đánh giá thực trạng hoạt động khuyến nông của trạm khuyến nông huyện hưng nguyên - tỉnh nghệ an trong giai đoạn 2004-2006 - Pdf 13

Phần 1: MỞ ĐẦU.
1.1. Đặt vấn đề.
Trong chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Việt Nam, nông nghiệp là
mối quan tâm thường xuyên trong chính sách của Đảng và Nhà nước. Nên đã có
nhiều chính sách vi mô và vĩ mô về nông nghiệp, do Nhà nước ban hành đã và
đang tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, trong đó nghị định số
13/CP về "Quy định công tác khuyến nông" ra ngày 02/03/1993 và thông tư liên
bộ 02/LBTT ra ngày 02/08/1993, về hướng dẫn thi hành nghị định 13/CP.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông dân luôn gắn liền với nông nghiệp,
là bộ phận cốt lõi và cũng là chủ thể trong quá trình phát triển nông thôn. Phát
triển nông thôn là cái đích của nhiều hoạt động khác nhau tác động vào nhiều
lĩnh vực khác nhau của nông thôn, trong đó khuyến nông là một tác nhân, một bộ
phận quan trọng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển nông thôn. Thông qua hoạt
động khuyến nông, nâng cao trình độ và tạo ra cơ hội cho nông dân trong cộng
đồng cùng chia sẽ, học hỏi kinh nghiệm, truyền bá thông tin kiến thức và giúp đỡ
lẫn nhau cùng phát triển cộng đồng địa phương.
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả của các
cơ quan nghiên cứu khoa học như viện, trường, trạm Những tiến bộ này cần
được nông dân chọn lựa, áp dụng vào sản xuất đề nâng cao năng suất lao động.
Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng thường có một khâu trung gian để
chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được. Ngược lại
những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như nhận xét, đánh giá về
kỹ thuật mới của nông dân cũng cần được phản hồi đến các nhà khoa học để họ
giải quyết cho sát thực tế. Trong những trường hợp này vai trò của khuyến nông
chính là cầu nối giữa khoa học với nông dân.
Ngoài những thành tựu mà công tác khuyến nông đem lại thì bên cạnh đó
còn tồn tại những hạn chế về mặt tổ chức cũng như quản lý, các tiến bộ kỹ thuật
còn nặng đưa từ trên xuống, chưa hợp với hoàn cảnh, điều kiện tự kinh tế xã hội,
1
tập quán và đáp ứng đúng nhu cầu của người dân, chưa gắn chặt việc chuyển
giao KHKT với tiêu thụ sản phẩm.

chủ trương nguyên tắc gắn liền nhà trường với thực tiễn.
Năm 1661 giáo sư người Anh là Hartlib đã viết một cuốn sách về "Sự tiến
bộ của nghề nông". Sau đó các chương trình giảng dạy trong các trường nông
nghiệp đã được đổi mới mang tính chất thực nghiệm và ứng dụng rõ rệt.
Năm 1723 tổ chức hiệp hội "Tăng cường hiểu biết về nông nghiệp" đầu tiên
được thành lập ở Pháp năm 1761, ở Đức năm 1764, ở Nga năm 1765 Những
hiệp hội này đã đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển Khuyến nông sau
này.
Năm 1777, giáo sư người Thuỵ Sĩ là Heinrich Pastalozzi thấy rằng muốn
mở mang nhanh chóng nền nông nghiệp giúp người dân nghèo cải thiện được
cuộc sống trở nên giàu có thì phải đào tạo được chính con em họ có trình độ học
vấn và nắm được tiến bộ kỹ thuật.
Năm 1806, ông Philip Emanel người Thuỵ Sĩ đã tự bỏ tiền ra xây dựng 2
trường nông nghiệp thực hành tại Hofwyl. Và sau này nó đã ảnh hưởng rất lớn
đối với nội dung và phương pháp giáo dục đào tạo cán bộ nông nghiệp ở các
nước Châu Âu và cả Bắc Mỹ.
