thực trạng tham gia hội nhập kinh tế thương mại khu vực asean – lộ trình thự hiện khi tham gia khu vực kinh tế thương mại asean của việt nam - Pdf 13

Hội nhập kinh tế thương mại Asean – Việt Nam
Chương 1: Tiến trình hội nhập kinh tế thương mại khu vực và thế giới của Việt Nam.
1. Xu hướng hội nhập kinh tế của khu vực và thế giới.
2. Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực của Việt Nam.
3. Lý luận chung về quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thương mại trong khu vực
Asean.
3.1. Hội nhập Asean : Mục đích và kết cấu .
3.2. Nguyên tắc và nội dung các phương pháp tiến trình tham gia hội nhập kinh tế
thương mại Asean.
3.2.1. Nguyên tắc và nội dung quá trình tham gia hội nhập.
3.2.2. Các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam khi gia nhập Asean.
4. Sự cần thiết để tham gia hội nhập kinh tế thương mại khu vực Asean.
Chương II: Thực trạng tham gia hội nhập kinh tế thương mại khu vực Asean – lộ trình
thự hiện khi tham gia khu vực kinh tế thương mại Asean của Việt Nam.
1. Thực trạng quá trình tham gia hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Thực trạng quá trình tham gia hội nhập kinh tế
Đánh giá quá trình tham gia hội nhập của Việt Nam
1.2.1. Những ưu điểm.
1.2.2. Những nhược điểm
2. Một số tác động của việc tham gia quá trình hội nhập kinh tế
2.1. Tác động của doanh nghiệp
2.2. Tác động của nhà nước
3. Lộ trình thực hiện khi tham gia khu vực kinh tế thương mại Asean.
3.1.Qúa trình phát triển khu vực kinh tế thương mại Asean.
3.2. Xây dựng lộ trình tham gia hội nhập thương mại Asean.
Chương III: Giải pháp xúc tiến khi tham gia hội nhập khu vực kinh tế thương mại Asean.
1. Một số khó khăn vướng mắc trong lộ trình tham gia hội nhập.
2. Các giải pháp tham gia hội nhập kinh tế thương mại khu vực Asean
Đối với nhà nước.
Đối với doanh nghiệp.
Kết luận.

hậu quá xa nên phải tìm mọi cách hội nhập vào xu hướng chung. Hội nhập là một cuộc
cạnh tranh gay go, khốc liệt để phát triển nền kinh tế quốc gia, tạo điều kiện củng cố an
ninh quốc phòng, giữ vững độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc thong qua việc thết lập các
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đan xen nhiều chiều, ở nhiều mức độ khác nhau với các
quốc gia khác.
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới để phát triển kinh tế , trên cơ sở nhận thúc
được vai trò quan trọng của việc mở rộng quan hệ đối ngoại đối với việc phát triển nền
kinh tế. Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định thực hiện nhát quán đường lối đối
ngoại độc lập và phát triển.
Trong quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, chúng ta muốn hợp tác lâu dài, có hiệu
quả, tin cậy lẫn nhau với các nước trên cơ sở các nguyên tắc:

2
2
Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, không dung vũ lực hoặc đe dọa dung vũ lực,
Bình đẳng cùng có lợi.
Giải quyết các bất đồng, các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình.
Không có âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền với
các nước khác.
Việc chủ động hôi nhập phải trên tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiẹu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang ngày càng phát triển và mở rộng trên
phạm vi toàn thế giới, Việt Nam cần phải tiến hành các bước cải cách kinh tế mạnh mẽmẽ
hơn.Với mục tiêu hội nhập là tự do hóa thương mại và đầu tư có ý nghĩa quyết định đối
với tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội. Muốn vậy, để hội nhập kinh tế, các
nước cần thực hiện các hiệp định thương mại, thực hiện các liên kết kinh tế quốc tế và
các tổ chức kinh tế quốc tế. Trong các Hiệp điịnh chính phủ, các quốc gia đưa ra và thực
hiện các cam kết

3
2. Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực của Việt Nam:
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, thế giới đã có những sự biến đổi to lớn,
tiêu biểu là sự xuất hiện của các khu vực kinh tế khổng lồ như : Liên minh châu âu ( EU),
khối thị trường chung khu vực Đông và Nam Phi, tổ chức thương mại thế giới WTO.
Sự xuất hiện của các khu vực và tổ chức kinh tế này là kinh tếết quả của xu thế khu vực
hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Đây là sự liên kết giữa các quốc gia với nhau
nhằm mục đích mang lại một khối lượng sản phẩm thế giới lớn hơn, thỏa mãn nhu cầu
cao hơn cho mỗi quốc gia.
Trong quá trình hình thành và phát triển tự nhiên, mỗi quốc gia có một lợi thế so sánh
riêng vè nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu, địa lý đã tạo ra ức
tranh đa dạng trong nền kinh tế thế giới và chỉ khi nào có sự phối hợp giữa các nguòn lực
của các quốc gia thì mới có thể phát triển toàn diện được. Lợi thế so sánh của quốc gia
này sẽ hỗ trợ bổ sung cho thiếu hụt, hạn chế của quốc gia kia, làm cho thé giới phụ thuộc
lẫn nhau, đưa các quốc gia gắn kinh tếết lại gần nhau trở thành một thực thể kinh tế thông
nhất.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, sức sản xuất
ngày càng phát triển kéo theo sự đòi hỏi cấp bách về thị trường tiêu thụ khiến cho quá
trình cạnh tranh giành giật thị trường giữa các quốc gia và các thực thể kinh tế ngày càng
trở nên gay gắt hơn. Nếu như mỗi quốc gia tồn tại độc lập, đơn phương trong cả thị
trường thế giới rộng lớn sẽ không thể tách khỏi sức ép quá lớn thậm chí còn lâm vào suy
thoái, thui chột sức phát triển đất nước. Do vậy, tất cả các nước, để khỏi bị gạt ra ngoài lề
của sự phát triển, đều phải tham gia liên kinh tếết kinh tế, nỗ lực hội nhập vàp xu thế khu
vực hóa toàn cầu hóa hiện nay, ra sức cạnh tranh kinh tế và sự tồn tại và phát triển của
chính mình.
Đứng trước đòi hỏi cấp bách của tình hình quốc tế, Việt Nam đã và đang cố gắng thay đổi
một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp trước đây bằng một nền kinh tế mở cửa hòa
nhập với vận hội phát triển kinh tế thế giới.
Việt Namới đường lối đổi mới và hòa nhập kinh tế quốc tế đúng đắn. Việt Nam đã đi
những bước đi thành công và vững chắc trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế

