LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước, ngành điện lực Việt Nam
là một ngành có vị trí rất quan trọng. Cung cấp năng lượng và thúc đẩy quá trình sản
xuất, kinh doanh của tất cả các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân. Sự phát
triển của ngành điện lực cũng đánh giá sự phát triển, tiến bộ của toàn xã hội. Với
những đặc trưng riêng của mình là sản xuất và tiêu thụ phải đi đôi với nhau. Do đó để
đáp ứng tốt giữa cung và cầu thì đòi hỏi ngành điện phải có sự phát triển hợp lý: Vừa
có khả năng đáp ứng những nhu cầu hiện tại vừa phải có sự chuẩn bị cho tương lai. Vì
vậy không những ngành điện là động lực cho các ngành kinh tế khác mà chính ngành
điện cũng phải hiện đại hoá quá trình sản xuất sớm nhất để kịp thời cung cấp cho đất
nước những nguồn điện năng có chất lượng cao.
Nhà máy nhiệt điện Uông Bí là nhà máy có công suất lớn do Nga giúp đỡ xây dựng,
qua 40 năm sản xuất, nhà máy đã cung cấp cho lưới điện quốc gia gần 4 tỉ KWh điện
và cũng đang trong quá trình hiện đại hoá sản xuất từng khâu, từng khu vực của dây
truyền sản xuất điện. Và cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Để đáp ứng được những nhu cầu đó, sau thời gian học tập trau dồi kiến thức khoa học
của trường. Em tìm hiểu đề tài:
Sau thời gian 7 thực tập tại nhà máy nhiệt điện Uông Bí . Em được Thầy giáo Vũ
Duy Thuận cùng với sự giúp đỡ của các Thầy Cô giáo khóa Công Nghệ Tự Động , và
sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp đến nay báo cáo thực tập tốt nghiệp của em đã
hoàn thành với đầy đủ nội dung yêu cầu và đúng thời hạn.
Tuy nhiên do thời gian có hạn và khả năng kiến thức của bản thân còn hạn chế, vì vậy
bản báo cáo tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót.
Em kính mong được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của các Thầy Cô giáo trong khoa Công Nghệ
Tự động, các bạn học và phòng kỹ thuật nhà máy điện Uông Bí.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Thầy giáo Vũ Duy Thuận và các
Thầy các Cô trong khoa Công Nghệ Tự Động Trường Đại học Điện Lực .
NỘI DUNG BÁO CÁO THỰC TẬP
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ
1.1 Tổng quan về nhà máy nhiệt điện Uông Bí.
Giai đoạn thành lập, xây dựng, sản xuất và chiến đấu từ 1961-1975: Nhà máy nhiệt
điện Uông Bí được khởi công xây dựng ngày 19/5/1961 vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần
thứ 71 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tổng công suất đặt ban đầu là 48MW.
Giai đoạn mở rộng sản xuất đợt III & IV từ 1976-2000: Nhà máy mở rộng sản xuất với
công suất 110MW.
Giai đoạn mở rộng sản xuất từ năm 2000 đến nay :
Trước tình hình thưc tế là thiếu năng lượng cũng như sư lac hậu của một số nhà máy
điên được xây dưng từ thập niên 60.Chính vì vậy Chính phủ đã giao cho Tổng công ty
LILAMA làm tổng thầu EPC dự án nhà máy nhiệt điên UÔNG BÍ mở rộng với công
suất 300 MW với hình thức chìa khoá trao tay và đây là doanh nghiêp đầu tiên của
VIỆT NAM thực hiện theo hinh thức này .
Sau môt thời gian chuẩn bị và xây dựng (từ 2001-2006) nhà máy đã được hoàn thành
trong niền vui sướng của tâp thể cán bộ công nhân viên tổng công ty LILAMA cũng
như nhân dân cả nước. Với thành tích này đánh giá sự phát triển vượt bậc của ngành
lắp máy Việt Nam. Nó có sự biến đổi về chất đưa Lilama từ người làm thuê đã đứng
lên làm chủ và lợi nhuận( tiền và kinh nghiệm tri thức) đã ở lại VN.
Công ty nhiệt điện Uông Bí đã tiếp quản, vận hành tổ máy mở rộng 1-300MW từ ngày
27/11/2009.
