Báo cáo Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp về dự án Luật Đất đai (sửa đổi) - Pdf 13

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Số: 189/BC-BTNMT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2012
BÁO CÁO
Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp
về dự án Luật Đất đai (sửa đổi)
Kính gửi: Chính phủ
Thực hiện Nghị quyết số 48/2010/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2010 của
Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011, Nghị quyết số
07/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 của Quốc hội về Chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh năm 2012 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh năm 2011; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương nghiên cứu, chuẩn bị Dự án Luật Đất
đai (sửa đổi).
Ngày 30 tháng 8 năm 2012, Bộ Tư pháp đã có ý kiến thẩm định Dự án Luật
Đất đai (sửa đổi) tại Công văn số 7057/BTP-PLDSKT. Về cơ bản, Bộ Tư pháp
nhất trí với nội dung của dự thảo Luật, đồng thời có ý kiến góp ý cụ thể về một số
nội dung và kỹ thuật soạn thảo.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu tiếp thu và chỉnh sửa vào dự
thảo Luật các ý kiến góp ý về nội dung và kỹ thuật soạn thảo văn bản. Tuy nhiên,
có một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau, Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo
giải trình, tiếp thu như sau:
I. Về hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản
Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan soạn thảo cần bổ sung vào hồ sơ dự án Luật
các tài liệu theo quy định tại Điều 35 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật năm 2008.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu ý kiến và hoàn chỉnh hồ sơ dự án
Luật theo đúng quy định.
II. Về nội dung dự án Luật

dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII. Do vậy, nếu Luật Đất đai (sửa đổi)
lần này không quy định việc đăng ký đất đai như ý kiến của Bộ Tư pháp sẽ tạo ra
khoảng trống của pháp luật về đăng ký đất đai, dẫn đến tình trạng Nhà nước sẽ
không kiểm soát được việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất, cũng như quyền của người sử dụng đất không được bảo đảm thực hiện.
Vì những lý do nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị được giữ
nguyên như dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã quy định.
1.2. Về vấn đề công chứng các giao dịch, hợp đồng chuyển quyền sử dụng
đất
Bộ Tư pháp cho rằng dự thảo Luật cần bổ sung quy định có tính nguyên tắc
khi người sử dụng đất thực hiện các quyền phải thông qua hình thức nào, tránh
quy định chung chung để sau khi Luật được ban hành, Chính phủ có cơ sở để quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Bộ Tư pháp đề nghị:
- Bổ sung thêm 1 khoản sau khoản 1 Điều 149 của dự thảo Luật:
"2. Người sử dụng đất thực hiện các quyền theo quy định tại khoản 1 Điều
này thông qua hợp đồng. Hợp đồng thế chấp; chuyển nhượng; tặng cho; góp vốn
bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; mua bán,
2
đổi, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng nhà ở phải công chứng. Hợp đồng cho thuê
quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; chuyển đổi quyền
sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện công chứng hoặc chứng thực theo nhu cầu
của các bên tham gia".
- Bổ sung thêm 1 điểm vào khoản 1 Điều 176 của dự thảo Luật quy định về
"Thủ tục công chứng, chứng thực hợp đồng" để phù hợp với đề nghị bổ sung khoản
1 Điều 149 của Dự thảo.
Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường giải trình như sau:
- Tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02 tháng 6 năm 2010 và Nghị quyết số
52/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục
hành chính (khoản 6 và khoản 28 mục I Phần 1 của Phụ lục kèm theo Nghị quyết)
đã yêu cầu bãi bỏ quy định bắt buộc công chứng, chứng thực hợp đồng về quyền

