ĐẶT VẤN ĐỀ
“Đất là lớp tơi xốp của lớp vỏ trái đất có khả năng tạo ra sản phẩm của
cây trồng”, là tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Môi trường đất được coi là cả một thế giới sinh động, một
hệ sinh thái phức tạp có quy luật phát sinh và phát triển theo không gian và thời
gian. Trong quá trình phát triển đó, ngoài các yếu tố phát sinh nội tại thì đất còn
chịu sự ảnh hưởng của quần xã thực vật.
Rừng và đất rừng có mối quan hệ mật thiết và có sự tác động qua lại lẫn
nhau, đây là lĩnh vực nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm. Có thể nói,
đất rừng là tấm gương phản ánh các hoạt động sống xảy ra trong rừng: chuyển
hóa năng lượng, tích lũy, trao đổi chất
Một trong những nhân tố ảnh hưởng quyết định tới sự sinh trưởng và
phát triển của cây rừng là tính chất đất, đặc biệt là chất dinh dưỡng trong đất.
Trong quá trình phân giải và chuyển hóa, chất dinh dưỡng khoáng thường tập
trung ở tầng đất mặt. Hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau thì sinh
trưởng và phát triển của cây rừng sẽ khác nhau và ngược lại sự sinh trưởng và
phát triển của cây rừng cũng ảnh hưởng rất lớn tới hàm lượng chất dinh dưỡng
trong đất.
Việc nghiên cứu, đánh giá chất dinh dưỡng trong đất là vấn đề phức tạp
và khá mới mẻ trong điều kiện đất đai và rừng trồng Việt Nam. Những năm gần
đây, trồng rừng cải tạo đất được chú trọng và quan tâm nhiều hơn nhưng hiệu
quả đạt được chưa cao, chất dinh dưỡng trong đất bị suy giảm mạnh dẫn đến đất
bị suy thoái, mất dần khả năng sản xuất. Theo số liệu điều tra thì ngày nay chất
dinh dưỡng giảm đi đáng kể, đất đồi núi rất hiếm nơi nào có tỷ lệ hữu cơ 3 - 4%,
lân tổng số 0,3 – 0,4%, dung tích hấp thụ cao với trị số 20 - 30% miliđương
lượng, những con số này hiện nay chỉ còn ở đất feralit. Nguyên nhân là do phá
rừng làm nương rẫy, quá trình canh tác không hợp lý, sử dụng phân bón một
cách bừa bãi, phương thức khai thác không phù hợp, hoặc trồng rừng chưa chú ý
tới bảo vệ đất
1
Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm núi Luốt thuộc địa bàn quản lý của
lượng trong đất ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả đã phân tích 35 nguyên tố vi
lượng trong đất bằng phương pháp quang phổ với độ nhạy 1/10000 kết quả là 1
số nguyên tố không phát hiện thấy hoặc chỉ có ở mức vạch. Các nghiên cứu về
vi lượng trong đất còn rất ít và chưa có nhiều thành tựu lớn đặc biệt trong lĩnh
vực lâm nghiệp.
Năm 1968, Các vấn đề dinh dưỡng thực vật, Dz.P.Samklif nhận xét: ”Khi
nồng độ PO
4
-
, PO
3
-
trong dung dịch đất cao, trong khi sự xâm nhập ion NO
3
-
thì
ngược lại. Trong các đất axit tích lũy các dạng Al
3+
, Mn
2+
di động ảnh hưởng
xấu đến sự trao đổi chất giữa tế bào rễ và dung dịch đất. Dzhikuklai cho rằng:
“Thường là các đặc điểm lý tính của đất ảnh hưởng đến sinh trưởng và sự hút
dinh dưỡng của cây lâu năm mạnh hơn là thành phần hóa học đất, hơn nữa các
nhân tố lý tính này được phản ánh vào các tài liệu phân tích hóa học của cây”.