Biểu hiện rõ nét nhất của hoạt động mang tính chất Khuyến nông trong thời
kỳ này phải kể đến hoạt động của Uỷ ban Nông nghiệp của Hội đồng thành phố
New York (Hoa Kỳ) năm 1843 Uỷ ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở
3
các trường Đại học Nông nghiệp và các Viện nghiên cứu thường xuyên xuống cơ
sở để hướng dẫn, phổ biến khoa học kỹ thuật mới giúp đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp ở các vùng nông thôn.
Năm 1853, Edward Hitchcock của trường Đại học Amherst, là một thành
viên của Uỷ ban Nông nghiệp bang Massachusetts đã đề nghị thành lập "Học
viện nông dân". Ông được coi là nhà tiên phong về giáo dục Khuyến nông ở Mỹ,
có nhiều đóng góp tích cực thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Mỹ.
Đến năm 1907, 42 trường Đại học ở 39 bang của Mỹ đã tham gia vào hoạt
động theo phương pháp này và có nhiều trường Đại học ở nhiều nước cũng đã
thành lập bộ môn Khuyến nông.

có chất lượng. Hệ thống khuyến nông ở Thái Lan hoạt động rất có hiệu quả, và
có mạng lưới Khuyến nông tới tận làng, xã. Với tinh thần theo sát người nông
dân nên các tiến bộ KHKT áp dụng vào sản xuất hầu hết là thành công.
Đã đưa Thái Lan trở thành một trong những nước xuất khẩu nông nghiệp
hàng đầu thế giới, đặc biệt là xuất khẩu gạo. Đạt được kết quả này là nhờ sự quan
tâm đầu tư của Chính phủ cho công tác Khuyến nông từ trung ương đến địa
phương [5].
• Khuyến nông Indonesia
Thành lập năm 1955, hệ thống khuyến nông được tổ chức theo 4 cấp từ
trung ương đến cấp cơ sở:
Cấp Quốc gia: Do hội đồng khuyến nông quốc gia điều hành. Hội đồng
gồm có:
+ Tổng Giám đốc đào tạo và huấn luyện Khuyến nông làm Chủ tịch. Thư
ký của Cục BIMAS là phó chủ tịch.
Các vị Giám đốc các ngành trong ban Tổng giám đốc.
Các vị Viện trưởng thuộc các viện nghiên cứu nông nghiệp và các ông
Giám đốc các đơn vị khác có liên quan đến Khuyến nông trong Bộ Nông nghiệp
là uỷ viên.
5
Cấp tỉnh: Việc điều hành công tác Khuyến nông do Diễn đàn Khuyến
nông cấp I, cấp này gồm có:
+ Giám đốc nông nghiệp tỉnh làm chủ tịch.
+ Thư ký của BIMAS tỉnh là thư ký Khuyến nông.
+ Trưởng các cơ quan dịch vụ nông nghiệp tỉnh, các cơ quan kỹ thuật
của tỉnh là các thành viên.
Cấp huyện: Công tác Khuyến nông do Diễn đàn Khuyến nông cấp II
điều hành gồm có:
+ Chủ tịch do huyện chọn một trong các trưởng cơ quan dich vụ nông
nghiệp huyện.
+ Thư ký của BIMAS huyện là thư ký Khuyến nông.

nông, nhờ làm tốt công tác khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã có những
bước phát triển nhảy vọt. Đặc biệt là đang dẫn đầu thế giới về 3 lĩnh vực: lúa lai,
chẩn đoán thú y và nuôi trồng thuỷ sản [5].
2.1.2. Tình hình hoạt động khuyến nông của các nước trên thế giới.
Nguồn nhân lực khuyến nông trên thế giới
Khuyến nông trên thế giới được hình thành từ 4 tổ chức cơ bản sau:
- Các Hiệp hội nông dân
- Các tổ chức khác ở nông dân
- Các trường học
- Các tổ chức nông nghiệp Phi Chính phủ
Sự phát triển của khuyến nông trên thế giới (theo Tiến sĩ Tyzama - Nhật
Bản - chuyên gia khuyến nông của FAO):
Năm 1700 : Có 1 nước
Năm 1800 : Có thêm 7 nước
Năm 1900-1910 : Có thêm 6 nước
Năm 1910-1920 : Có thêm 6 nước
Năm 1920-1930 : Có thêm 8 nước
Đến năm 1990 có tất cả là 199 nước có tổ chức khuyến nông.