Ngày 23/5/2008 gói thầu EPC Dự án Uông Bí mở rộng 2-330MW do tổng thầu
Chengda Trung Quốc được khởi công. Theo dự kiến, đến tháng cuối năm 2011 Nhà
thầu Chengda sẽ bàn giao thương mại cho Công ty Nhiệt điện Uông Bí.
Nhiệt điện Uông Bí sẽ thành tổ hợp 3 Nhà máy với tổng công suất phát điện là
740MW
Về tổ chức quản lý: Từ năm 1961 Công ty mang tên Nhà máy điện Uông Bí.
Đến năm 2005 Nhà máy nhiệt điện Uông Bí đổi tên thành Công ty nhiệt điện Uông Bí
hạch toán độc lập trực thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam.
Tháng 7/2010, Công ty chuyển đổi mô hình sản xuất và quản lý thành Công ty TNHH
MTV Nhiệt điện Uông Bí trực thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam
Nhà máy nhiệt điện Uông bí cách thủ đô Hà nội khoảng 130km về hướng đông. Nhà
máy điện được thành lập từ những năm 70 của thế kỷ XX. Tổng diện tích của nhà máy
6 Trạm bơm nước tuần hoàn
và hệ thống sx clorine
M8 Torshima Nhật bản
7 Trạm khí nén M9 Atlascopco Việt nam- Mỹ
8 Hệ thống xử lý nước tro xỉ M10 CPC Việt nam
9 Hệ thống khử lưu huỳnh M11 Kawasaki Nhật bản
10 Hệ thống cứu hỏa M12 Công ty thăng long
Việt nam
Việt nam
11 Hệ thống sản xuất hidro M13 Stuard energy Canada
12 Hệ thống đường ống và hệ
thống dầu nhiên liệu
M3&14 Thaitory Thái lan
13 Hệ thống cấp hơi khởi
động
M18 Viện nhiệt lạnh ĐHBKHN-VN
14 Sân phân phối 220/110KV E1 AVERA Singapore
15 Máy biến áp chính 353 E2 Sumitomo Nhật bản
16 Hệ thống điện thuộc phần
cân bằng nhà máy
EB01 ABB Singapore
17 Hệ thống TTLL HTI Việt nam
1.2 Chức năng và nhiệm vụ của nhà máy.
● Nhà máy nhiệt điện Uông Bí là một đơn vị thành viên thuộc tập đoàn điện lực Việt
Nam (EVN).
● Thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng về xây dựng công nghiệp nặng.
Nhà máy nhiệt điện Uông Bí đã được cố thủ tướng Phạm Văn Đồng bổ nhát quốc đầu
tiên khởi công xây dựng 19/05/1961, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm sinh nhật Bác. Với
tinh thần đó, chỉ sau một thời gian ngắn các tổ máy đã được đưa vào vận hành.
18/01/1964 khánh thành đợt 1 và tiếp đó khánh thành đợt 2. Nhà máy nhiệt điện Uông
tài chính kế toán, phòng kế hoạch, phòng vật tư, phòng kỹ thuật,
● Khối sản xuất, gồm: phân xưởng nhiên liệu, phân xưởng vận hành 1 & 2, phân
xưởng lò máy, phân xưởng sản xuất vật liệu và dịch vụ, phân xưởng cơ nhiệt,
Chức năng của các phòng ban
● Ban giám đốc.
Giám đốc lãnh đạo chung nhà máy, chịu trách nhiệm trước Tập đoàn điện lực Việt
Nam về kết quả hoạt động và sản xuất kinh doanh.
Phòng
Tổ chức- LĐ
Phòng
Kinh tế- kê
hoạch
QLDA
Phòng
Kế hoạch
Phân xưởng
Điện – kiểm
nhiệt
Phòng kỹ
thuật
Phân xưởng
Hóa
Phân xưởng
Cơ nhiệt
Phòng tổng hợp
CBSX
Phân xưởng
SX VL- DV
Phòng tài
chính kế toán
hành sửa chữa, nghiên cứu và tìm hiểu các biện pháp an toàn thiết bị.
● Phòng tổng hợp.
Phòng tổng hợp có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý và giải quyết các thủ tục công
văn, giấy tờ hành chính, văn thư lưu trữ, đánh máy, in ấn tài liệu. Quản lý toàn bộ hoạt
động ăn uống phục vụ cán bộ công nhân viên, các hoạt dộng về nhà ở, đất đai, công
tác tuyên truyền.v.v…
● Phòng bảo vệ.