Theo Harper (1974): Hàm lượng đạm tổng số trong đất nhiều khi khá lớn
nhưng cây trồng vẫn bị đói đạm bởi vì hàm lượng đạm dễ tiêu rất thấp. Lúc đầu
sự cố định đạm của cây chưa đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng và phát triển nên
phải cần đến đạm của đất. Nếu hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất thấp không đủ
cho cây sử dụng thì cây sẽ bị lão hóa nhanh và không hình thành nốt sần.
chua trao đổi là những yếu tố dễ bị thay đổi do việc trồng rừng.
Những công trình này mới chỉ là những bước đầu nghiên cứu hàm lượng
một số nguyên tố hóa học tồn tại trong đất, mang tính định tính, còn rất nhiều
hạn chế và không đồng bộ. Cách tiếp cận chủ yếu phổ biến là nghiên cứu đặc
điểm tính chất của đất dưới một trạng thái rừng hoặc loài cây nào đó nên không
thể áp dụng các kết quả nghiên cứu một cách rộng rãi trong thực tiễn.
Những năm gần đây thì nghiên cứu dinh dưỡng trong đất là lĩnh vực
nghiên cứu thu hút nhiều nhà khoa học, có hướng nghiên cứu theo chiều sâu và
đầu tư hơn.
Trong những năm gần đây Trung Tâm Lâm Nghiệp Quốc Tế (CIFOR) đã
tiến hành nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các
4
nước nhiệt đới. CIFOR đã tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng bạch đàn,
keo thuần loài trên các lập địa khác nhau và các loài cây trồng khác nhau ảnh
hưởng khác nhau đến chất dinh dưỡng, độ phì nhiêu, cân bằng nước, sự phân
hủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng.
Một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học trường đại học
Illinois ở Urbana - Champaign và 8 viện khoa học khác đã làm rõ được vấn đề
chất dinh dưỡng trong đất. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chất dinh dưỡng trong
đất ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố cây trong rừng nhiệt đới. Sau đó, các nhà
khoa học so sánh bản đồ phân bố của 10 chất dinh dưỡng thiết yếu trong đất với
bản đồ loài cây của tất cả các cây với đường kính hơn 1 cm. Kết quả là mỗi khu
vực rất khác biệt với nhau, nhưng tại mỗi khu vực, các nhà khoa học đã tìm ra
được bằng chứng cho thấy rằng, thành phần của đất ảnh hưởng một cách đáng
kể nơi những loài cây nào đó mọc: Sự phân bố không gian của từ 36 đến 51%
loài cây có mối quan hệ rất lớn với sự phân bố của chất dinh dưỡng trong đất.
1.2. Ở Việt Nam
Tại Việt Nam có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về đất rừng, song những
thành tựu đầu tiên phải kể đến là sự đóng góp của Nguyễn Ngọc Bình (1968,
1970, 1979, 1986). Tác giả đã tổng quát những đặc điểm cơ bản của đất dưới các
của rừng Bồ Đề đến độ phì của đất. Tác giả theo dõi diễn biến những đặc điểm
của đất dựa trên việc chia đất làm 5 nhóm: Nhóm độ chua, nhóm chất hữu cơ,
nhóm chất dễ tiêu, nhóm tính chất vật lý và độ ẩm của đất. Kết quả nghiên cứu
cho thấy trên 4 nhóm đều giảm trong đó có 3 nhóm giảm mạnh hơn: Nhóm chất
hữu cơ, nhóm lý tính, nhóm chất dễ tiêu. Tiếp đó, nhóm tính chất vật lý cũng
xấu đi rõ rệt nhất là độ xốp và sức chứa nước. Đất ban đầu càng tốt thì sự giảm
sút độ xốp và sức chứa nước càng rõ rệt. Điều đó chứng tỏ chất dinh dưỡng
trong đất liên quan đến sinh trưởng của cây Bồ Đề và ngược lại sinh trưởng của
Bồ Đề đã làm suy thoái đất.