7
Đến năm 1993 có thêm Việt Nam, tổng cộng là 200 nước chính thức có tổ
chức Khuyến nông Quốc gia.
Số lượng cán bộ Khuyến nông (trong biên chế Nhà nước) trên thế giới
mới ước tính khoảng 600.000 người. Trong đó riêng khu vực Châu Á chiếm
khoảng 70%.
Số cán bộ Khuyến nông trên thế giới (theo Tiến sĩ Tyzama) được chia ra
làm 3 loại như sau:
- Số cán bộ khuyến nông hành chính chiếm : 7,7%.
- Số cán bộ khuyến nông chuyên đề chiếm : 14,1%
- Số cán bộ Khuyến nông cơ sở chiếm : 78,2%
Như vậy, trên thế số cán bộ Khuyến nông cơ sở chiếm tỷ lệ nhiều nhất.

chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở nhiều nước (Chamber và Ghidyal
1985). Những điều kiện ở các trung tâm nghiên cứu, các trạm thực nghiệm
không thể phản ánh được những điều kiện đồng ruộng thực tế của nông dân,
không thể tính đầy đủ sự khác nhau về nguồn lực, lao động, đất đai và thị trường
[3].
Tuy vậy, phương thức này vẫn còn khá ngự trị trong chương trình nghiên
cứu nông nghiệp ở các nước.
2.2.1.2. Phương thức chuyển giao công nghệ ứng dụng (Adoptive Technology
Transfer - ATT)
Phương thức này còn được gọi là mô hình chuyển giao công nghệ cải biên
(Daniel, 1997). Phương thức này khác với TOT ở chỗ yêu cầu về tính địa
phương của công nghệ được nhận diện, ứng xử của nông dân cũng được chú ý
tới. Trong chuyển giao công nghệ, người ta đã chú ý tới điều kiện địa phương,
các ràng buộc về kinh tế và xã hội để nông dân tiếp thu công nghệ mới. Phương
thức này khá phổ biến những giai đoạn thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ 20. Đặc
trưng nhất của phương thức chuyển giao này là hệ thống đào tạo và gặp gỡ nông
dân (Training and visit system - TV) (Benor, Harison, Baxter, 1984; Frank,
9
1992, Daniel, 1997). Theo phương thức này, thông tin phản hồi của nông dân tới
các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp được truyển chủ yếu qua hệ thống khuyến
nông phản ánh lại. Thông tin từ các viện nghiện cứu không trực tiếp tới nông dân
mà lại qua hệ thống khuyến nông. Vì thế, công nghệ được phát triển ở các viện
nghiên cứu vẫn chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của nông dân. Các công nghệ
được xây dựng trong các điều kiện lý tưởng (ruộng đất tốt và được tưới).
Do những lý do trên, phương pháp tiếp cận chuyển giao công nghệ ứng
dụng là ít hiệu quả, không góp phần giải quyết các vân đề của nông dân sản xuất
nhỏ. Với những nông dân sản xuất nhỏ, có tài nguyên nghèo sản xuất trong
những điều kiện sinh thái nông nghiệp hết sức đa dạng, với hệ thống cây trồng
vật nuôi phức tạp, thiếu thị trường đầu vào thì hệ thống trên không phù hợp
(Chamber và Jiggins, 1987) [3].

2.3.1. Lịch sử hình thành, phát triển của Khuyến nông ở Việt Nam
2.3.1.1. Thời kỳ sản xuất theo kiểu truyền thống
- Khuyến nông có những bước tiến mới, con người đã có ý thức hơn về việc
tích luỹ các kinh nghiệm sản xuất và truyền đạt cho nhau qua những câu ca dao,
tục ngữ. Đây là thời kỳ nông dân truyền đạt cho nông dân đặc trưng nhất.