Có nhiệm vụ giúp giám đôc tỏ chức các phương án kiểm tra, bảo vệ kinh tế, chính trị
trong toàn nhà máy để cho sản xuất được an toàn và phòng chống cháy nổ.
khối sản xuất điện:
Phân xưởng vận hành 1: vận hành các lò hơi và tổ họp máy phát điện thuộc dây truyền
sản xuất 1.
Phân xưởng vận hành 2: có nhiệm vụ vận hành và quản lý tổ hợp máy phát điện thuộc
dây truyên sản xuất 2.
Phân xưởng điện- kiểm nhiệt: quản lý vận hành các thiết bị điện, tự động và đo lường
trong dây truyền 1
Phân xưởng nhiên liệu: có nhiệm vụ tiếp nhận than theo tuyến đường sông, đường sắt
từ các mỏ vào kho để dự trữ và cung cấp than lên lò.
1.4 Điều kiện sản xuất ( thuận lợi, khó khăn)
● Thuận lợi.
- Đội ngũ nhân viên trẻ tuổi, nhiệt huyết.
- Công nghệ sản xuật hiện đại.
- Nhà máy nằm tại khu vực có vị trí địa lý thuận lợi đẻ phát triển.
- Nguồn nguyên liệu dồi dào.
● Khó khăn.
- Công tác bảo dưỡng sửa chữa khó khăn.
- khó thu hút đươc nhân tài.
Chương 2: CÁC THIẾT BỊ CHÍNH CỦA NHÀ MÁY UÔNG BÍ
2.1 Các hệ thống và thiết bị chính trong nhà máy.
- Lò hơi và các thiết bị phụ
6
7
8
H×nh 2.2 S¬ ®å khèi qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®iÖn n¨ng cña nhà máy
15
Hệ thống nghiền than : được thiết kế kiểu lò hơi đốt than trực tiếp ( không có than bột
trung gian). Mỗi lò bao gồm 4 máy nghiền than bằng bi, than cấp vào máy nghiền qua
máy cấp than nguyên và nó được sấp nóng bởi gió cấp 1và sau đó dược thổi thẳng vào
lò.
Lò hơi của dây truyền là lò hơi kiểu tuần hoàn tự nhiên, có kết cấu xung quanh là các
giàn ống sinh hơi, trong lò than được đốt cháy sinh nhiệt trao đổi với nước ngưng
trong các giàn ống sinh hơi để tạo ra hơi bão hòa tích tụ trong bao hơi, sau đó hơi này
được đua qua các phân ly dạng xyclon và được đưa qua các giàn quá nhiệt để tạo ra
hơi quá nhiệt khô có nhiệt độ và áp suất yêu cầu của Turbine.
Turbine được thiết kế gồm 3 cấp áp lực. Hơi từ lò được đưa vào Turbine cao áp, sau
khi giãn nở sinh công ở cao áp nó lại được đưa qua giàn quá nhiệt trung gian để nâng
nhiệt độ đẳng áp, sau đó được đưa vào Turbine trung áp và sang Turbine hạ áp về bình
ngưng. Công sinh ra trên trục Turbine quay máy phát điện, máy phát điện sẽ biến năng
lượng cơ đó thành năng lượng điện phát lên lưới.
Bình ngưng : có nhiệm vụ ngưng hơi thoát từ Turbine hạ áp thành nước ngưng
Bơm tuần hoàn: dùng để cung cấp nước làm mát từ sông cho bình ngưng, nước làm
mát đầu ra bình ngưng một phần cung cấp cho hệ thống xử lý nước, còn lại đổ ra kênh
thải ra sông.
Bơm ngưng: Bơm ngưng dùng để cung cấp nước ngưng cho khử khí.
Hệ thống gia nhiệt hạ áp: dùng để nâng nhiệt độ nước ngưng trước khi vào khử khí.
Bình khử khí: sẽ nhận hơi trích từ Turbine trung áp để gia nhiệt nước ngưng tới trạng
thái gần bão hòa để tách khí không ngưng.
Bơm cấp: dùng để cung cấp nước cho bao hơi.
Hệ thống gia nhiệt cao: dùng để nâng nhiệt độ nước cấp.