Năm 1997, Nguyễn Trường và Vũ Văn Hiển nghiên cứu ảnh hưởng của
thảm thực vật rừng đến tính chất hóa học của đất ở Bắc Sơn đã kết luận rằng:
Tính chất hóa học thay đổi phụ thuộc vào độ che phủ của thảm thực vật. Ở nơi
có độ che phủ thấp đất bị chua hóa, tỷ lệ mùn và hàm lượng các chất dễ tiêu thấp
hơn nhiều so với những nơi đất được che phủ tốt.
6
Năm 1998, Nguyễn Vy trong cuốn Độ phì nhiêu thực tế đã viết: “Hiểu
biết về độ phì nhiêu thực tế chính là cơ sở để sử dụng đất hợp lý để đầu tư theo
chiều sâu, thâm canh. Theo các tác giả Việt Nam thì Lân là yếu tố hạn chế năng
suất đứng hàng đầu hiện nay. Nói cách khác Việt Nam hiện nay đang thiếu Lân
trầm trọng và phân lân trở thành chiến lược trong sản xuất Nông Lâm Nghiệp ở
nước ta.
Năm 1999, theo kết quả của Nguyễn Đình Thành cho rằng Bạch Đàn ở
tuổi 3 - 6 trồng ở các dạng địa hình khác nhau chưa có biểu hiện làm khô kiệt
nước và chất dinh dưỡng đất quá mạnh và ngược lại một số tính chất lý hóa học
của đất phần nào được cải thiện tốt hơn so với đất trống đã bỏ hoang hóa trong
cùng một dạng lập địa và cùng độ cao.
Năm 2000, kết quả của Nguyễn Văn Hòa tại Huyện EA Súp - Đắc Lắc đã
khẳng định khả năng cải tạo đất của cây Điều. Tác giả cho thấy đất dưới rừng
Điều 5 tuổi đã biến đổi theo hướng tích cực, dung trọng, tỷ trọng, độ xốp cải
thiện đáng kể. Lượng mùn và các chất dinh dưỡng tổng số đều tăng so với đối
Năm 2002, theo kết quả nghiên cứu: “Đặc tính hóa học của đất trong các
trạng thái thực bì ở Hoành Bồ - Quảng Ninh” của Trần Đinh Lý và Nguyễn Thế
Hưng cho thấy mùn trong các mẫu đất được phân tích rất khác nhau và khả năng
tích lũy mùn từ 0,83% - 4,71%. Quy luật chung của sự biến đổi hàm lượng mùn
theo chiều sâu phẫu diện. Tuy nhiên mức độ giảm ở các trạng thái thực bì không
giống nhau. Nhìn chung hàm lượng mùn trong đất không lớn. Nếu tính hàm
lượng mùn trung bình cho cả 3 tầng thì trạng thái rừng có hàm lượng mùn từ
2,82% - 3,85%, các loại hình thảm cây bụi có từ 1,38% - 2,59% giá trị trung
bình khoảng 2,35%.
Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Nguyễn Văn Luận tại Núi Luốt,
hàm lượng các chất dinh dưỡng ở tầng mặt khu vực nghiên cứu từ nghèo đến
trung bình. Hàm lượng mùn là 2,86 % và NH
4
+
là 4,46 mg/100gđất được đánh
giá là trung bình. Hàm lượng K
2
O là 6,53mg/100gđất và P
2
O
5
là 0,33
mg/100gđất được đánh giá là đất nghèo lân và kali (Theo Trần Công Tấu, dẫn
theo Tài nguyên Đất, NXB ĐHQG Hà Nội). Ngoài ra tác giả nhận định rằng tại
khu vực nghiên cứu thì hàm lượng mùn, NH
4
+
, K
2
O, P
2
O
có 2,1 mg/100g đất, P
2
O
5
có 0,37 mg/100g đất.
Dựa vào sự khác biệt dựa hàm lượng các chất tại 2 khu vực ta có thể
khẳng định ở những địa hình khác nhau, khu vực khác nhau thì hàm lượng các
nguyên tố dinh dưỡng trong đất dưới trạng thái rừng không giống nhau.