Phó thủ tướng Vũ Khoan khẳng định: “Việt Nam luôn xem dịch vụ là lĩnh vực đặc biệt
quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành một thị trường tự do của
ASEAN. Việt Nam đã, đang và sẽ tích cực, chủ động trong việc cùng các nước tiến hành
đàm phán, tìm ra giải pháp để tự do hoá nhanh, sâu, rộng thị trường dịch vụ khu vực”.
Đây là cơ hội cho khu vực nhà nước và khu vực doanh nghiệp trao đổi thông tin, ý tưởng,
nhằm góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trường dịch vụ tự do của khu vực.
Việc hình thành và tăng cường các cơ chế, hình thức hợp tác và lien kinh tế mới này đã
và đang tạo nhiều cơ hôi thách thức cho ASEAN, trong đó có Việt Nam :
Thứ nhất, việc thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ đưa ASEAN trở thành một
khối có sự liên kết vững chắc, một thị trường duy nhất có cơ sở sản xuất thống nhất,
trong đó có sự lưu thông tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư vốn và nhân công có tay
nghề sẽ thúc đẩy cải cách hệ thống pháp luật và nền hành chính quốc gia trong nước, tiếp
cận được nhiều hơn các yếu tố bên ngoài, nhất là vốn, thị trường và công nghệ hiện đại,
làm tăng cơ hội việc làm và nâng nhanh mức sống của dân chúng.
Thứ hai, sự thiết lập Cộng đồng an ninh ASEAN sẽ lam tăng nhanh mức độ tin cậy và ý
thức cộng đồng trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác chính trị , khinh tế an ninh nội khối lên
tầm quan trọng mới.Điều này sẽ tạo ra sự thăng bằng trong hợp tác khu vực và quốc tế,
giúp ASEAN vừa tăng cường tính mở, vừa duy trì được bản sắc, phong cách ứng xử
truyền thống của mình, làm tăng khả năng phòng ngừa và tiến tới giải quyết các xung đột
có thể xảy ra trong tương lai.
Thứ ba, sự gia tăng giành ưu thế kiểm soát – chính trị giưa các nước lớn tại Đông Nam
Á, đặc biệt hơn là giữa Mỹ và Trung Quôc cùng với cơ hội phát triển của thể chê thương
mại tự do đa phương, song phương về một mặt nào đó, cũng mở ra cơ hội rộng lớn về
hợp tác và tăng sức mặc cả của ASEAN trong các vấn đề quốc tế khu vực. Điều này sẽ có
lợ thế cho Việt Nam – nước có vị trí chiến lược, đang thu hút sự chú ý của các nước lớn.
Tham gia ASEAN Việt Nam đã thực hiện các chính sách kinh tế đường lối chính trị tạo
điều kiẹn cho sự phát triển bền vững nền kinh tế khu vực.Việt Nam tham gia vào xây
dựng khu vực tụ do thương mại tạo điều kiện cho quá trình phát triển kinh tế.
3.1. Hội nhập Asean : Mục đích và kết cấu :
Việt Nam tham gia ASEAN với các mục đích:

Không cho phép sử dụng lãnh thổ để chống lại nước thành viên
Cũng theo Hiến chương, ASEAN có mục tiêu liên kết, thu hẹp khoảng cách phát triển,
hướng về nhân dân và vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực.
Nguyên tắc việc các nước không tham gia và không cho phép bất kỳ quốc gia/đối tượng
nào được sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên để chống lại một nước thành viên
khác. Mọi tranh chấp, bất đồng được quy định giải quyết thông qua biện pháp hoà bình,
thương lượng dựa trên các thoả thuận đã có của ASEAN.
Trường hợp bất đồng không giải quyết được hoặc có vi phạm nghiêm trọng Hiến chương,
vấn đề sẽ được trình lên cấp cao quyết định.
Các nước thành viên tuy không phải thay đổi luật, nhưng sẽ cần có sự điều chỉnh nhất
định về một số quy định và thủ tục hành chính trong nước để phù hợp hơn với các quy
định của Hiến chương và thực tiễn của hợp tác ASEAN. Mỗi nước thành viên phải cải
tiến tổ chức bộ máy trong nước, đồng thời đầu tư nguồn lực và nhân lực để tham gia hợp
tác ASEAN một cách chủ động và hiệu quả. ASEAN sẽ có “quốc ca” chung.Hiến pháp
ASEAN quy định Hiệp hội sẽ có một "quốc ca chung" gọi là “ASEAN ca”. Sẽ có cuộc
thi tuyển sáng tác “ASEAN ca” ở mỗi nước thành viên để sau đó lãnh đạo cấp cao các
nước chọn ra “ASEAN ca” chính thức.
Hiến chương ASEAN cũng phê chuẩn lá cờ của ASEAN gồm bốn màu: xanh da trời, đỏ,
trắng, vàng, thể hiện bốn màu chủ đạo trên quốc kỳ của các nước thành viên ASEAN.
Trong đó, màu xanh da trời biểu hiện cho hoà bình và ổn định. Màu đỏ thể hiện dũng khí
và sự năng động. Màu trắng là sự thuần khiết và màu vàng là biểu trưng cho sự thịnh
vượng. Bó lúa in trên lá cờ tượng trưng cho ước mơ của các thành viên sáng lập ASEAN
về một ASEAN gắn bó bằng tình hữu nghị và đoàn kết
6
6
Các nguyên tắc và nội dung gia nhập được thể hiện trong hiến chương Asean:
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 (năm 2004), lãnh đạo các nước ASEAN nhất trí
xây dựng Hiến chương ASEAN; đến Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 11 (năm 2005) đề
ra các nguyên tắc chỉ đạo và quyết định lập Nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG) để tư vấn
cho việc xây dựng Hiến chương.