- Thời nhà Đinh
Ở thời kỳ này công tác nông nghiệp được quan tâm hơn, những người cầm
đầu nhà nước cũng rất chú trọng đến việc phát triển nông nghiệp. Hàng năm vua
Lê Hoàn đã tự mình xuống cày đường cày đầu tiên cho mỗi vụ sản xuất.
- Thời nhà Trần
Dưới thời nhà vua Trần (1225-1400) có 23 lần nhà vua hoạch định chính
sách Khuyến nông cho nông dân. Năm 1226 dưới thời nhà Trần lập ra các chức
quan: Hà đê sứ, đồn điền sứ, Khuyến nông sứ là quan chuyên lo, khuyến khích
phát triển sản xuất nông nghiệp. Những công trình thuỷ lợi dẫn thuỷ nhập điền
của Nguyễn Công Trứ cũng là sự thực thi của công tác Khuyến nông.
- Tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ Tịch ra chỉ thị "Phải làm tốt công tác khuyến
nông". Sau cải cách ruộng đất các tổ đổi công, HTX ra đời đã hình thành các tổ
11
kỹ thuật để chọn giống, bảo vệ thực vật. Các tổ kỹ thuật này thực chất là tổ
Khuyến nông.
- Năm 1960 ở miền Nam (thời Mỹ Nguỵ) đã thành lập "Nha Khuyến nông"
trực thuộc Bộ Nông nghiệp cải cách điền địa Nông ngư mục.
- Năm 1961-1964 Bộ Nông nghiệp có chủ trương thành lập các đoàn chỉ
đạo sản xuất, đưa các sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở để xây dựng mô
hình, mở lớp tập huấn cho các cán bộ chủ chốt ở địa phương. Như vậy trong giai
đoạn này công tác Khuyến nông được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, các
hình thức, phương pháp Khuyến nông được hình thành và phát triển.
2.3.1.2. Thời kỳ nông nghiệp hiện đại
Với cách tổ chức HTX nông nghiệp theo kiểu cũ trong thời gian dài làm cho
nông nghiệp trì trệ, đời sống nông dân ngày càng khó khăn. Trước tình hình đó

Khuyến lâm còn có văn phòng đại diện ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Ở cấp tỉnh, thành phố: Thành lập Trung tâm Khuyến nông, và trực thuộc Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp. Có nhiệm vụ xây dựng và chỉ đạo thực
hiện các chương trình Khuyến nông, Khuyến lâm của tỉnh và Trung ương.
Ở cấp huyện, thị xã: thành lập Trạm Khuyến nông, Khuyến lâm.
Ở cấp xã: Theo Thông tư Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT - Ban Tổ chức
Cán bộ Chính phủ số 07 ngày 24/4/1996, mỗi xã có một uỷ viên UBND xã theo
dõi sản xuất và làm công tác Khuyến nông, Khuyến Lâm, bảo vệ cây trồng, vật
nuôi
Trong thời gian ngắn được thành lập, đội ngũ cán bộ khuyến nông đã
trưởng thành kể cả về số lượng và chất lượng. Đến nay, cả nước đã có 61 Trung
tâm khuyến nông (100% số tỉnh), với 468 trạm khuyến nông huyện (76% số
huyện) với tổng số 2.162 cán bộ, nhân viên. Khuyến nông cơ sở đã hình thành tại
5.861 xã (58% số xã) với số lượng gần 6.000 khuyến nông viên. Đã có khoảng
3.000 câu lạc bộ khuyến nông hoạt động cùng với hàng nghìn HTX nông nghiệp
làm dịch vụ khuyến nông.
13
Thời gian qua, hệ thống tổ chức khuyến nông đã phát triển sâu rộng từ
Trung ương đến địa phương, lực lượng khuyến nông phát triển mạnh mẽ ở các
cấp, chất lượng cán bộ khuyến nông ngày càng được củng cố và tăng cường,
năng lực và phương pháp khuyến nông ngày càng được cải tiến để phù hợp với
quá trình phát triển của xã hội [1].