Bộ hâm: bộ hâm có tác dụng nhận nhiệt trong khói thoát sau các giàn quá nhiệt để
Đường khói thoát
Bộ hâm
H
2
O từ gia nhiệt
cao đến
Bao hơi
bộ quá nhiệt
VÒI ĐỐT
DẦU VÀ
VÒI ĐỐT
THAN
từ turbine cao
áp đến
đến turbine
trung áp
Hình 3.1 hình vẽ mô phỏng lò hơi
Lò hơi En-920-17,6-543 kiểu AT được cấp để đốt than anthracite của Việt Nam
với hàm lượng chất cháy là 20770 kJ/Kg, hàm lượng tro 27,7%, độ ẩm 9,4% chất bốc
ở đầu ra 3,11%.
Thông số về vận hành lò hơi :
Công suất định mức đầu ra, t/h 920
Các thông số danh định của hơi:
Áp suất, Mpa 17.6
Nhiệt độ của hơi chính và hơi quá nhiệt trung gian,
C
0
543
Nhiệt độ của nước cấp,
C
0
nghiêng so với đường nằm ngang. Có bố trí các cửa nhỏ và các
lỗ thăm.
Các vòi đốt có cấu hình xoắn với hai khoang ở đường khí thứ cấp. Khoang giữa
được cấp để chuẩn bị cho việc đốt dầu nhiên liệu với các trục xoáy và các cánh quạt
thẳng. Hỗn hợp không khí được cuộn vào ở đầu vào của vòi đốt bằng các đường xoắn.
Các ống được lắp đặt ở khoang khí trung tâm. Để lắp đặt vòi dầu nhiên liệu, cảm ứng
điều khiển ngọn lửa của dầu nhiên liệu, thiết bị đánh lửa và vòi đốt. Ống để lắp cảm
ứng điều khiển ngọn lửa đốt than mịn của vòi đốt than đuợc gắn trong khu vực miệng
vòi đốt than. Vòi đốt bao gồm thiết bị giám sát ngọn lửa đốt than và thiết bị phun mù
cơ khí số 6 của vòi đốt được cấp để đánh lửa phần nhiên liệu chính.
Buồng đốt có hình lăng trụ với các cạnh có kiểu dáng khí động học theo hướng
đi lên ở phần vách lò sau.
Có một khu vực gồm các ống tạo thành vách lò bao quanh chu vi của buồng đốt
từ cao độ 10,470 m (Phần trên của phễu tro) lên đến cao độ đáy của phần tái nhiệt
nóng. Trong khu vực này có rất nhiều các ống ở cao độ đặt các vòi đốt giữa mức
10,670 m và 24,670 m buồng đốt được lát gạch chịu lửa ở xung quanh.
Bộ quá nhiệt bức xạ cao áp được bố trí giữa cao độ 31,720 và 42,760 m dọc
theo vách lò sau của buồng đốt cũng như phần bên phải và trái của vách lò, phần mà
tiếp giáp với vách lò sau của buồng đốt. Bộ quá nhiệt bức xạ được treo trên vách lò
của buồng đốt bằng các thanh treo đặc biệt và các kẹp.
Bộ quá nhiệt bức xạ hạ áp đuợc bố trí giữa cao độ 38,200 m và 60,940m dọc
theo vách trước của buồng đốt cũng như phần bên phải và trái của vách lò nơi tiếp giáp
với vách trước của buồng đốt. Có 16 bộ đặt ở vách trước và 5 bộ đặt ở vách cạnh của
buồng đốt. Loại thép sử dụng là thép hợp kim
442xΦ
.
Dọc theo vách trước và bên cạnh có sự phân bổ của các ống đến các thiết bị thổi
bụi. Bộ quá nhiệt mành được bố trí ở đầu ra của buồng đốt và bao gồm 32 hàng thẳng
đứng với khoảng cách cách nhau 642mm. Cách ống thép được gia công chế tạo bằng
dẫn hướng được lắp trực tiếp ở phần hút gió, các van được lắp đặt ở đầu thổi của quạt.
Luồng gió sau quạt được kết hợp lại ở ống gió ngang với hai luồng song song từ một
quạt khác nữa. Có sự trích khí từ ống gió ngang thông qua các van đến các thiết bị
chuyển hướng (4 đường), việc trích gió cho máy nghiền cũng được chia làm 4 đường
vào 4 máy nghiền tuơng ứng. Từ ống gió ngang đường gió chính sẽ được cấp vào bộ
sấy không khí và mỗi nhánh đi qua một tầng riêng biệt của bộ sấy không khí.
Ở đầu ra của bộ sấy không khí luồng gió nóng sẽ được chia về phía lò hơi. Phần
gió nhỏ hơn sẽ được cấp qua van và thiết bị đo đến các vòi dẫn gió. Tại đầu vào của lò
hơi gió sẽ được chia và cấp vào hai ống góp.