ASEAN ra đời là một văn kiện pháp lý, làm cho ASEAN trở thành một tổ chức hợp tác
khu vực có tư cách pháp nhân. Hiến chương tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho
Hiệp hội gia tăng liên kết khu vực, trước hết là thực hiện mục tiêu hình thành Cộng đồng
ASEAN vào năm 2015, giúp xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức gắn kết hơn và
hoạt động hiệu quả hơn, một thực thể chính trị - kinh tế liên kết hơn và có vai trò quan
trọng trong khu vực.
Sự ràng buộc về pháp lý, cùng với sự đổi mới về bộ máy tổ chức, phương thức hoạt động
của ASEAN sẽ giúp việc thực hiện các thỏa thuận nghiêm túc và kịp thời, nâng cao chất
lượng và hiệu quả hợp tác. ASEAN ngày càng liên kết chặt chẽ và vững mạnh trên cơ sở
pháp lý là Hiến chương ASEAN, giúp duy trì môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực,
7
7
đồng thời hỗ trợ các nước thành viên phát triển kinh tế, xã hội, hội nhập khu vực và thế
giới.
Hiến chương tạo thế tốt hơn cho ASEAN trong hợp tác với các đối tác bên ngoài khu vực,
cũng như trong khuôn khổ khu vực rộng lớn hơn. Bởi lẽ, tổ chức ASEAN có tư cách pháp
nhân trở thành một chủ thể trong quan hệ đối ngoại, nâng cao hình ảnh và vị thế quốc tế
của Hiệp hội.
Việt Nam đã chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào việc xây dựng Hiến chương
ASEAN ngay từ những ngày đầu khi mới xuất hiện ý tưởng về văn kiện này. Ðiều đó thể
hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, góp
phần thúc đẩy hợp tác, phát triển trong ASEAN và khu vực.
Hiến chương ASEAN là một nhu cầu tất yếu khách quan, phản ánh sự trưởng thành của
ASEAN, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên, nhất
là của các nhà lãnh đạo ASEAN, về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ và
vững mạnh hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương, hỗ trợ mục tiêu hòa bình và phát triển
của cả khu vực, cũng như của từng nước thành viên.
3.2.2. Các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam khi gia nhập Asean.
Cùng với các nước ASEAN, Việt Nam đã tham gia tích cực vào việc xây dựng Hiến
chương ASEAN ngay từ những ngày đầu. Trong quá trình soạn thảo Hiến chương, Việt

quốc gia và khu vực, điều chỉnh tổ chức bộ máy trong nước cũng như đầu tư nguồn lực
và nhân lực thích đáng hơn, để tham gia hợp tác ASEAN một cách có chủ động và hiệu
quả.
Tận dụng những mặt thuận lợi và khắc phục những thách thức kể trên, chúng ta cần cần
quán triệt những phương châm và định hướng sau đây.
Một là, cần xác định tham gia hợp tác trong ASEAN có tầm quan trọng chiến lược. Một
ASEAN ổn định, đoàn kết, liên kết chặt chẽ và vững mạnh là nhân tố quan trọng đảm bảo
lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam.
Hai là, cần có những suy nghĩ mới, cách làm mới, phương thức mới về sự tham gia của ta
trong ASEAN trên cơ sở kiên trì giữ vững các vấn đề có tính nguyên tắc, nhưng linh hoạt
về biện pháp và cách thức tiến hành. Với thế và lực của đất nước tăng lên, Việt Nam đang
có những cơ hội rất thuận lợi đóng vai trò tích cực, có trách nhiệm và chủ động hơn trong
việc thực hiện Hiến chương ASEAN, xây dựng cộng đồng ASEAN cũng như các thể chế,
quy tắc, quy định và các cơ chế ra quyết định của ASEAN nhằm nâng cao vị thế, ảnh
hưởng của Việt Nam trong ASEAN.
Ba là, cần có sự chỉ đạo tập trung và thống nhất của Chính phủ, sự tham gia tích cực và
phối hợp chặt chẽ của các Bộ/ngành, đầu tư thích đáng về nhân lực và nguồn lực, vì hợp
tác ASEAN rất đa dạng và phức tạp, không chỉ trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và
10 nước thành viên, mà gồm cả hợp tác Đông Á và với các đối tác quan trọng trong
khuôn khổ hợp tác ASEAN+1, ASEAN+3, Tiến trình Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
(EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), trong đó ASEAN giữ vai trò chủ đạo.
Bốn là, cần củng cố và tăng cường các bộ phận và cán bộ chuyên trách về ASEAN của
từng cơ quan; có kế hoạch cử cán bộ tham gia và đảm nhận một số chức vụ trọng yếu
trong ASEAN, khẩn trương xúc tiến công tác chuẩn bị để Việt Nam đảm nhận tốt vai trò
Chủ tịch ASEAN trong cả năm 2010, trong đó có việc tổ chức Hội nghị Cấp cao ASEAN
và nhiều Hội nghị cấp Bộ trưởng. Đây sẽ là cơ hội lớn để chúng ta tiếp tục khẳng định sự
đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết ASEAN, đồng thời nâng cao vai trò, vị
thế quốc tế của Việt Nam.
Cuối cùng, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền rộng rãi cho các tầng
lớp nhân dân về tình hình hợp tác ASEAN và sự tham gia của Việt Nam trong ASEAN,

km2, chiếm 14,1% lãnh thổ châu Á và chiếm 3,3% diện tích toàn thế giới.
Quốc gia rộng nhất là Indonesia, tiếp đến là Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam,
Philippines, Lào, Campuchia, Đông Timo, Brunei, Singapore. Dân số giữa năm 2004 là
548,2 triệu người, chiếm dân số 14,1% châu Á và gần 8,6% toàn thế giới; đông nhất là
Indonesia, tiếp đến là Philippines, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào,
Singapore, Đông Timo, Brunei.
Mật độ dân số đạt 122 người/ km2, tương đương với châu Á và gấp 2,6 lần thế giới. Tỷ lệ
dân số thành thị đạt 38,4%, xấp xỉ tỷ lệ của châu Á và thấp hơn tỷ lệ 48% của toàn thế
giới; cao nhất là Singapore, tiếp đến là Brunei, Malaysia, Philippines, Indonesia, Thái
Lan, Myanmar, Việt Nam, Lào, Campuchia, Đông Timo.
Tỷ lệ sinh đạt 2,2%, tỷ lệ chết 0,7%, tỷ lệ tăng tự nhiên 1,5%, cao hơn tỷ lệ 1,3% của
châu Á và tỷ lệ 1,2% của toàn thế giới; thấp nhất là Singapore, tiếp đến là Thái Lan,
Đông Timo, Myanmar, Việt Nam, Indonesia, Brunei, Philippines, Malaysia, Campuchia,
Lào.
Tuổi thọ bình quân đạt 68, cao hơn mức 67 của châu Á và thấp hơn mức 69 của toàn thế
giới; cao nhất là Singapore, tiếp đến là Brunei, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam,
Philippines, Indonesia, Myanmar, Campuchia, Lào, Đông Timo.
GDP tính bằng USD theo tỷ giá thực tế của ASEAN năm 2003 đạt khoảng 687 tỷ USD,
chiếm 1,9% toàn thế giới; bình quân đầu người đạt khoảng 1.253,2USD, thấp xa so với
mức 5.684,2 USD của toàn thế giới.
Nếu tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương, thì GDP bình quân đầu người năm
2001 cuả các nước trong khu vực như sau: Singapore 22.680 USD, (năm 2002 là 24.040),
tiếp đến là Brunei 19.210, Malaysia 8.750 (năm 2002 đạt 9.120), Thái Lan 6.400,
Philippines 3.840, Indonesia 2.940, Việt Nam khoảng 2.100, Campuchia 1.860, Lào
1.620 (năm 2002 đạt 1.720), Myanmar 1.027.
1.Thực trạng quá trình tham gia hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Sự hội nhập kinh tế của ASEAN diễn ra trên diện rộng, nhưng đến thời điểm này, trong
con mắt của các nhà đầu tư và cộng đồng quốc tế, hình ảnh hội nhập của ASEAN gắn liền
với CEFT/AFTA (AFTA- Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN). Đó là vì, CEFT/AFTA là
chương trình có những cam kết cụ thể và những cam kết này, bước đầu, cũng đã có

