ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho quá trình đô thị hóa tới cộng đồng vùng ven đô - Pdf 13

Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra không chỉ đối với nước ta mà còn
đối với các nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á. Nền kinh tế càng phát
triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đô thị hóa
góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, nâng cao đời sống
nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát
sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dân bị mất
đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, dãn
dân… Nếu không có một chiến lược và giải pháp cụ thể, chung ta sẽ gặp
nhiều vướng mắc và lúng túng trong quá trình giải quyết, đôi khi làm nảy sinh
những vấn đề ngày càng phức tạp.
Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa ở nước ta diễn ra khá nhanh. Vì
vậy, việc đánh giá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, từ đó đề
xuất những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách cơ bản là việc làm cần
thiết. Đó là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát
triển kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay.
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, từ miền Bắc
đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo,
không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới. Hệ thống
đô thị Việt Nam đang trở thành hạt nhân của quá trình phát triển kinh tế-xã
hội của đất nước, việc đô thị hóa diễn ra sôi động hơn bao giờ hết. Hoà mình
cùng xu thế của đất nước, Hà Tĩnh là một thành phố trẻ, mới được thành lập
nên tôc độ đô thị hoá rất nhanh, diễn ra trên toàn tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì các chính sách này cũng đã
gây ra những ảnh hưởng cho những người nông dân bị thu hồi đất. Những
năm qua, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển đổi sang làm công
nghiệp, khu đô thị trên địa bàn xã Thạch Tân, Thành phố Hà Tĩnh đã diễn ra
quá nhanh, khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhanh

với các điều kiện mới, mà biểu hiện tập trung nhất của sự thay đổi này đó là
sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động và kéo theo sau là một loạt vấn đề
cần giải quyết.
Trong các loại đô thị hóa thì đô thị hóa nông thôn là vấn đề được quan
tâm nhiều nhất, vì đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững và mang tính
quy luật không thể tránh khỏi. Thực chất đây là quá trình phát triển nông thôn
nhằm nâng cao đời sống cho người dân và phổ biến lối sống Thành phố cho
nông thôn (phong cách sinh hoạt, cách sống, cơ sở vật chất…). Hay nói cách
khác, đó chính là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững.
2.1.1.2. Đô thị hóa ngoại vi
Được hiểu là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của Thành phố do
kết quả phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng… tạo ra các cụm đô thị, liên
đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn.
3
Tuy nhiên do có những cách tiếp cận khác nhau nên khái niệm đô thị hóa
có sự khác nhau nhưng cần hiểu đúng về đô thị hóa, cần phân biệt được đô thị
hóa thật sự với đô thị hóa giả tạo.
2.1.1.3. Đô thị hóa giả tạo
Là sự phát triển Thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ
các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn… Dẫn đến nảy sinh các vấn đề xã
hội như thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc
sống…
Từ các khái niệm trên ta thấy rằng: đô thị hóa mang tính xã hội và lịch
sử, đó là sự phát triển về quy mô, số lượng dân số; Tăng trưởng và phát triển
kinh tế, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành hệ thống các
đô thị.
Như vậy đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội
của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải,
xây dựng, dịch vụ… Do vậy đô thị hóa luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế
- xã hội.