Đối với Thông Mã Vĩ cũng tương tự theo kết quả nghiên cứu của Trần
Trung Thương năm 2007: Hàm lượng mùn có 3,14 %, NH
4
+
có 3,13 mg/100g
đất, K
2
O có 2,08 mg/100g đất, P
2
O
5
có 0,31 mg/100g đất. Như vậy, hàm lượng
các chất dinh dưỡng trong đất thuộc mức nghèo. Theo tác giả thì đất trồng
Thông Mã Vĩ làm giảm độ chua thủy phân, giảm độ no bazo, đạm, lân, kali dễ
tiêu ít.
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết Phương năm 2009 đối
với Thông Mã Vĩ tại Trạm Tấu - Yên Bái : Hàm lượng mùn có 6,31 mg/100g
đất, NH
4
+
PHẦN II
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở xác định thực trạng chất dinh dưỡng dưới trạng thái rừng trồng
ở các vị trí khác nhau tại khu vực Núi Luốt - Xuân Mai - Chương Mĩ - Hà Nội
nhằm đề xuất một số giải pháp cải tạo, bảo vệ và sử dụng đất rừng tại khu vực
một cách hợp lí và bền vững.
2.2. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tiến hành nghiên cứu tính chất dưới rừng trồng Keo, Thông và
rừng hỗn loài tại khu vực Núi Luốt - Xuân Mai - Chương Mĩ - Hà Nội.
2.2.2. Giới hạn nghiên cứu
*Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính chất đất ở độ sâu 0 – 20cm tại các
vị trí và các trạng thái rừng trồng khác nhau.
* Giói hạn về địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong giới hạn khu vực rừng nghiên cứu thực
nghiệm Núi Luốt - Xuân Mai -Chương Mĩ - Hà Nội.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm hình thái phẫu diện đất tại các vị trí nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm chất dinh dưỡng dưới các trạng thái thái rừng
trồng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình tới chất dinh dưỡng trong đất.
- Đánh giá ảnh hưởng của thực vật tới sự hình thành của thực vật tới sự
hình thành chất dinh dưỡng trong đất
- Đề xuất hướng cải tạo, bảo vệ và sử dụng đất rừng một cách hợp lý, bền
vững hơn.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp luận
12
- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu như: vị trí địa
lý, địa hình, khí hậu
- Kế thừa số liệu về lịch sử rừng trồng trước đó.
2.4.2.2. Phương pháp điều tra thực địa
- Khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu
- Thiết lập các ô tiêu chuẩn (OTC) nghiên cứu: Thông qua kết quả khảo
sát, đánh giá điều kiện chung của khu vực nghiên cứu, tương ứng với mỗi đai
cao khác nhau, tiến hành thiết lập các OTC điển hình tạm thời ở các vị trí chân,
sườn, đỉnh dưới các trạng thái rừng trồng khác nhau với kích thước mỗi OTC là
500m
2
(25m×20m). Để đánh giá đồng đều về thực trạng chất dinh dưỡng dưới
các trạng thái rừng khác nhau, với mỗi vị trí địa hình có 3 OTC được lập (trong
đó có 1 OTC đại diện cho rừng trồng Thông thuần loài, 1 OTC đại diện cho
rừng Keo trồng thuần loài, 1 OTC đại diện cho rừng trồng hỗn loài), tổng số
OTC nghiên cứu là 9 ô.
- Mô tả hình thái phẫu diện đất:
Ở trung tâm của mỗi OTC, tiến hành đào 1 phẫu diện đất đại diện, sau đó
mô tả các chỉ tiêu hình thái đất theo bảng mô tả của Bộ môn Khoa học Đất -
Trường Đại học Lâm nghiệp.
+ Xác định độ dày tầng đất bằng thước dây, độ chính xác đến cm.
+ Xác định độ chặt bằng dao nhọn chuyên dùng.
+ Xác định tỉ lệ đá lẫn, kết von theo phương pháp ước lượng.
+ Xác định màu sắc của đất bằng phương pháp mục trắc.
+ Xác định thành phần cơ giới đất bằng phương pháp xoe con giun
+ Xác định độ ẩm của đất bằng phương pháp nắm đất trong lòng bàn tay.