giảm thuế xuống từ 0-5% đối với hầu hết các mặt hàng trong Danh mục Giảm thuế (trừ
Malaixia còn 213 mặt hàng linh kiện ôtô, Philipin và Inđônêxia còn một số các sản phẩm
hoá dầu). Các nước thành viên mới cũng đã đạt được những tiến bộ tương tự.
Đối với các sản phẩm công nghệ thông tin và viễn thông (ICT), ASEAN đã nhất trí một
lộ trình riêng nhanh hơn (để thực hiện Hiệp định Khung e-ASEAN). Các nhà lãnh đạo
ASEAN đã thống nhất mục tiêu cuối cùng của AFTA là loại bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu
vào năm 2010 đối với 6 nước thành viên như đã nói ở trên gồm Brunây, Inđônêxia,
Malaixia, Singapo, Philipin và Thái Lan và năm 2015 đối với các nước thành viên khác,
với một số linh hoạt cho tới năm 2018. Để thực hiện quyết định này, 6 nước thành viên
trên đã đồng ý xoá bỏ thuế quan đối với 60% mặt hàng trong danh mục giảm thuế vào
năm 2003 và hiện nay, 4 trong 6 nước thành viên đó đã đạt được mục tiêu trên.
Nhằm tạo thuận lợi cho thương mại nội khối ASEAN, Biểu thuế hài hoà chung ASEAN
(AHTN) đã hoàn thành và đã bắt đầu thực hiện từ ngày 1/7/2003. Việc triển khai xây
dựng và ký kết các thoả thuận công nhận lẫn nhau chuyên ngành (MRAs) cũng đã được
ASEAN triển khai một cách tích cực.
Về hợp tác công nghiệp (Chương trình AICO): Với mục đích hợp tác, chia sẻ nguồn lực
trong việc trao đổi các sản phẩm công nghiệp, đến nay, AICO mới có những kết quả bước
đầu. Phần lớn các cơ cấu AICO đều tập trung vào lĩnh vực sản xuất ôtô, còn lại là trong
các lĩnh vực điện tử, hoá chất và hoá mỹ phẩm. Tuy nhiên, cơ cấu này mới chỉ tập trung ở
11
11
các nước ASEAN 6 và các công ty tham gia cơ cấu AICO thường là các tập đoàn xuyên
quốc gia của các quốc gia ngoài ASEAN có cơ sở sản xuất tại các nước ASEAN. Như
vậy, về thực chất, các ngành sản xuất của các nước ASEAN chỉ được hưởng lợi gián tiếp
từ chương trình này.
Về dịch vụ: Tiến bộ đạt được trong đàm phán về thương mại dịch vụ rất chậm. Không
phải tất cả các nước thành viên đều đưa ra bản chào rõ ràng đối với những phân ngành
dịch vụ chung đã xác định. Các cam kết được đem ra, cho tới nay, còn mang tính hình
thức và nhiều cam kết không đạt được mục tiêu tự do hoá nhanh. Các thông tin về pháp
luật và quy định quản lý việc hành nghề còn chưa có. Một số nước thiếu quy định điều

viên vẫn lấy lợi ích quốc gia làm trọng và chưa nhìn nhận hết nguy cơ tiềm ẩn gây bất lợi
cho ngay các quốc gia thành viên khi ASEAN chưa thực sự là một khối gắn kết. Các
chương trình đẩy mạnh hội nhập của ASEAN không phải là ít (Tầm nhìn 2020, Chương
trình Hành động Hà Nội, Lộ trình hội nhập của ASEAN), nhưng mới chỉ là quyết tâm
mang tính “khẩu hiệu”, chưa mang tính thực tiễn. Với thực trạng hiện nay, nếu ASEAN
không quyết tâm hội nhập sâu sắc hơn để hướng tới một khu vực kinh tế thống nhất, thì
12
12
ASEAN khó có thể tiếp cận được những mục tiêu đã đặt ra trong Tầm nhìn 2020, hướng
tới một Cộng đồng kinh tế ASEAN vào 2020.
1.1. Thực trạng quá trình tham gia hội nhập kinh tế
Khu vực ASEAN cũng là khu vực có tốc độ tăng GDP cao của thế giới. Tổng dự trữ quốc
tế của một số nước đạt khá và đang tăng lên. Khu vực ASEAN cũng là khu vực có kim
ngạch xuất khẩu, tỷ lệ xuất khẩu so với GDP, xuất khẩu bình quân đầu người khá.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối và hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam dành ưu
tiên cao cho việc mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và các nền kinh tế trong khu vực.
Trong thời gian qua, quá trình hội nhập khu vực đã giúp Việt Nam nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế, củng cố vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới và tạo đà thúc
đẩy quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam đã tích cực tham gia
các liên kết kinh tế đa phương trong khu vực, bao gồm cả những liên kết thể chế
(ASEAN và các FTA) và phi thể chế (APEC). Đồng thời, Việt Nam cũng đã ký kết nhiều
thoả thuận song phương với các nền kinh tế khác.
Tham gia ASEAN: Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
vào ngày 28/7/1995 và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này. Ngay sau khi trở thành
thành viên ASEAN, Việt Nam đã tích cực chủ động tham gia các hoạt động hợp tác trên
mọi lĩnh vực.
Một trong những đóng góp đầu tiên của Việt Nam là thúc đẩy việc kết nạp Lào,
Mianma, Campuchia, hình thành một ASEAN-10. Việt Nam đã tổ chức thành công Hội
nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội (12/1998). Chương trình Hành động Hà Nội đã

