khẩu. Nh vậy, nếu tỷ giá giảm sẽ làm giảm hiệu quả nhập khẩu theo
hai hớng tăng chi phí và giảm kết quả. Nhng xét về hiệu quả kinh tế - xã hội khi tỷ
21
giá hối đoái giảm sẽ khuyến khích xuất khẩu, sản xuất, tăng tiềm năng sản xuất
trong nớc tạo việc làm và cải thiện cán cân thanh toán.
Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, đồng nội tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ, nếu
nh không có các yếu tố khác ảnh hởng thì sẽ tác động khuyến khích nhập khẩu vì
hàng hoá nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả chung trong nớc. Chi phí kinh
doanh giảm xuống, làm cho kết quả kinh doanh tăng
Tơng tự, tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu giữa các mặt hàng thay thế sẽ gây
nên sự biến đổi trong cơ cấu hàng nhập khẩu, từ đó dẫn đến sự thay đổi phơng án
kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu
4. Các nhân tố ảnh hởng khác
ả nh h ởng của hệ thống tài chính ngân hàng : hiện nay, hệ thống tài chính
ngân hàng- với các dịch vụ của mình- đang trở thành một phần không thể
thiếu trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh
nghiệp không phân biệt đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp
doanh theo giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu do Bộ Thơng mại ký ngày
22/3/1995 với những thông tin nh sau:
Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật -Technoimport- có tên
giao dịch đối ngoại: "The Viet Nam National Equipment and Technics Import-
Export cooperation" đặt trụ sở chính tại 16-18 Tràng Thi - Hà Nội - Việt Nam với cơ
quan chủ quản là Bộ thơng mại.
Các giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn từ năm 1959-1989 : công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và
kỹ thuật (Technoimport)-Bộ thơng mại đợc thành lập vào ngày
28/01/1959. Suốt một thời gian dài trong thời kỳ bao cấp (1959-1989),
Technoimport hoạt động nh là một đơn vị duy nhất trong cả nớc, thực hiện
chức năng nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Technoimport đã nhập khẩu thiết bị
toàn bộ cho hơn 500 công trình lớn nhỏ bằng các nguồn vốn khác nhau.
Nhiều dây chuyền công nghệ mà Technoimport nhập khẩu đã và đang
phát huy tác dụng cho nền kinh tế Việt Nam, trong đó một số công trình
giữ vai trò nền tảng cơ bản và là động lực cho sự phát triển của toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
- Giai đoạn từ năm 1989 đến nay : Chính Phủ chủ trơng chuyển giao việc
xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho tất cả các ngành, các địa phơng, các
thành phần kinh tế có đủ điều kiện trong cả nớc. Trớc tình hình mới đó,
24
bản thân Technoimport một lần nữa lại phải tự khẳng định mình, nỗ lực và
cố gắng để đứng vững và phát triển, thể hiện vai trò chủ đạo của mình để
đảm bảo phục vụ nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho tất cả các ngành. Cũng
trong thời gian này Technoimport đợc Bộ Kinh tế đối ngoại nay là Bộ th-
ơng mại cho phép đổi tên thành tổng công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật, thực hiện hạch toán kinh doanh toàn phần, hoạt động theo
cơ chế thị trờng có điều tiết của nhà nớc, với chức năng nhiệm vụ mở rộng
và đa dạng hơn bao gồm cả sản xuất và nhập khẩu.