2.3.2. Tình hình hoạt động khuyến nông ở Việt Nam
2.3.2.1. Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn
Đây là hoạt động khuyến nông quan trọng và được tập trung nhiều trong
thời gian qua, đó là khuyến nông về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Nội dung
chính là xây dựng các mô hình trình diễn trên đồng ruộng, chuồng trại, rừng tự
nhiên, Nhằm đưa các tiến bộ kỹ thuật đến với người dân, đã thu hút trên 80.000
hộ nông dân tham gia xây dựng khoảng 2.500 mô hình các loại.
Trong nhiều năm qua đã xây dựng được các mô hình trình diễn như:

- Chương trình khuyến nông cải tạo đàn bò vàng – phát triển chăn nuôi bò
sữa
Nhằm tạo sự thay đổi chất lượng và số lượng đàn bò Việt Nam, tăng thu
nhập cho người chăn nuôi, góp phần xoá đói, giảm nghèo là một trong những
chương trình có hiệu quả và được nông dân hưởng ứng. Chương trình đã thu hút
trên 532.000 hộ của gần 55 tỉnh tham gia, trong đó có 27 tỉnh trọng điểm với
kinh phí hỗ trợ trên 200 tỷ đồng.
Các giống bò Red Sindhi, Sahiwal đã được lai với bò vàng Việt Nam để
nâng trọng lượng bò cái từ 170 kg/con lên 220 – 250 kg/con, nâng cao năng suất
sữa từ 400 – 500 kg lên 1200 kg/con/chu kỳ vắt sữa.
- Chương trình nạc hoá đàn lợn
Đã thu hút trên 12.000 hộ tham gia ở 30 tỉnh, thành phố, với kinh phí hỗ
trợ cho chương trình khuyến nông chăn nuôi lợn hướng nạc là 31,7 tỷ đồng.
Chương trình đã góp phần nâng cao chất lượng đàn lợn giống, cung cấp giống
15
lợn lai cho người dân. Đến năm 2006 đàn lợn cả nước đạt trên 28,7 triệu con,
trong đó đàn lợn thịt 24 triệu con, đàn lợn nái 4,7 triệu con, trong đó đàn lợn nái
ngoại tăng nhanh. Nhờ đưa các giống lợn cao sản có năng suất cao như
Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain,… vào các mô hình nên đã góp phần cải
tạo các giống lợn hiện có, đưa tỷ lệ nạc lên 45 – 47%.
Chương trình có tác dụng khuyến khích người chăn nuôi tham gia đầu tư,
phát triển chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp tập trung, quy mô lớn, áp dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi [1].
2.3.2.2. Hoạt động tập huấn, đào tạo
Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác hoạt động
khuyến nông, nó đáp ứng được 2 yêu cầu là giải quyết được những khó khăn,
vướng mắc trong sản xuất và bồi dưỡng kiến thức cho nông dân. Trong gần 9
năm hoạt động, đã tổ chức được 100.000 lớp tập huấn kỹ thuật cho 5,5 triệu lượt
người tham gia với các nội dung: nghiệp vụ công tác khuyến nông, tập huấn kỹ
thuật, tập huấn nghề mới… Thông qua huấn luyện, dào tạo đã có hàng vạn nông

ấn 40 loại tài liệu với tổng số 300.000 bản, mua 20 loại báo, tạp chí, sách kỹ
thuật với số lượng khoảng 200.000 số. Tổ chức 500 cuộc hội thảo chuyên đề cho
25.000 lượt nông dân tham dự, trong đó trồng trọt 60%, chăn nuôi 20%, thuỷ sản
– lâm nghiệp 29% [1].