Ở các nước phát triển, đô thị hóa với đặc trưng là sự bùng nổ về dân số và sự
phát triển công nghiệp. Song sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát
triển kinh tế. Việc đô thị hoá dẫn tới hậu quả là mâu thuẫn giữa thành thị với
nông thôn trở nên sâu sắc hơn do sự mất cân đối, do sự độc quyền trong kinh
tế.
2.1.2. Đặc trưng của quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hoá góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội,
sự phát triển của đô thị có những đặc trưng riêng vốn có của nó, khác hẳn với
vùng nông thôn.
Đô thị hoá được đánh giá qua ba tiêu thức sau
- Mức đô thị hoá: Tỷ lệ dân số sống tại vùng đô thị.
- Sự tăng dân số đô thị: Sự gia tăng dân số tại các vùng đô thị.
- Mức tập trung đô thị: Mức tập trung dân số và các hoạt động kinh tế
tại một hoặc nhiều Thành phố lớn.
Để thấy rõ hơn đặc trưng của thành thị ta có thể so sánh nông thôn với
thành thị. Trong từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học xuất bản năm 1994,
nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề
nông. Còn trong từ điển bách khoa Xô Viết của nhà xuất bản bách khoa Liên
5
Xô năm 1986, thành thị được định nghĩa là khu vực dân cư làm các nghành
nghề ngoài nông nghiệp. Trên thực tế, giữa nông thôn và thành thị không chỉ
khác nhau ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau về mặt tự
nhiên, kinh tế và xã hội.
Đô thị là vùng sinh sống và làm việc của cộng đồng bao gồm một tập
hợp các tầng lớp: công nhân, tri thức, công chức, tiểu thương tiểu chủ, thợ thủ
công và các doanh ngiệp v.v… là vùng phát triển công nghiệp, thương mại
dịch vụ và là trung tâm phát triển kinh tế, văn hoá chính trị.
So với nông thôn, đô thị là vùng có cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội,
trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất cao hơn. Đô thị là vùng có thu
nhập và đời sống, trình độ văn hoá, trình độ khoa học và công nghệ cao hơn

- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành
các khu đô thị mới, các quận, phường mới là hình thức khá phổ biến đối với
các đô thị của Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế. Với việc
hình thành các khu đô thị mới, các quận, phường mới được xem đó là hình
thức đô thị hoá theo chiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất nhằm
tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Với hình thức đô thị hóa theo
chiều rộng như trên thì dân số và diện tích đô thị sẽ tăng lên một cách nhanh
chóng.
- Hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình
thường xuyên, không thể thiếu của quá trình tăng trưởng và phát triển. Do đó
quá trình đô thị đòi hỏi phải điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có
và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sở hiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh
tế - xã hội ở đô thị.
Với những đặc trưng như trên, đô thị có vai trò rất lớn trong phát triển
kinh tế xã hội.
2.1.3.Vai trò của đô thị hóa
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hoá của một quốc gia là
sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ về cơ sở vật chất kỹ thuật và
văn hoá.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo
ra thu nhập quốc dân của cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2000, tính riêng
4 Thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đă
tham gia đóng góp gần 40% GDP, Hà Nội chiếm 3,47%dân số cả nước nhưng
7
chiếm 7,3% GDP, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 7,07% dân số cả nước
nhưng tạo ra 19,32% GDP. Như vậy sự đóng góp của các đô thị vào ngân
sách chiếm tỷ trọng chủ yếu, chỉ tính riêng 4 Thành phố lớn trên đã đóng góp
trên 80% ngân sách nhà nước.
Các chỉ tiêu khác như GDP bình quân đầu người ở các đô thị lớn thường

đại với sự hình thành một số đô thị phong kiến, song do nhiều nguyên nhân,
quá trình đó diễn ra chậm chạp, mức độ phát triển dân cư thành thị thấp.
Thập kỷ cuối thế kỷ XX mở ra bước phát triển mới của đô thị hoá ở Việt
Nam. Đặc biệt, sau khi Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp (năm
2000), Luật Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005); Chính phủ ban
hành Nghị định về Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất (năm 1997)…
nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng
vọt, gắn theo đó là sự hình thành trên diện rộng, số lượng lớn, tốc độ nhanh
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể kết
cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn. Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôi
cuốn và tác động trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu công
nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư
trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn diện tích các khu
công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung
vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân.
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát
triển. Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn
40% so với năm 1995. Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được
mở mang, nâng cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô
thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo
thành những nét mới ở nông thôn.
Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, kết cấu hạ tầng ở nông thôn - xưa
nay vốn yếu kém, đã có sự cải thiện đáng kể. Các làng nghề được chấn hưng,
mở mang góp phần làm sôi động thêm quá trình đô thị hoá ở nông thôn.
Làn sóng đô thị hoá cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã thổi luồng sinh
khí mới vào nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam.
Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm,
thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng

triển cũng đã hình thành nên các khu đô thị mới vùng ven.
Do yêu cầu tất yếu của quá trình đô thị hóa, nhiều phường,xã mới được
thành lập, địa giới hành chính khu vực nội thành có nhiều biến động.
10
2.3. Tác động của đô thị hoá đến việc làm và thu nhập
2.3.1. Tác động của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Cùng với việc tăng dân số đô thị do quá trình đô thị hóa là sự chuyển đổi
cơ cấu kinh tế và tăng việc làm. Trước hết là cơ cấu ngành nghề phải chuyển
đổi sao cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề của kinh tế đô thị. Nếu đứng trên
góc độ dân số và lao động thì ta có thể hiểu đô thị hóa là quá trình chuyển đổi
cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế. Sau
khi tiến hành đô thị hóa, hay nói cách khác khi trở thành dân cư đô thị phần
lớn những nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn đều bị mất phần lớn
ruộng đất canh tác. Sau khi được nhà nước đền bù, họ dùng số tiền đó để tạo
nghề mới, tìm việc làm mới, xây dựng nơi cư trú mới,… kéo theo đó là hàng
loạt vấn đề khác cũng thay đổi.
Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng nói riêng và
cả nền kinh tế nói chung cũng thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng khu vực I,
tăng tỷ trọng khu vực II và III. Bên cạnh đó, kinh tế ở các đô thị mới tăng
trưởng nhanh chóng nhờ có sự tập trung lực lượng sản xuất, tạo ra năng suất
lao động cao, cách tổ chức lao động hiện đại. Nhờ đó, các trung tâm kinh tế,
khu công nghiệp tập trung, quy mô lớn được hình thành dẫn đến sự phát triển
ngày càng cao của khu vực công nghiệp. Các nhà máy cần có một kết cấu hạ
tầng dịch vụ, giao thông vận tải, phân phối, thông tin liên lạc, tài chính, bảo
hiểm… rất rộng lớn. Các dịch vụ này càng phát triển rộng rãi nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp. Không những thế, một số dịch
vụ khác như: giải khát, xử lý thông tin, quảng cáo,… trước đây được thực
hiện trong nội bộ doanh nghiệp thì nay dần dần được tiến hành ký kết thực
hiện với các doanh nghiệp trong khu vực dịch vụ. Với những yêu cầu thay đổi
trên đã dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu khu vực công nghiệp từ công nghiệp

tác động tích cực và hạn chế, tìm cách khắc phục những tác động tiêu cực do
đô thị hóa gây ra.
2.3.2. Các tác động của đô thị hóa đối với việc làm, thu nhập
2.3.2.1. Tác động tích cực
* Nâng cao thu nhập, mức sống dân cư tại các vùng đô thị hóa
Ở khu vực thành thị nền kinh tế với cơ cấu công - nông nghiệp do đó
sản xuất đòi hỏi lao động phải có trình độ. Vì thế, tiền lương và thu nhập
thường được trả cao hơn để tương xứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra.
Do đó, nhìn chung thu nhập của dân cư tại các Thành phố lớn, đô thị thường
12
cao hơn so với các vùng khác.
Đô thị với đặc điểm là vùng kinh tế, xã hội rất phát triển, cơ sở vật
chất, kỹ thuật hạ tầng phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của con
người khá đầy đủ, hiện đại và đa dạng. Vì vậy, có thể nói đô thị là nơi có điều
kiện sống và làm việc thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn. Mặt khác,
cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các điều kiện phục vụ đời sống và sinh
hoạt như nơi vui chơi giải trí, học tập ngày càng phát triển làm cho trình độ
văn hoá, mức sống của con người tại các khu đô thị ngày càng tăng, thậm chí
với việc tăng này có khi còn tạo ra khoảng cách lớn về mức sống, thu nhập
giữa khu vực thành thị và nông thôn.
Nhìn chung, cuộc sống của người dân nông thôn đa số là tự túc, tự
cấp, còn cuộc sống của người dân đô thị hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thị
trường theo phương thức mua bán. Các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sống
hàng ngày, từ những cái nhỏ nhất đều do thị trường cung cấp, bảo đảm cung
cấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hàng ngày của người dân là trách nhiệm
nặng nề của chính quyền các vùng đô thị nói chung. Bên cạnh trách nhiệm
bảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm thì chính quyền của đô thị còn có trách
nhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho người dân đô thị. Trong khi
đó chính quyền nông thôn cũng phải lo cuộc sống của người dân, song mức
độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị.