ASEAN, Việt Nam đã thực hiện lộ trình AFTA, tích cực tham gia mọi chương tình hợp
tác kinh tế của ASEAN, phù hợp với quyền lợi của đất nứơc. Việt Nam cũng tham gia ký
kết Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) ngày 7/10/1998, với mục tiêu tạo
ra một khu vực đầu tư tự do trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các
nước khác ngoài ASEAN vào năm 2020.
Việt Nam tham gia ký và thực hiện khá tốt Hiệp định khung về tự do thương mại và
dịch vụ ASEAN (AFAS), về “Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN” (AICO), về
“Sáng kiến hội nhập” (IAI), đã chủ động đưa ra và tích cực thực hiện Chương trình hợp
tác phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), trong đó có dự án xây dựng các
hành lang kinh tế, nhất là hành lang kinh tế Đông-Tây, hành lang lưu thông Côn Minh-Hà
Nội-Hải Phòng…
1.2.Đánh giá quá trình tham gia hội nhập của Việt Nam
Gia nhập ASEAN và tham gia các chương trình hợp tác kinh tế của tổ chức này là bước
đầu tiên trên con đường thực hiện chính sách tự do hoá thương mại, hội nhập với nền
kinh tế thế giới mà Nhà nước ta đã vạch ra và đang thực hiện.
Tự do hoá thương mại, hội nhập với nền kinh tế thế giới - ở quy mô toàn cầu nói chung
và khu vực nói riêng - chỉ có ý nghĩa khi đem lại những lợi ích thiết thực cho đất nước,
thể hiện rõ nhất ở lợi ích cho các doanh nghiệp. Cùng với việc mở cửa thị trường theo
các cam kết quốc tế, các hàng rào bảo hộ sẽ bị loại bỏ dần. Điều đó nhắc tất cả các nhà
sản xuất - cho dù là chỉ sản xuất hàng tiêu thụ trong nước - phải ý thức được về mức độ
cạnh tranh ngày càng tăng với hàng hoá từ nước ngoài đưa vào, để từ đó xác định chiến
lược đúng đắn, quyết tâm nâng cao trình độ quản lý và sản xuất, đổi mới kỹ thuật để
nâng cao chất lượng và hạ giá thành, chấp nhận cạnh tranh bình đẳng với mọi hàng hoá
không phân biệt xuất xứ.
Bên cạnh đó, tự do hoá thương mại còn đem lại những thuận lợi đáng kể mà khai thác
triệt để chúng mới là mục tiêu lâu dài cần xác định cho mỗi doanh nghiệp. Theo các
chương trình AFTA và AICO, thuế suất hàng nhập khẩu vào các nước ASEAN cũng
giảm đi đáng kể, tuy nhiên các doanh nghiệp của chúng ta - hoặc vì chưa đủ sức vươn ra
nước ngoài, hoặc vì thiếu thông tin hay những lý do khác nữa - đã chưa tận dụng được.
Sắp tới, công tác hỗ trợ, xúc tiến thương mại sẽ được nâng lên một vị trí mới nhằm giúp

những nước khác có tiềm năng quá cảnh và tạm thời lưu kho trên lãnh thổ Việt Nam, Thái
Lan, Myanmar và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).
Myanmar không phải là một đối thủ cạnh tranh vì địa thế hiểm trở làm cho hệ thống giao
thông với những lãnh thổ phía Đông và phía Bắc không thuận tiện. Thái Lan và tỉnh
Quảng Tây là đối thủ đang áp đảo Việt Nam. Nhưng bờ biển Thái Lan nằm gọn trong
vịnh Thái Lan và bờ biển tỉnh Quảng Tây nằm gọn trong vịnh Bắc bộ. Trên phương diện
hậu cần quốc tế, hai vịnh này là những ngõ kẹt. Vậy hàng ngoại thương của Lào,
Campuchia và tỉnh Vân Nam quá cảnh Việt Nam sẽ được chở mau và rẻ hơn là qua
những đường khác.
Việt Nam và chín nước (và lãnh thổ) khác bao quanh biển Đông, nơi có nhiều hàng qua
lại nhất thế giới. Đài Loan, với cảng Cao Hùng, và Trung Quốc, với những cảng Hồng
Kông và Thượng Hải, là những điểm đến và đi của những tuyến tàu biển nối liền với
cảng Singapore.
Bây giờ những tàu lớn chạy trên những tuyến đó không cần phải đậu ở giữa đường để
mua than chạy máy như ngày xưa. Một số tàu cỡ nhỏ (feeder) đến cỡ trung (sub
panamax) chỉ có thể dừng chân ở những cảng Việt Nam để chất, dỡ hàng của Việt Nam
và của những nước láng giềng, mua thêm thực phẩm tươi, cho thủy thủ đoàn nghỉ ngơi,
bảo quản định kỳ hay sửa chữa bất thường
Đây là một lợi thế của Việt Nam vì Malaysia quá gần Singapore còn Philippines và
Indonesia là những quần đảo không có hậu phương.
15
15
Nhìn bản đồ Đông Nam Á thì thấy rằng, trừ Jakarta, thủ đô Indonesia, tất cả thủ đô các
nước ASEAN đều cách Tp.HCM non hai giờ máy bay. Đài Bắc và Dakka, thủ đô
Bangladesh, cũng chỉ cách Hà Nội có hơn hai giờ bay. Miền Nam Trung Quốc, vùng có
kinh tế phát triển mạnh nhất của nước này, ở trọn trong tầm hai giờ bay từ Hà Nội. Ba
cảng trong số những cảng lớn nhất thế giới, Singapore, Hồng Kông và Cao Hùng, cách
Hà Nội hay Tp.HCM non hai giờ bay.
Nói một cách khác, Việt Nam nằm ngay giữa vùng kinh tế sôi động nhất thế giới. Vị trí
trung tâm này đã là một trong số những nguyên nhân của bốn chục năm chiến tranh mà