2.3.2.3. Hợp tác về khuyến nông
Trong những năm qua, chương trình khuyến nông Trung ương và địa
phương đã liên kết, phối hợp với 36 cơ quan nghiên cứu, trường học, 5 tổ chức
đoàn thể và 40 công ty triển khai chương trình khuyến nông chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật đến nông dân. Các đơn vị này là nguồn cung cấp tiến bộ kỹ thuật mới, là
lực lượng cán bộ làm công tác khuyến nông có nhiều kinh nghiệm, nhiều chương
trình khuyến nông được áp dụng rộng rãi vào sản xuất như: kỹ thuật sản xuất hạt
giống lúa lai F1 đạt năng suất cao, đưa nhanh các giống lúa ngắn ngày có chất
lượng cao phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, chương trình phát triển cây ăn quả, kỹ
thuật chăn nuôi lợn nạc,…
17
Ngoài ra Trung tâm hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả với các tổ chức quốc
tế đặc biệt là dự án cải tạo đàn bò do Ngân hang Thế giới tài trợ triển khai từ
năm 1997 – 2001. Chưưong trình hỗ trợ ngành nông nghiệp - hợp phần chăn
nuôi gia súc nhỏ do Đan Mạch tài trợ thực hiện từ năm 2001 – 2006.
Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm Quốc gia còn tranh thủ các nguồn
tài trợ quốc tế, những năm qua Trung tâm đã cử nhiều đoàn cán bộ đi tham quan,
học tập tại nước ngoài. Trung tâm đã phối hợp tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo
Quốc tế tại Việt Nam nhằm trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực và hiệu quả
của công tác khuyến nông ở nước ta [1].
2.4. Lịch sử ra đời, phát triển và tình hình hoạt động của Trung tâm
Khuyến nông - Khuyến lâm (TTKN - KL) tỉnh Nghệ An
2.4.1. Lịch sử hình thành và phát triển của TTKN - KL tỉnh Nghệ An
TTKN tỉnh Nghệ An được thành lập ngày 11/09/1993, theo quyết định số
1862/QĐ-UB của UBND tỉnh Nghệ An. Ngày 20/02/1995, UBND tỉnh ban hành
Quyết định số 321/QĐ-UB về việc thành lập Trung tâm khuyến lâm. Ngày

huyện khác.
- Mô hình trồng cỏ thâm canh: nhằm cung cấp nguồn thực ăn cho chăn nuôi
bò vỗ béo, ban đầu với quy mô 5ha kinh phí hỗ trợ là 3,5 triệu đồng. Nay diện
tích trồng cỏ nuôi bò đã lên đến 15ha [4].
2.4.2.2. Công tác đào tạo, huấn luyện
Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác hoạt động
khuyến nông, nhằm đáp ứng được 2 yêu cầu là giải quyết được những khó khăn,
vướng mắc trong sản xuất và bồi dưỡng kiến thức cho nông dân. Và nhằm nâng
cao chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ khuyến nông.
Trong 5 năm từ 2002 - 2006 nhờ sự hỗ trợ của dự án PTNT, các cán bộ
khuyến nông đã tập huấn về kỹ thuật sản xuất lúa nông hộ cho gần 20.000 hộ
dân. Ngoài ra, còn tập huấn cho nông dân về các kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và 1.200 cán bộ khuyến nông cấp huyện, xã, thôn(xóm) về nghiệp vụ
khuyến nông. Nhờ được tập huấn kỹ thuật nên kiến thức về khoa học kỹ thuật
19
của nông dân được nâng cao rõ rệt, nhiều nông dân đã áp dụng thành công các
TBKT vào sản xuất [4].
2.4.2.3. Công tác thông tin tuyên truyền
Nhằm chuyển tải những tiến bộ kỹ thuật mới đến nông dân, nhiều thông tin
được phát triển trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua thu nhận các thông
tin về kỹ thuật và kinh nghiệm trong sản xuất, các nông dân có thể tự triển khai
và áp dụng vào sản xuất và đã trở thành người bạn đồng hành của nông dân tham
gia vào việc thực hiện chương trình khuyến nông.