trình độ lành nghề góp phần nâng cao năng suất lao động của khu vực thành
thị, từ đó làm tăng năng suất lao động và quy mô sản phẩm của toàn quốc gia.
Ngoài ra ở thành thị trình độ quản lý tổ chức sản xuất, kỹ thuật đợc nâng cao,
điều kiện làm việc đợc cải thiện góp phần tăng năng suất lao động.
Tất cả những đặc điểm kể trên tại các vùng đô thị góp phần làm tăng trình
độ lao động, từ đó nâng cao năng suất trong khu vực thành thị nói riêng và
trong phạm vi một quốc gia nói chung.
* Tác động đến viêc làm
Mở rộng quy mô sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và
ra đời một số ngành nghề, cơ hội kinh doanh mới trong quá trình đô thị hóa
tạo ra một số lượng lớn việc làm cho người lao động trong các vùng đô thị.
Đô thị hóa sẽ tạo điều kiện giúp người lao động chuyển đổi cơ cấu việc làm,
từ việc làm thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới, ổn định và có thu
nhập cao. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần kết quả là lao động và sức lao động trở thành hàng hoá. Bên cạnh
14
đó cùng với quá trình đô thị hóa các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
ngày càng phát triển tạo ra nhiều việc làm (lao động có tay nghề và lao động
giản đơn).
Ngoài ra còn phải kể đến một số việc làm mang tính chất lao động giúp
việc cho những gia đình có thu nhập cao song quá bận rộn. Đô thị hóa với đặc
trưng là kinh tế – xã hội phát triển kéo theo hàng loạt các việc làm dẫn tới
việc di dân từ nông thôn ra thành thị, đây là một nguồn bổ sung lao động cho
khu vực thành thị. Sự đa dạng trong cơ cấu kinh tế ngành cũng là một mặt
phản ánh sự đa dạng việc làm do quá trình đô thị hóa mang lại.
2.3.2.2.Tác động tiêu cực
Cùng với đô thị hóa, sức thu hút của quá trình này đối với người dân là
rất lớn, tạo ra một làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị gây nên tình trạng
quá tải, bùng nổ dân số. Do sự tăng lao động và nhân khẩu một cách tự phát,
các khu đô thị và các khu công nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề xã hội

dẫn của sản xuất nông nghiệp ngày càng suy giảm. Đây chính là tác động tiêu
cực cần phải lưu ý nhiều nhất của quá trình đô thị hóa đến sản xuất nông
nghiệp
Thay đổi tập quán sinh hoạt, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quả
tất yếu của quá trình đô thị hóa; Kéo theo đó là các nhu cầu về giáo dục, y tế
tăng, an ninh, tệ nạn xã hội trở thành vấn đề lớn. Sự khác biệt về giàu nghèo
giữa các đô thị, trong từng đô thị, giữa nông thôn và thành thị ngày càng trở
nên sâu sắc hơn. Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp làm cho một số lượng
đáng kể lao động bị mất việc làm. Do đó khi tham gia vào thị trường lao
động, tìm việc làm ở các khu vực sản xuất khác (công nghiệp, dịch vụ) là hết
sức khó khăn. Đây là một vấn đề nan giải cho các vùng tiến hành đô thị hóa.
Do đó khi tiến hành đô thị hóa cần phải quan tâm, lưu ý hàng đầu đến vấn đề
trên.