nhập Hiệp hội, thúc đẩy khu vực phát triển nhanh và mạnh hơn, nhất là thực hiện được
16
16
ước mơ tất cả 10 quốc gia ở khu vực cùng trong một Hiệp hội (chưa kể CHDC Đông
Timo non trẻ với số dân chưa tới một triệu người).
Thực tế cho thấy, Việt Nam gia nhập ASEAN, và ngay sau đó Quốc hội ta gia nhập
AIPO đã thể hiện sự coi trọng cơ chế hợp tác liên nghị viện, ý thức đầy đủ AIPO là động
lực quan trọng thúc đẩy các chương trình hợp tác nội khối và tranh thủ tác động tích cực
từ phía liên nghị viện và nghị viện các nước ngoài khu vực. Rất nhiều nước, tổ chức thừa
nhận rằng, Việt Nam đã đóng góp nhiều sáng kiến mở ra khả năng hiện thực cho việc
khai phá và phát triển vùng sông Mê Kông mở rộng mà ngày nay trở thành khu vực phát
triển rất năng động, thu hút hàng tỷ USD đầu tư từ bên ngoài vào khu vực. Đến nay tổng
sản phẩm quốc nội của ASEAN đạt 737 tỷ USD, tổng giá trị buôn bán đạt khoảng 720 tỷ
USD.
Về chính trị, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, toàn bộ các nước Đông Nam Á
hợp thành một khối thống nhất, làm thay đổi bản chất quan hệ giữa ASEAN với Trung
Quốc. ASEAN không chỉ trở thành đối tác về quan hệ kinh tế, chính trị, an ninh với
Trung Quốc mà còn với cả các cường quốc khác trong khu vực. Vấn đề Biển Đông đã và
đang được giải quyết bằng các giải pháp thích hợp thông qua đối thoại, giảm thiểu các
cuộc tranh chấp trên biển nhằm làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hợp tác và hoà
bình, trong đó Việt Nam đã đóng góp quan trọng cho Hiệp hội trong vấn đề này. Việc Việt
Nam gia nhập các cơ chế hợp tác liên chính phủ và liên nghị viện cũng là yếu tố tích cực
thúc đẩy mở rộng hợp tác với nhiều bên đối thoại trên nhiều lĩnh vực với Nhật Bản, Hàn
Quốc và các nước lớn, các nền kinh tế lớn khác.
Các quốc gia trong khu vực và nhiều nước khác từng ghi nhận rằng, trong sự phát
triển của ASEAN mỗi tiến bộ đều có sự hỗ trợ rất tích cực, Việt Nam đã đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển chung đó, vì Việt Nam có một nền tảng vững chắc, đó là sự
ổn định. Nhân tố quan trọng khác là, với dân số hơn 80 triệu người, Việt Nam là thị
trường khá lớn, có nhiều cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài. Những nhân tố này tạo nên
sức mạnh để Việt Nam phát triển mạnh mẽ, toàn diện và vững chắc hơn. Là thành viên

- Phân chia trách nhiệm quyền hành giữa các bộ ngành của Chính phủ không rõ rệt làm
cho những quyết định không được phối hợp hài hòa;
- Hạ tầng và thiết bị hậu cần không thích ứng với nhu cầu phát triển và hiện đại hóa kinh
tế xã hội;
- Ngoài vài tuyến giao thông với Trung Quốc, mạng giao thông ít kết nối với những nước
lân cận;
- Phần lớn kinh tế vẫn còn tính chất thủ công hay công nghiệp sơ khai;
- Thiếu những phương tiện quản lý điện tử mà các nước trong vùng đã có: thủ tục ra vào
cảng, hải quan và thủ tục giao dịch thương mại kết nối giữa tất cả các đối tác và tiềm
năng vận tải sẵn có trên thế giới.
- Mặc dù kinh tế tăng mạnh, Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo, lại giáp giới với hai
nước nghèo nhất của khối ASEAN. Tỉnh Vân Nam cũng trong số những tỉnh nghèo của
Trung Quốc.
- Ngoài phần biên giới với phía Nam Campuchia ra, lãnh thổ Việt Nam có núi hiểm trở
bao quanh làm giao thương với những nước láng giềng không tiện mấy. Việt Nam ở cuối
bán đảo Đông Dương nên giao thương bằng đường bộ và đường sắt giữa những nước ở
phía Tây và phía Bắc Myanmar có xu hướng đi tắt không quá cảnh những nước Đông
Dương. Giao thương bằng đường biển của những nước đó có xu hướng vòng qua eo
Malacca rồi đi thẳng sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản qua biển Đông mà không
dừng ở Việt Nam.
- Mạng đường sắt Việt Nam kết nối với mạng của Trung Quốc nhưng mạng của Việt Nam
có khổ 1.000 mi li mét còn mạng của Trung Quốc có khổ tiêu chuẩn 1.435 mi li mét.
18
18
Mạng đường sắt của những nước láng giềng khác có khổ 1.000 mm nhưng lại không kết
nối với mạng của Việt Nam.
- Dọc bờ biển Việt Nam có nhiều sông đổ ra những khối lượng phù sa rất lớn. Vì thế mà
Việt Nam có ít địa điểm thuận tiện để xây cảng lớn nước sâu và, nếu có, thì phải luôn
luôn nạo vét luồng lạch để tránh cho cảng bị bồi đắp.
2. Một số tác động của việc tham gia quá trình hội nhập kinh tế