Trong những năm qua TTKN - KL tỉnh Nghệ An đã phối hợp với đài truyền
hình tổ chức phát sóng chuyên mục nông nghiệp vào tối thứ 3 hàng tuần, với thời
lượng phát sóng 30 phút. TTKN - KL đã phối hợp với các tổ chức, đoàn thể như:
Đoàn Thanh niên, Hội nông dân tổ chức hội thi tôn vinh nông dân sản xuất và
kinh doanh giỏi, nhà nông đùa tài, hội thi chăn nuôi giỏi Những chương trình
này đã giúp người nông dân nắm bắt kịp thời các thông tin về kỹ thuật sản xuất,
và trao đổi thông tin về kinh nghiệm sản xuất của mình cho đông đảo các nông

- Phỏng vấn bán cấu trúc theo phiếu khảo sát 30 hộ theo quy trình chọn hộ
ngẫu nhiên, mỗi thôn 10 hộ bao gồm hộ khá, trung bình và nghèo. Hộ điều tra là
những hộ làm nông nghiệp.
Tiến trình:
Đầu tiên là tiếp xúc với cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện và cán bộ khuyến
nông của Trạm Khuyến nông huyện để thu thập các thông tin thứ cấp sau đó là
21
cán bộ khuyến nông xã. Tiếp theo là tiến hành điều tra các cán bộ khuyến nông
huyện, xã và các hộ dân ở xã nghiên cứu.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức và quản lý của hệ thống khuyến nông
huyện Hưng Nguyên.
- Đánh giá tình hình và hiệu quả hoạt động khuyến nông của Trạm khuyến
nông huyện Hưng Nguyên.
- Đánh giá các phương pháp khuyến nông và hiệu quả của các phương pháp
khuyến nông mà cán bộ khuyến nông đang sử dụng.
- Xác định những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống khuyến nông huyện
Hưng Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác khuyến
nông ở huyện Hưng Nguyên.
3.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.
- Hệ thống cơ cấu tổ chức, quản lý và chính sách của Trạm khuyến nông.
- Chỉ tiêu về các hoạt động khuyến nông:
+ Hoạt động xây dựng mô hình, số mô hình/năm, số hộ tham gia mô
hình.
+ Nội dung tập huấn, số đợt tập huấn, số lần tập huấn bình quân/năm/hộ.
+ Số buổi hội thảo đầu bờ trung bình/năm, số người tham gia hội thảo
trung bình/năm.
+ Tỷ lệ số hộ tham gia và áp dụng vào các hoạt động.

yếu kém, hiện nay còn khoảng 40% số huyện chưa có trạm khuyến nông và hơn
40% số xã chưa có CBKN cơ sở. Cách quản lý chưa thống nhất, năng lực CBKN
còn bất cập, nhất là CBKN cơ sở, vì không những họ cần có sự hiểu biết về kỹ
thuật mà còn cần có sự hiểu biết sâu rộng về kinh tế, xã hội.
Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác khuyến nông ở nước
ta. Để hạn chế và khắc phục những tồn tại này, chúng ta cần phải thường xuyên
23
tiến hành đánh giá công tác khuyến nông để rút ra những bài học thành công và
thất bại. Nhằm xây dựng và hoàn thiện tổ chức khuyến nông, trong đó đặc biệt
chú trọng đến khuyến nông cấp huyện và khuyến nông cơ sở.
24
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tình hình cơ bản của huyện Hưng Nguyên
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Hưng Nguyên là huyện đồng bằng của tỉnh Nghệ An.
Phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh
Phía Đông giáp Thành phố Vinh
Phía Tây giáp huyện Nam Đàn
Nhìn chung vị trí địa lý của huyện có nhiều thuận tiện trong việc giao lưu
phát triển kinh tế - xã hội. Đó là giáp với thành phố Vinh, mặt khác huyện lại có
mạng lưới giao thông thuận tiện, các con đường đã được nâng cấp và liên kết với
nhau tạo thành một mạng lưới giao thông rất thuận lợi trong việc đi lại và giao
lưu với bên ngoài.
1.1.2. Điều kiện đất đai thổ nhưỡng
Với tổng diện tích tự nhiên của Huyện Hưng Nguyên là 16.398,5ha. Trong
đó, diện tích nông nghiệp là 9.416,74ha, đất phi nông nghiệp là 4.547,67ha, đất
chưa sử dụng là 2.434,16ha.
Địa hình Hưng Nguyên có nét đặc trưng là dốc nghiêng từ Tây sang Đông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status