16
Phần 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯÚ
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Địa điểm: xã Thạch Tân -thành phố Hà Tĩnh, là một xã nằm ngay cửa ngõ
ra vào thành phố, chiếm một diện tích đất rộng lớn, trước kia người dân sinh
sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
- Thời gian: Đề tài xem xét tác động của quá trình thu hồi đất nông nghiệp
trong khoảng thời gian từ năm 2007 dến năm 2009
- Phạm vi không gian: thu nhập của hộ thu hồi
Phân bố lao động và thòi gian lao động
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2010 đến tháng 5/2010
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội xã Thạch Tân, thành
phố Hà Tĩnh.

trúc
* Phỏng vấn người am hiểu:Phỏng vấn các hộ có diện tích đất bị thu hồi
18
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.1. Vị trí địa lý
Thạch Tân là xã Nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hà Tĩnh,cách thành
phố 11km về phía nam. Đây là khu quy hoạch nằm sát thành phố Hà Tĩnh, do
đó rất thuận lợi trong việc chuyển đổi đất nông nghiệp cho quá trình đô thị
hóa ở thành phố Hà Tĩnh.
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế
a. Tăng trưởng kinh tế
Là một xã nông nghiệp thu nhập chủ yếu là sản xuất lúa nhưng năm
2007; Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8%; Thu nhập bình quân của hộ đạt
23.23 triệu/hộ /năm
Trong đó: + Thu từ Trồng trọt là 11.24 triệu/hộ /năm.
+ Thu từ Chăn nuôi: 4,71 triệu/hộ /năm.
+ Thu từ ngành nghề:2,67 triệu/hộ /năm.
+ Thu từ lương 3,60 triệu/hộ /năm.
+ Thu khác 1,01 triệu/hộ /năm.
Bảng 1. Cơ cấu cây trồng xã Thạch Tân 2009
TT
Loại cây trồng Diện tích (ha)
Năng suất
( Tấn/ha )
1
Lúa đông xuân 348 16
2
Lúa hè thu 348 16

nguồn thức ăn, lao động nhàn rỗi. Tổng đàn lợn của xã hiện nay có khoảng
1700 con trung bình 1.05 con/hộ. Hàng năm sản lượng lợn xuất chuồng khoảng
170 tấn thịt lợn hơi. Đây là nguồn thu nhập đáng kể góp phần nâng cao mức
sống của người dân. Ngoài ra còn cung cấp một lượng phân bón phục vụ sản
xuất nông nghiệp.
+ Đàn gia cầm (gà, vịt, ngan ): Chăn nuôi gia cầm ngày càng được
quan tâm phát triển, đây là nguồn thực phẩm chủ yếu phục vụ sinh hoạt gia
đình, tổng số đàn gia cầm hiện có khoảng 12000 con.
c. Ngành nghề phụ
Số hộ kinh doanh buôn bán ngày càng đông nhất là khu vực chợ, các vị trí
thuận lợi trên tuyến đường Quốc lộ và Tỉnh Lộ. Tất cả các ngành nghề dịch
vụ trên đều do nhân dân tự phát sản xuất nên hầu như không có nguồn thu vào
ngân sách xã.
20
4.1.3. Đặc điểm dân số - lao động - việc làm
- Dân số: Theo số liệu thống kê đến tháng 12/2007 dân số toàn xã có
7080 người. Tổng số hộ 1614 hộ, chủ yếu là hộ nông nghiệp. Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên 0.80%. Bình quân trên toàn xã có 4,39 người/ hộ.
Bảng 2. Tình hình dân số - lao động của xã Thạch Tân
TT Chỉ tiêu
2007 2009
1 - Tổng số khẩu
7080 7539
1.1 + Khẩu nông nghiệp
6230 6700
1.2 + Khẩu phi nông nghiệp
850 839
2 - Tổng số hộ
1614 1711
2.1 + Hộ nông nghiệp