Thực tế, nguồn thu thuế từ hoạt động ngoại thương của Việt Nam luôn chiếm 20-25%
tổng thu ngân sách, do đó Việt Nam cần có chính sách tốt để ứng phó với tiến trình đẩy
nhanh cắt giảm thuế của AEC.
Thông qua kết quả nghiên cứu về tác động ngân sách của Việt Nam tham gia
CEPT/AFTA, các chuyên gia đã đưa ra những tiên liệu trong trường hợp Việt Nam tham
gia AEC. Cụ thể, khi thực hiện CEPT, thu ngân sách của Việt Nam có thể bị giảm từ thuế
19
19
nhập khẩu đối với hàng từ ASEAN lên đến 320 triệu USD, tương đương 75% tổng số thu
thuế quan từ hàng nhập khẩu ASEAN.
Tuy nhiên, khi thực hiện CEPT, số thu ngân sách của Việt Nam từ nguồn thu nhập khẩu
từ các khu vực ngoài ASEAN lại tăng mạnh, có thể lên tới 4,770 tỷ USD
Xây dựng mối quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN.Xây dựng các chính sách
pháp luật các chính sách kinh tế tài chính, thương mại.
Với tư cách là cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam tại các tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế và đầu mối quan hệ với ngân hàng trung ương các nước, Ngân hàng Nhà nước đã
cùng với các bộ ngành hữu quan tranh thủ được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế tài trợ
cho Việt Nam, tích cực vận động và thu hút được nguồn ưu đãi đáng kể phục vụ cho công
cuộc phát triển kinh tế, đồng thời chủ động triển khai thực hiện các cam kết song phương
và đa phương trong lĩnh vực ngân hàng, qua đó góp phần quan trọng vào tiến trình hội
nhập kinh tế và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2.1. Tác động của doanh nghiệp
Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng khai thác lợi thế so sánh với tốc độ tăng trưởng của khu vực sử
dụng nhiều lao động cao hơn so với khu vực sử dụng ít lao động.
Các chuyên gia đều có chung nhận định cho rằng khu vực doanh nghiệp Việt Nam dường
như chưa ý thức đầy đủ về tiềm năng của thị trường ASEAN cũng như các ưu đãi mà các
kênh hợp tác kinh tế, kỹ thuật của ASEAN mang lại. Số liệu của Viện Kinh tế và chính trị thế
giới cho thấy mức thuế quan bình quân của Việt Nam theo CEPT vẫn cao gần gấp đôi mức bình quân của
ASEAN-10 (6,22% so với 3,33%) và gần 20% dòng thuế quan vẫn có thuế suất trên 5% nên hiệu ứng “tạo
thêm thương mại” với Việt Nam sẽ lớn khi hàng rào thuế quan của Việt Nam thấp hơn.

hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài sẽ bị giảm sút
Tích cực tham gia vào AEC, Việt Nam sẽ khiến các đối tác bên ngoài phải thay đổi tư duy của họ khi tiến
hành xúc tiến đầu tư và thương mại. Với vị thế “đồng đẳng” trong cộng đồng, thị trường Việt Nam sẽ được
coi trọng, thu hút được các công ty xuyên quốc gia trong 500 tập đoàn lớn nhất thế giới đầu tư vào Việt
Nam thay vì các công ty vừa và nhỏ đến từ các nước châu Á.
Để tham gia hiệu quả vào lộ trình AEC, một trong những yếu tố quan trọng nhất được đề xuất tại Hội nghị
này là Việt Nam cần thực hiện tốt cải cách. Để làm được điều này bên cạnh việc thực hiện đúng, đủ và tích
cực các cam kết, về phía Chính phủ cần tập trung hỗ trợ khu vực doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí giao
dịch kinh doanh thông qua cắt giảm chi phí đầu vào sản xuất và cung ứng dịch vụ với thời gian ngắn nhất.
Đặc biệt cần tăng cường hiệu quả của các ngành cung ứng đầu vào cho sản xuất và dịch vụ như giao thông
vận tại, điện lực, viễn thông và tài chính ngân hàng để toàn bộ nền kinh tế có được đầu vào sản xuất và dịch
vụ với chi phí thấp hơn và chất lượng cao hơn.
Một biện pháp nữa cũng được nhiều ý kiến bình luận tại Hội nghị hết sức lưu ý, đó là nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong 12 lĩnh vực ưu tiên của tiến trình AEC.
Phương châm tham gia AEC trên 12 lĩnh vực ưu tiên ở đây là tránh đối đầu cạnh tranh trực tiếp với những
đối thủ mạnh nhất trong ASEAN mà nên tận dụng cơ hội hợp tác kinh doanh, xây dựng liên minh chiến
lược để “vừa làm, vừa trưởng thành” trước khi hội nhập thị trường toàn cầu.
Nhìn rộng ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần có chiến lược xây dựng quan hệ đối tác với các tập đoàn
xuyên quốc gia hàng đầu trên thế giới, trên nguyên tắc yếu-mạnh bổ sung cho nhau, trước hết trên 12 lĩnh
vực ưu tiên của tiến trình AEC.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tham gia định hình một AEC hướng tới như một “thực thể kinh tế khu vực
thống nhất” chứ không chỉ dừng lại như một AFTA mở rộng.
Theo đó, cần xây dựng một khung khổ cam kết thương mại hàng hoá và dịch vụ tự do lưu chuyển hơn nữa
thông qua đàm phán đi đến loại bỏ các biện pháp phi thuế quan.
Một khung khổ đầu tư mở và tự do đối với lưu chuyển dòng vốn thông qua cải cách các quy định điều tiết
thị trường theo hướng minh bạch hơn, dự đoán được và có hiệu lực hơn. Một chính sách thuế quan chung
với bên ngoài để thị trường không bị phân mảng.
Một mạng lưới cơ sở hạ tầng (cứng và mềm) xuyên ASEAN thông qua kêu gọi đầu tư và tài trợ để phát
triển đồng bộ mạng lưới vận tải, thông tin, giao dịch an toàn giữa các thành viên
Nhà nước đưa ra các chính sách hợp lý tạo điều kiện thúc đẩy hàng hóa phát triển giao

3.1. .Qúa trình phát triển khu vực kinh tế thương mại Asean.
Trong 12 năm qua, Việt Nam tham gia tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trên tất
cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN. Việt Nam luôn đóng vai trò chủ chốt trong việc xác
định các quyết sách lớn và phương hướng hợp tác của ASEAN cũng như tăng cường
đoàn kết, hợp tác và nâng cao vị thế quốc tế của Hiệp hội. Một trong những đóng góp cụ
thể nổi bật nhất của Việt Nam là đã tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN VI vào
tháng 12/1998 với kết quả quan trọng là hoàn tất quá trình hình thành ASEAN-10 và
thông qua Chương trình Hành động Hà nội (HPA) để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020,
giúp ASEAN vượt qua thời điểm khó khăn nhất do tác động của cuộc khủng hoảng kinh
tế-tài chính khu vực năm 1997.
Về chính trị-an ninh, Việt Nam luôn tích cực tăng cường đoàn kết và thống nhất ASEAN,
kiên trì bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, nhất là không can thiệp và đồng
thuận; xử lý khéo léo một số vấn đề phức tạp, nhạy cảm trên cơ sở bảo đảm đoàn kết và
lợi ích chung của ASEAN. Việt Nam cũng có nhiều đóng góp quan trong trong việc duy
trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực; duy trì vai trò chủ đạo
của ASEAN trong việc xử lý các vấn đề khu vực cũng như tại các diễn đàn hợp tác khu
vực do ASEAN khởi xướng.
Về kinh tế, Việt Nam đã tham gia tích cực và thực hiện đầy đủ các cam kết về liên kết
kinh tế khu vực trên nhiều lĩnh vực, kể cả trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác
bên ngoài, góp phần làm cho ASEAN dần trở thành một thực thể kinh tế thống nhất, ngày
càng trở nên hấp dẫn hơn đối với đầu tư và kinh doanh nước ngoài. Đặc biệt, Việt Nam
đã tích cực thúc đấy hợp tác ASEAN về thu hẹp khoảng cách phát triển, thông qua thực
hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI), Chương trình hợp tác Mê Công và Hành lang
Đông-Tây.
Về văn hóa-xã hội, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tất cả các hoạt động hợp tác
chuyên ngành rất đa dạng và phong phú với hàng trăm dự án khác nhau, góp phần nâng
hợp tác chuyên ngành của ASEAN lên tầm cao mới. Đặc biệt, Việt Nam đã đề xuất xây
dựng Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN, một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN,
nhằm mục tiêu đưa ASEAN trở thành một “cộng đồng các xã hội đùm bọc và chia sẻ lẫn
nhau”.