+ Xác định kết cấu đất theo hình dạng, kích thước hạt đất.
- Lấy mẫu đất phân tích:
Tương ứng với mỗi OTC, tiến hành lấy mẫu đất để xác định các chỉ tiêu
Gilcovic.
- Xác định độ chua trao đổi.
- Xác định pH
H2O
, pH
KCl
bằng máy đo pH metter.
* Phân tích hàm lượng nguyên tố dinh dưỡng đa lượng dễ tiêu trong đất bằng
máy hấp phụ quang phổ.
- Xác định hàm lượng đạm dễ tiêu (NH
4
+
) bằng phương pháp so màu.
- Xác định hàm lượng kali dễ tiêu (K
2
O) bằng dung dịch axeton amon
sau đó đo K
+
trên quang kế ngọn lửa.
- Xác định hàm lượng Lân dễ tiêu (P
2
O
5
) theo phương pháp của Olsen.
2.4.3.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu nghiên cứu để đánh giá được đặc điểm định tính và định
lượng thông qua hóa nghiệm phân tích trong phòng thí nghiệm với các dụng cụ,
hóa chất được chuẩn hóa bằng các chỉ tiêu kĩ thuật chính xác để xác định tính
chất và các nguyên tố cần thiết nghiên cứu trong đất.
- Xác định hàm lượng mùn bằng phương pháp Chi-U-Rin:
30
’
45
’’
độ kinh Đông.
- Phía Đông giáp quốc lộ 21A.
- Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hoà Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình.
- Phía Nam giáp thị trấn Xuân Mai và quốc lộ 6.
- Phía Bắc giáp đội 6 nông trường chè Cửu Long.
3.1.2. Địa hình
Khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối đơn giản, gồm hai quả đồi nối
tiếp chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Một đỉnh có độ cao 133m so với
mặt nước biển, đỉnh kia cao 76m. Độ dốc trung bình của khu vực nghiên cứu là
15
0
.
Nhận xét: Địa hình cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn
tới chất dinh dưỡng của rừng. Độ dốc của khu vực cũng tương đối nên hiện
tượng xói mòn xảy ra thường xuyên. Địa hình thì không quá phức tạp nên có thể
thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp chống xói mòn mà có tác dụng tốt
trong bảo vệ và giữ các chất dinh dưỡng trong đất.
3.1.3. Khí hậu thuỷ văn
Theo kết quả nghiên cứu của trạm khí tượng thuỷ văn Ba Vì - Hà Tây từ
năm 2000 cho thấy: Khu vực Xuân Mai hàng năm có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10.
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Trong thời gian này
lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi.
16
Bảng 3.1: Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu
Tháng Nhiệt độ (
- Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (tháng 7); 311,47 mm
- Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (tháng 1): 15,89 mm
- Số ngày mưa trong năm: 210 ngày
+ Độ ẩm không khí:
- Khu vực nghiên cứu có độ ẩm không khí tương đối cao nhưng phân bố
không đều giữa các tháng trong năm.
- Độ ẩm không khí trung bình năm 82,43%.
- Tháng có độ ẩm không khí trung bình cao nhất (tháng 8): 85,3 %.
- Tháng có độ ẩm không khí trung bình thấp nhất (tháng 12): 79,1 %.
(Tất cả số liệu trên đều được tính trung bình trong 10 năm tính từ 1997- 2006.
Số liệu do trạm khí tượng thuỷ văn trường Đại học Lâm nghiệp cung cấp).
17
+ Chế độ gió:
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của hai luồng gió chính:
- Gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
- Gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 7.
Ngoài ra từ tháng 4 đến tháng 6 khu vực còn chịu ảnh hưởng của gió phơn
Tây Nam (gió Lào).
Nhận xét: Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thuỷ văn của khu vực Núi Luốt
mang các đặc điểm tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của hệ
thực vật.