a) Về đấu giá quyền sử dụng đất quy định khoản 3 Điều 53, khoản 2 Điều
102 và khoản 2 Điều 170 của Dự thảo
Bộ Tư pháp cho rằng quyền sử dụng đất là một loại tài sản được bán đấu giá
theo quy định của pháp luật. Do vậy, khi thực hiện bán đấu giá thì phải tuân theo
quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Theo đó, tổ chức bán đấu giá tài sản
chuyên nghiệp chỉ bao gồm Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh
nghiệp bán đấu giá tài sản.
Về vấn đề này, Bộ Tài nguyên và Môi trường giải trình như sau:
- Đất đai là loại tài sản đặc biệt, khác với các tài sản thông thường khác:
người sở hữu tài sản thông thường có thể không sử dụng tài sản hoặc có thể hủy
bỏ tài sản mà không bị pháp luật truy cứu trách nhiệm, nhưng đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho
người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê, công nhận quyền sử
dụng đất; người sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch,
theo quy định của pháp luật; trường hợp không sử dụng đất, hủy hoại đất thì Nhà
nước thu hồi đất. Do đó, việc đấu giá quyền sử dụng đất phải đáp ứng với yêu cầu
quản lý nhà nước đối với đất đai và phải theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Tại Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Văn phòng
Chính phủ thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp
đánh giá kết quả thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009
của Chính phủ đã nêu: trường hợp Tổ chức phát triển quỹ đất có đủ điều kiện theo
quy định của pháp luật đấu giá thì được thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất.
- Tại Kết luận số 22-KL/TW cũng đã khẳng định: Nhà nước chủ động thu
hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch và đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất nhằm
phát huy tốt nguồn lực từ đất đai phục vụ phát triển đất nước. Thể chế hóa chủ
trương này, cần quy định theo hướng Nhà nước thực hiện thu hồi đất, bồi thường,
giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất "sạch", đầu tư phát triển hạ tầng để đấu giá
quyền sử dụng đất, đồng thời phải xã hội hoá công tác đấu giá quyền sử dụng đất
và trao quyền đấu giá quyền sử dụng đất cho tổ chức có đủ điều kiện theo quy
định của Luật này khi giao đất, cho thuê đất.

tư để phát triển kinh tế nên vấn đề năng lực tài chính của chủ đầu tư không xem
xét kỹ khi thành lập doanh nghiệp, hình thành dự án đầu tư mà Nhà nước tăng
cường kiểm tra, giám sát khi thực hiện dự án ("hậu kiểm"). Vấn đề "hậu kiểm"
trong lĩnh vực đất đai đối với các dự án đầu tư đã được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất đã được quy định trong pháp luật đất đai, trong đó thu hồi đất là biện
pháp hành chính quan trọng. Vì vậy, việc quy định trong dự thảo Luật là phù hợp
với pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp.
- Khi dự án đầu tư chậm đưa đất vào sử dụng có nhiều giải pháp để khắc
phục như cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép gia hạn nếu việc chậm sử
dụng đất có lý do chính đáng; chủ đầu tư tìm chủ đầu tư mới có đủ năng lực thay
thế tiếp tục thực hiện dự án thông qua hình thức bán tài sản gắn liền với đất,
chuyển nhượng dự án, góp vốn để liên doanh liên kết; chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, bán bán tài sản gắn liền với đất cho Nhà nước; Nhà nước thu hồi đất chỉ
là giải pháp cuối cùng. Vì vậy, quy định trong dự thảo Luật không làm hạn chế
quyền của chủ đầu tư mà còn có tác dụng răn đe, ngăn chặn các chủ đầu tư phải
tính toán kỹ trước khi quyết định đầu tư, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm.
- Quy định như dự thảo Luật sẽ khắc phục vướng mắc hiện nay tại địa
phương không thực hiện được việc thu hồi đất do pháp luật đất đai quy định không
bồi thường về đất nhưng phải hoàn trả giá trị còn lại của tài sản thuộc sở hữu của
chủ đầu tư.
2.2. Về trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án phát triển
kinh tế, xã hội (mục 1 Chương V Dự thảo)
Bộ Tư pháp cho rằng Điều 53 dự thảo Luật cần quy định rõ các trường hợp
nào thì Nhà nước thu hồi cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội, trong trường
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status