Một phần lớn gió được cấp vào các vòi đốt thông qua thiết bị đo, luồng gió này
được chia làm hai đường. Đường gió thứ nhất sẽ có nhiệm vụ cấp khí thứ cấp vào hai
vòi đốt ở bên dưới và các phần ở trên đỉnh của vách trước lò hơi, đường gió thứ hai
cấp khí cho các vòi đốt ở phần sau của lò hơi. Trong cùng các ống gió sẽ có các phần
chèn, hai đường chèn cho quạt gió sơ cấp và một cho đường gió nóng đến các máy
nghiền. Mỗi quạt gió sẽ có nhiệm vụ cấp gió cho 4 vòi đốt, một hàng của phần trước lò
hoặc sau lò.
3.3.Chu trình nhiên liệu
Hình 3.3 Chu trình nhiên liệu
Lò hơi bao gồm 4 hệ thống nghiền than (khép kín, đơn) với hai bunker chứa
than mịn. Than được sấy và nghiền than trong máy nghiền kiểu 370/ 850, máy nghiền
than chứa khoảng 82,9 tấn bi thép. Hai hệ thống nghiền cấp than cho 1 bunker than
mịn, để vận hành ổn định các máy cấp than mịn thì mức than mịn trong bunker ít nhất
phải là 4 m.
Ở mỗi đầu ra của bunker có bố trí 8 máy cấp than. Độ mịn của than theo thiết
kế là R90═5%. Năng suất của máy cấp than mịn được điều khiển bằng cách thay đổi
diện tích của cổ van điều khiển ở các mức từ 1,8 đến 8,5 (t/h), tương ứng với việc mở
van từ 20 đến 100%. Phương tiện vận chuyển than mịn có độ đậm đặc cao là sử dụng
không khí ngoài trời, không khí này được hút qua đường hút khí của tuabin nén khí
của lò hơi. Hệ thống cấp gió vận chuyển than vào hệ thống cấp than mịn có độ đậm
đặc cao gồm hai tuabin nén khí kiểu TB-80-1,8 một chiếc vận hành và một chiếc dự
lò hơi sẽ được lắp đặt dọc theo đường ống dầu nhiên liệu ở gần lò hơi. Đường hồi dầu
nhiên liệu từ các vòi đốt của lò hơi sẽ được thực hiện qua đường ống có đường kính
Dn = 50 mm, chúng có lắp đặt các van và các thiết bị đo lưu lượng dầu. Đường hồi
dầu nhiên liệu sẽ được đưa trực tiếp vào các bồn dầu nhiên liệu và vào các bơm hút
thứ hai.
Nguồn hơi được cấp đến các bộ gia nhiệt, dầu nhiên liệu sẽ được lấy từ ống góp
hơi tự dùng của tổ máy với các thông số hơi là p = 14 kgf/cm
2
và t = 250
C
0
3.4 Hệ thống cấp nước cho lò hơi
Hình 3.4 Hệ thống cấp nước
Chức năng của hệ thống
Cấp nước vào bao hơi đồng thời cấp nước vào hệ thống giảm ôn để điều chỉnh nhiệt độ
của hơi.
Báo Cáo Thực Tập Sản Xuất Bộ Môn Tự Động Hóa
Chương 4: TUABIN CỦA NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN UÔNG BÍ
4.1.Hệ thống Turnine.
Theo sơ đồ của nhà máy 300MW, tuabin kiểu K-300-170-1P sẽ được lắp đặt để
phục vụ cho việc chuyển động máy phát điện ACTBB-320-3T3. Tuabin có 3
cylinders, kiểu trục đơn và ngưng tụ với một bộ gia nhiệt hơi, công suất danh định là
303 MW và tốc độ quay là 3000v/ph.
Các thông số chính của tuabin để cấp điện năng danh định (không trích hơi để
tái tuần hoàn).