3.1.4. Đất đai thổ nhưỡng
Nhóm đất của khu vực nghiên cứu là đất feralit màu nâu vàng phát triển
trên đá mẹ Poocfiarit, tầng đất từ trung bình đến dày, số diện tích đất tầng mỏng
chiếm tỷ lệ rất ít, những nơi tầng đất dày tập trung chủ yếu ở chân hai quả đồi,
sườn Đông Nam quả đồi thấp (76m so với mặt nước biển), và sườn phía Tây
Nam quả đồi cao (133m so với mặt nước biển). Tầng đất mỏng tập trung ở đỉnh
đồi, sườn phía Đông Bắc quả đồi thấp, sườn Tây Bắc quả đồi cao. Những nơi
tầng đất mỏng tỷ lệ đá lẫn càng lớn. Đá lộ đầu chủ yếu tập trung ở khu vực gần
đỉnh và đỉnh 133m.
đàn trắng. Một vài năm trở lại đây, trường đã tiến hành trồng bổ sung các loại
cây có nguồn gốc từ rừng tự nhiên nhằm bảo tồn nguồn gen và bảo tồn da dạng
sinh học. Độ che phủ và độ tàn che ở đây khá cao khoảng 70%.
Theo ghi nhận rừng thực nghiệm Núi Luốt có khoảng 342 loài thực vật
bậc cao có mạch, thuộc 257 chi và 90 họ. Thực vật khu vực rất da dạng về dạng
sống và 7 nhóm giá trị.
Tài nguyên động vật: Tại khu vự có 156 loài động vật có xương sống
thuộc 10 bộ, 60 họ và 104 giống trong đó có 21 loài động vật quý hiếm
Tài nguyên côn trùng: Đã phát hiện 409 loài thuộc 87 họ và 10 bộ côn trùng. Bộ
Cánh Vẩy xác định có 208 loài, 135 giống, 30 họ. Có 8 loài côn trùng quý hiếm
Tài nguyên nấm: Phát hiện 123 loài thuộc 36 họ, 10 lớp, 4 ngành phụ.
Ngành phụ nấm đảm và Nấm bất toàn là những ngành phụ chủ yếu.
3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế -xã hội
19
Khu nghiên cứu thực nghiệm núi Luốt- Trường Đại học Lâm nghiệp chủ
yếu nằm trên địa bàn xã Hoà Sơn - huyện Lương Sơn- tỉnh Hoà Bình. Đây là
một xã miền núi với 3.822 nhân khẩu trong đó dân tộc Mường chiếm 58,85%,
dân tộc Kinh chiếm 41,15%. Người dân ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp,
diện tích đất lâm nghiệp chiếm 543 ha nhưng nghề rừng chưa được phát triển.
Do là khu rừng duy nhất ở khu vực nên núi Luốt chịu sức ép nhiều mặt từ mọi
phía. Ngoài các hoạt động tích cực vào rừng còn có các hoạt động tiêu cực diễn
ra thường xuyên. Việc chăn thả gia súc còn theo kiểu tự do, ý thức bảo vệ rừng
của người dân còn thấp.
Bên cạnh đó nằm trong khu vực thị trấn Xuân Mai có các đơn vị bộ đội,
các trường đào tạo. Đặc biệt là Trường Đại học Lâm nghiệp – trung tâm đào tạo
cán bộ kỹ thuật của ngành, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật
Lâm nghiệp, do vậy đã có ảnh hưởng tích cực đến bảo vệ và phát triển tại khu
vực nghiên cứu thực nghiệm.
Nhận xét chung: Nhìn chung đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu
tương đối đồng nhất về đá mẹ, địa chất, cùng sự tác động của con người và cũng
hành mô tả 1số phẫu diện đất đại diện dưới rừng tại các vị trí nghiên cứu khác
nhau. Kết quả thu được như sau:
4.1.1. Phẫu diện KCĐ1
Thời tiết đợt điều tra: nắng ráo; vị trí: chân đồi. Độ dốc 8
0
, hướng dốc:
Đông Nam, Độ cao tuyệt đối: 25m, dạng địa hình: tương đối bằng phẳng; đá mẹ:
Poocfiarit; thực vật: rừng trồng thuần loài Keo, độ tàn che 0,8, cây bụi thảm
tươi: cỏ lá Tre, cỏ Lào, Dương xỉ, độ che phủ 90%, độ cao trung bình 0,3m,
nước ngầm sâu, xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu nằm rải rác.