2 1. Theo giới tính
2.1 + Nam 312 47,71 298 48,46
2.2 + Nữ 342 52,29 317 54,54
3 2. Theo lứa tuổi
3.1 + 18 - 25 276 42,21 267 43,42
3.1 + 26 - 45 246 37,61 212 34,47
3.3 + 46 - 60 132 20,18 136 22,11
4 3. Theo trình độ học
vấn
4.1 + Cấp I, II (9/12) 461 70,49 433 72,04
4.2 + Cấp III (12/12) 193 29,51 172 27,96
5 4. Theo trình độ tay
nghề
5.1 + Qua đào tạo 38 5,81 54 8,78
5.2 + Không qua đào tạo 618 94,1954 561 91,22
(Nguồn: Báo cáo kinh tế-xã hội xã Thạch Tân, 2010)

4.2. Tình hình thu hồi đất sản xuất cho khu công nghiệp tập trung Thạch
Tân
4.2.1- Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của xã Thạch Tân
Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh xây dựng khu công
nghiệp tập trung Thạch Tân giai đoạn 2000- 2010, một số công ty đã được
cấp giấy phép xây dựng và đi vào hoạt động. Tính đến hết năm 2004 tổng số
diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi là 96,49 ha cho khu công nghiệp
tập trung Thạch Tân. Trong giai đoạn 2005- 2010, Thạch Tân còn có kế hoạch
22
cắt đất sản xuất xây dựng khu công nghiệp tập trung Thạch Tân - Thạch Hải
và dự án xây dựng tuyến đường sắt Thạch Tân -Vũng Áng.
-Tình hình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp của xã Thạch Tân
Toàn xã có 509 hộ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, với tổng diện

(Nguồn: số liệu phỏng vấn, 2010)

23
Chú thích:
- Nhóm hộ I: là các hộ có tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi dưới
50% tổng diện tích đất sản xuất của hộ.
- Nhóm hộ II: là các hộ có tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên
50% tổng diện tích đất sản xuất của hộ.
Ở bảng 4 cho thấy, tình hình thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân xã
Thạch Tân là tương đối cao. Nhóm hộ I có tổng diện tích đất thu hồi là 29821
m
2
, trong đó hộ có diện tích bi thu hồi nhiều nhất là 2018 m
2
, ít nhất là 720
m
2
, trung bình chung của các hộ là 1242 m
2
, trong khi đó ở nhóm hộ II, với số
hộ dân ít hơn rất nhiều nhưng tổng diện tích bị thu hồi lại rất cao, tổng diện
tích đất bị thu hồi là 15203 m
2
, hộ thu nhiều nhất là 3016 m
2
, hộ ít nhất là
2162 m
2
, trung bình mỗi hộ là 2533 m
2

(n=24 hộ)
Nhóm hộ II
(n= 6 hộ)
Số lượng
(người)
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
(người)
Tỷ lệ
(%)
1. Theo giới tính
+ Nam
47 62,66 7 36,84
+ Nữ
28 37,44 12 63,15
2. Theo lứa tuổi
+ 18 – 25
15 20,00 3 15,78
+ 26 – 45
37 49,33 11 57,89
+ 46 – 60
23 30,66 5 26,31
3. Theo trình độ học vấn
+ Cấp I, II (9/12)
40 53,33 9 47,36
+ Cấp III (12/12)
35 46,67 10 52,63
4. Theo trình độ tay
nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status