Lưu lượng hơi chính: 848,2 t/h
Nhiệt độ hơi chính: 538
C
0
Áp suất tuyệt đối: 171kgf/cm
nhiệt, hơi được cấp vào hai khối van trung áp, mỗi khối van gồm một van chặn và một
van điều khiển. Hơi ở xilanh trung áp được phân phối thông qua van tiết lưu. Các van
điều khiển xilanh trung áp ở chế độ vận hành bình thường của tuabin sẽ được mở hoàn
toàn và không tham gia vào việc điều chỉnh mức điện năng. Xilanh trung áp là kiểu
xilanh trực lưu, đường hơi của nó có 15 tầng chủ động. Xilanh trung áp cũng có 3
đường trích hơi để gia nhiệt nước ngưng và nước cấp lò hơi. Tại đầu ra của xilanh
trung áp, hơi qua hai ống liên thông cấp đến phần giữa của xilanh hạ áp. Xilanh hạ áp
được chế tạo theo kiểu xilanh hai dòng, mỗi đường ống bao gồm hai tầng. Xilanh hạ
áp có hai đường trích hơi để gia nhiệt nước ngưng, tại đầu ra của xilanh hạ áp hơi được
cấp vào bình ngưng.
Tất cả các rotor của tuabin được làm bằng thép rèn từ loại thép hợp kim chịu
nhiệt, các rotor cao và trung áp có lỗ khoan ở giữa còn rotor hạ áp được chế tạo mà
không có lỗ khoan ở giữa.
Tất cá các khớp nối của tuabin được làm theo kiểu khớp nối cứng, nửa khớp nối
được rèn cùng với trục.
Báo Cáo Thực Tập Sản Xuất Bộ Môn Tự Động Hóa
Các gioăng cuối của Tuabin và các gioăng giữa của xilanh cao áp, xilanh trung
và hạ áp được làm theo kiểu gioăng hơi labirinth. Tại xilanh cao và trung áp có sử
dụng loại gioăng labirinth thoải.
Mỗi rotor của tuabin được đỡ trên hai ổ đỡ, các phần chèn của ổ đỡ trước được
gia công chế tạo như là các miếng chèn (ổ đỡ có 6 miếng chèn). Các thân của ổ đỡ
Tuabin được đặt trên và gắn cố định vào các khung móng. Phần xả của xilanh hạ áp
cũng được đặt trên các khung móng. Trên thân của tất cả các ổ đỡ Tuabin có các điểm
neo riêng.
Các phần dãn nở do nhiệt được thực hiện theo cách đó là gia nhiệt phần thân
của xilanh cao áp đẩy theo hướng của ổ đỡ trước và các phần của xilanh trung và hạ
áp.
Phần thân của ổ đỡ được neo vào các điểm neo của rotor. Tuabin còn được cấp
kèm với hộp số, nó được lắp ở vỏ hộp số số 4 và hệ thống thủy lực nâng rôtor. Hộp số
này được cấp để quay trục bằng tay và để vận hành hệ thống thủy lực nâng rotor. Tại
nước của bình ngưng và từ đó sẽ được đưa vào ông xả. Việc này cũng tạo điều kiện
cho phép dừng và làm vệ sinh bất cứ dàn ống nào trong khi đang vận hành Tuabin.
Tại phần bên trên của bình ngưng có bố trí các thiết bị nhận hơi để nhận hơi từ
đường rẽ nhánh hạ áp. Hơi này sẽ được làm mát bằng việc phun nước ngưng vào các
thiết bị nhận hơi thông qua các bơm nước ngưng và các tuyến ống. Bình ngưng cũng là
một bộ phận nhận hơi và nước để tạo sự vận hành bình thường cho hệ thống Tuabin ở
thời điểm khởi động tổ máy, ngừng tổ máy và vận hành tổ máy.
4.3 Các bình gia nhiệt hạ áp
Để phục vụ cho việc gia nhiệt tái tuần hoàn cho nước ngưng chính của Tuabin thì
trong sơ đồ của hệ thống có ba bình gia nhiệt hạ áp. Tất cả các bình gia nhiệt hạ áp đều
có kiểu nằm ngang.
Báo Cáo Thực Tập Sản Xuất Bộ Môn Tự Động Hóa
Hình 4.3 Gia nhiệt hạ áp
Các đặc tính vận hành của bình gia nhiệt :
Bình gia nhiệt hạ áp số 1 :
Kiểu
15,203400 −−−−ΠH
Bề mặt trao trao đổi nhiệt 400m
2
Áp suất thiết kế nước ngưng 25 kgf/cm
2
Áp suất thiết kế hơi 3,0 kgf/cm
2
Bình gia nhiệt hạ áp số 2 :
Kiểu
15,206500 −−−−ΠH
Bề mặt trao đổi nhiệt 500m
2
Áp suất thiết kế nước ngưng 25kgf/cm
2