vực, tuy nhiên lộ trình còn dài vì còn rất nhiều vấn đề phức tạp thuộc về mỗi nước cần
giải quyết.
Bộ trưởng Tài chính Malaysia - Nor Mohamed Yakcop khẳng định thêm: Tất cả chúng ta
đều muốn đẩy mạnh công việc này. Tuy nhiên đồng tiền chung không phải là mục tiêu
duy nhất, cái chính là một sự gắn kết chặt chẽ và bền vững, tạo một sự hội nhập sâu
trong khu vực, và việc này chúng ta đã có tiến bộ lớn.
Về “Quỹ tiền tệ ASEAN + 3” (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) để ngăn ngừa và đối
phó với khủng hoảng tài chính, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Tài chính Thái Lan
- Surapong Suebwonglee thông báo đã đạt được một số thỏa thuận về nguyên tắc hoạt
động của Quỹ, và sẽ tiếp tục bàn thêm về những tiêu chí cụ thể để đi đến thống nhất tại
Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN + 3 vào tháng 5 tới đây tại Madrid - Tây Ban Nha.
Trong một diễn biến khác, nhân dịp này, đoàn của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ -
ASEAN gồm đại diện các tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ do Chủ tịch Hội đồng
Mathew Daley và ông Piyush Gupta, TGĐ về ngân hàng và thị trường khu vực ASEAN
của Citibank đồng thời là Chủ tịch Nhóm công tác về tài chính của Hội đồng dẫn đầu đã
23
23
có cuộc hội đàm đa phương với 10 Bộ trưởng Tài chính trong khu vực, và các cuộc gặp
song phương với Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN, cùng với
Bộ trưởng Tài chính Singapore Tharman Shanmugaratnam và Tổng thư ký ASEAN Surin
Pitsuwan.
Trước tình hình các quốc gia ASEAN đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng
tăng nhằm đảm bảo tăng trưởng, đồng thời vừa phải tránh gây biến động về lãi suất, giá
tiêu dùng và năng lượng, những trao đổi của đoàn doanh nghiệp Hội đồng Kinh doanh
Hoa Kỳ-ASEAN mang tính thực chất, xây dựng và hiệu quả. Và tựu trung, vẫn là những
cái nhìn lạc quan.
“Với tư cách là các nhà đầu tư tham gia vào thị trường, chúng tôi ý thức rõ các thách thức
mà các Bộ trưởng phải đương đầu - ông Piyush Gupta -TGĐ khu vực ASEAN của
Citibank nói - Tuy nhiên, ngay cả trong tình hình hiện nay, chúng tôi vẫn nhìn thấy những
cơ hội cho các quốc gia ASEAN tiếp tục đẩy mạnh các cải cách cơ cấu khu vực tài chính

giữa các thị trường vốn trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung” –
Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói.
24
24
Ông cũng đề nghị các Bộ trưởng Tài chính ASEAN cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, giải
pháp đối phó với tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, đưa ra những giải pháp chung tốt nhất để thúc đẩy hợp tác
và củng cố hệ thống tài chính mỗi nước và toàn khu vực.
Nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã trao cho Tổng Thư ký
ASEAN Surin Pitsuwan văn bản của VN chính thức phê chuẩn Hiến chương ASEAN.
Cùng với Singapore, Brunei, Lào và Malaysia, VN là nước thứ 5 phê chuẩn Hiến chương
ASEAN nhằm góp phần đưa Hiến chương này vào thực hiện từ năm 2009 để xây dựng
một ASEAN hoà bình, ổn định, phát triển và liên kết chặt chẽ.
Đẩy mạnh hợp tác tài chính - tiền tệ ASEAN
Ngay sau lễ khai mạc, các Bộ trưởng Tài chính ASEAN đã bước vào phiên làm việc
chính thức đầu tiên của AFMM 12. Theo Bộ trưởng tài chính VN Vũ Văn Ninh (chủ trì
hội nghị), AFMM 12 sẽ tập trung thảo luận lộ trình hội nhập tài chính - tiền tệ và các hợp
tác tài chính khác trong ASEAN để cùng đạt được mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị
trường đơn nhất, một khu vực kinh tế có tính năng động và cạnh tranh cao, một khu vực
phát triển cân bằng và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu
Bên cạnh đó, AFMM 12 cũng là dịp để các Bộ trưởng Tài chính ASEAN và các vị khách
mời trao đổi quan điểm về tình hình, triển vọng kinh tế thế giới và khu vực, b
àn thảo các đối sách và đưa ra những quyết định quan trọng để bảo vệ nền tài chính - tiền
tệ khu vực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động như hiện nay. Đồng thời
đánh giá và thảo luận các sáng kiến về hội nhập và hợp tác tài chính - tiền tệ trong
ASEAN, từ đó đưa ra được những giải pháp để thúc đẩy hơn nữa quá trình này.
Theo Vụ Hơp tác Quốc tế (Bộ Tài chính VN), mục tiêu chính của AFMM và AFMM+3 là
tăng cường đối thoại và giám sát kinh tế, tài chính giữa các nước Đông Á, giúp các nước
thành viên ngăn ngừa nguy cơ xảy ra khủng hoảng và củng cố hệ thống tài chính khu
vực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status