Tên đất ngoài thực địa: Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ
Poocfiarit.
Đặc điểm các tầng phát sinh:
22
Tầng A: Từ 0 - 50cm, có màu nâu, hơi ẩm, kết
cấu viên hạt, tơi xốp, có phân giun, có nhiều rễ
cây, tỷ lệ đá lẫn ít. Giữa tầng A và tầng B có sự
chuyển lớp rõ rệt về màu sắc.
Tầng B: Từ 50 - 92cm, đất có màu nâu nhạt, hơi
khô, kết cấu viên hạt, độ chặt: hơi chặt, thành phần
cơ giới: thịt trung bình, không có chất lẫn vào, tỉ lệ
đá lẫn 10%, Chuyển lớp rõ về màu sắc.
- Tầng C: Từ 92 -120cm, có màu vàng nhạt, hơi
khô.
0cm
50cm
92cm
120cm
A
- Tầng B
k
: Từ 22-74 cm có màu nâu, hơi ẩm, rễ cây ít; kết cấu viên, hạt; độ chặt:
hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình; chất lẫn vào: không có; chất mới
sinh: kết von trung bình (25%); chuyển lớp rõ ràng.
- Tầng C: Từ 74 -110cm, màu vàng nhạt, đất chặt.
4.1.3. Phẫu diện HLCĐ3
23
Tầng A: Từ 0-22cm có vàng xám, hơi ẩm, kết
cấu: viên, hạt; độ chặt: chặt; thành phần cơ
giới: thịt trung bình; chất mới sinh: phân giun,
rễ cây trung bình, tỷ lệ đá lẫn ít (10%). Giữa
tầng A và tầng B có sự chuyển lớp rõ rệt về
màu sắc.
A
Bk
C
0cm
22cm
74cm
110cm
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: chân đồi; địa hình: Độ dốc 8
0
, hướng
dốc: Tây Nam, độ cao tuyệt đối: 27m; dạng địa hình: tương đối bằng phẳng; đá
mẹ: Poocfiarit; thực vật: rừng trồng hỗn loài; độ tàn che 0,6; cây bụi thảm tươi:
cỏ lá Tre, Cỏ Lào, Dương xỉ, độ che phủ 70%, độ cao trung bình 0,5m, nước
ngầm sâu, xói mòn mặt: yếu; đá lộ đầu rải rác.
Tên đất ngoài thực địa: Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ
Poocfiarit.
k
BC
C
0cm
28cm
Dương xỉ; độ che phủ 70%, độ cao trung bình 0,5m, nước ngầm sâu, xói mòn
mặt: trung bình; đá lộ đầu rải rác.
Tên đất ngoài thực địa: Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ
Poocfiarit.
4.1.5. Phẫu diện TSĐ2
Thời tiết đợt điều tra nắng ráo; vị trí: chân đồi; địa hình: Độ dốc 19
0
,
hướng dốc: Đông Đông Bắc, dạng địa hình: dốc thoải; đá mẹ: Poocfiarit; thực
vật: rừng thuần loài thông, độ tàn che 0,6, cây bụi thảm tươi: cỏ lá Tre, Mâm
25
- Tầng A: Từ 0- 10cm; có vàng đậm; đất hơi
ẩm; kết cấu: viên hạt; độ chặt: chặt; thành
phần cơ giới: thịt trung bình, chất mới sinh:
phân giun; rễ cây: trung bình; tỷ lệ đá lẫn ít
(10%). Giữa tầng A và tầng B có sự chuyển
lớp rõ rệt về màu sắc.
- Tầng B
1K
: Từ 10- 40cm; có màu nâu nhạt,
hơi ẩm; rễ cây ít; kết cấu: viên, hạt; độ chặt:
hơi chặt; thành phần cơ giới: thịt trung bình;
chất lẫn vào: không có; kết von nhiều (35%),
chuyển lớp rõ ràng.
Tầng B