PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
PHẦN 2:TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Hợp đồng 4
2.1.1.1 Khái niệm hợp đồng 4
2.1.1.4 Các loại hợp đồng 5
2.1.2 Vị trí kinh tế của cây sắn 7
2.1.2.1 Giá trị sử dụng 7
2.1.2.2 Thành phần dinh dưỡng 8
2.1.2.3 Lợi ích của nghề sắn 8
2.2 Cơ sở thực tiễn 9
2.2.1 Tên gọi, mô tả, phân loại 9
2.2.2 Nguồn gốc, vùng phân bố và lịch sử phát triển: 9
2.2.2.1 Nguồn gốc 9
2.2.2.2 Vùng phân bố: 10
2.2.2.3 Lịch sử phát triển 10
2.2.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới 10
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam 13
PHẦN 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Nội dung nghiên cứu 18
3.2 Đối tượng nghiên cứu 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1 Chọn điểm 18
3.3.2 Chọn mẫu khảo sát 18
3.4 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu 19
3.5 Phương pháp phân tích thông tin dữ liệu 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Điều kiện tự nhiên của vùng nguyên liệu sắn Thanh Chương 20
4.1.1 Vị trí địa lý 20
sắn 44
4.5.2.2 Tình hình thực hiện hợp đồng 44
4.6 Đặc điểm của thị trường bán sản phẩm của nông hộ 45
4.7 Những lợi ích, hạn chế và bất cập trong hợp đồng 46
4.7.1 Những lợi ích của việc bán sản phẩm và sản xuất theo hợp đồng 46
4.7.1.1 Lợi ích đối với nông dân 46
4.7.1.2 Lợi ích đối với nhà máy 47
4.7.2 Những hạn chế và bất cập trong hợp đồng 48
4.7.2.1 Những hạn chế và bất cập cho người nông dân 48
4.7.2.2 Những hạn chế và bất cập cho nhà máy 48
4.7.2.3 Những hạn chế, bất cập đối với người thu gom nhỏ 48
4.8 Một số giải pháp giúp hợp đồng sản xuất sắn có hiệu quả hơn 49
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo 52
Danh mục các từ viết tắt
SL Số lượng.
TL Tỷ lệ.
ĐVT Đơn vị tính.
HSXTHĐ Hộ sản xuất theo hợp đồng.
HKSXTHĐ Hộ không sản xuất theo hợp đồng
4
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sản xuất nông nghiệp gắn với tiêu thụ sản phẩm làm ra luôn là thách
thức và là mối quan tâm lo lắng của chính phủ các quốc gia trên thế giới. Bởi
lẽ sản phẩm nông nghiệp do các hộ nông dân, phần lớn thuộc các đối tượng
nghèo trong xã hội làm ra, nếu không được tiêu thụ tốt và có lợi cho họ thì thu
nhập và đời sống của họ sẽ bị ảnh hưởng xấu. Ở Việt Nam trong quá trình tiêu
sản xuất đủ lúa để ăn, cây sắn đã từ vai trò là một loại cây lương thực dùng để
cứu đói đã chuyển thành một loại cây công nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao.
Trước đây do trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế người dân chỉ trồng sắn trên
một diện tích nhỏ. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người
dân đã phát triển hoạt động trồng sắn trên diện rộng và cây sắn đã cho năng
suất cao. Thực hiện quyết định 80 của thủ tướng chính phủ nhà máy chế biến
tinh bột sắn Thanh Chương đã ký kết hợp đồng sản xuất sắn với người nông
dân.
Để hiểu rõ hơn về quá trình hoạt động của hợp đồng chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ hợp đồng trong hoạt động sản
xuất sắn ở vùng nguyên liệu của nhà máy chế biến tinh bột sắn Thanh
Chương”
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm sản xuất sắn và các hợp đồng trong sản xuất sắn của
nông hộ.
- Tìm hiểu những lợi ích hợp đồng mang lại cho nông dân
- Tìm hiểu những hạn chế và bất cập trong hợp đồng.
3
PHẦN 2:TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Hợp đồng
2.1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng là một cam kết thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân)
để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng
thường gắn liền với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực
hiện dự án hay một phần dự án cho mình. Và cũng giống như dự án, có dự án
phát triển và dự án sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân
sự về kinh tế (hợp đồng kinh tế) hay xã hội.
Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng miệng có thể có người
2.1.1.4 Các loại hợp đồng
* Hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao
đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ nhất định. Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng dân sự được
hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự (theo Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005).
Hợp đồng dân sự là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch
chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau [2].
* Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và doanh
nghiệp sử dụng lao động, thuê mướn lao động (gọi chung là người sử dụng
lao động) về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện
sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
trong quan hệ lao động.
- Hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận nhất thiết phải có các nội dung
chủ yếu sau đây: công việc phải làm, tiền công (tiền lương), nơi làm việc, thời
5
hạn hợp đồng, những điều kiện theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ
sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.
- Tiền công (tiền lương) trả cho người lao động không được thấp hơn mức
lương tối thiểu do nhà nước quy định.
- Hợp đồng lao động được giao kết theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình
đẳng không trái với pháp luật và thoả ước lao động tập thể ở những nơi có ký
kết thoả ước lao động tập thể.
- Hợp đồng lao động được giao kết bằng văn bản hoặc bằng miệng:
+ Hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản phải được làm thành 2 bản,
mỗi bên giữ một bản;
+ Hợp đồng lao động được giao kết bằng miệng thì các bên đương nhiên phải
ba yếu tố trên [3].
2.1.2 Vị trí kinh tế của cây sắn
2.1.2.1 Giá trị sử dụng
Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức
ăn gia súc và lương thực thực phẩm. Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột,
sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi. Từ sắn củ tươi hoặc từ các
sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột
ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính
(hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân
châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm. Củ sắn cũng là nguồn
nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc. Thân sắn dùng để làm giống,
nguyên liệu cho công nghiệp xenlulo, làm nấm, làm củi đun. Lá sắn non dùng
làm rau xanh giàu đạm. Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá. Bột lá sắn
hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,… Hiện tại, sản phẩm sắn
ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế
(P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991) [8].
7
2.1.2.2 Thành phần dinh dưỡng
Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38-40%, tinh bột 16-32%, giàu vitamin
C, calcium, vitamin B và các chất khoáng, nghèo chất béo, muối khoáng,
vitamin và nghèo đạm. Trong củ sắn, hàm lượng các acid amin không đươc
cân đối, thừa arginin nhưng lại thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Thành
phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau khi
trồng và kỹ thuật phân tích. Lá sắn có hàm lượng đạm khá cao, nhiều chất bột,
chất khoáng và vitamin. Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủ các acid amin cần
thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin. Trong lá sắn ngoài các chất dinh
dưỡng, cũng chứa một lượng độc tố [HCN] đáng kể. Các giống sắn ngọt có
80-110 mg HCN/ 1kg lá tươi. Các giống sắn đắng chứa 160-240 mg HCN/
1kg lá tươi. Lá sắn ngọt là một loại rau rất bổ dưỡng nhưng cần chú ý luộc kỹ
để làm giảm hàm lượng HCN. Lá sắn đắng không nên luộc ăn mà nên muối
1976) và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993). Trung tâm
phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazin thuộc lưu
vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De
Candolle 1886; Rogers, 1965). Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico ở
Trung Mỹ và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ. Bằng chứng về nguồn gốc
sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước
Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm
trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía
Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh
bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến
năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965) [4].
9
2.2.2.2 Vùng phân bố:
Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, tập
trung nhiều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm của hơn 500
triệu người (CIAT, 1993) [4].
2.2.2.3 Lịch sử phát triển
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế
kỷ 16. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm 1558.
Ở châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G. Rajendran et
al, 1995) và SriLanka đầu thế kỹ 18 (W.M.S.M Bandara và M Sikurajapathy,
1992). Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myamar và các nước châu Á
khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping 1992. U Thun Than
1992).
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm
Văn Biên, Hoàng Kim, 1991). Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và
năm trồng đầu tiên. Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt
Nam từ Bắc đến Nam. Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ,
vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển nam Trung
Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ [4].
đất nghèo và dùng kỹ thuật canh tác truyền thống. Mức tiêu thụ sắn bình quân
toàn thế giới khoảng 18 kg/người/năm. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu
dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế
biến công nghiệp 3%, hao hụt 11 %), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất
khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Nhu cầu sắn
làm thức ăn gia súc trên toàn cầu đang giữ mức độ ổn định trong năm 2006
(FAO, 2007). Sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực ở châu Phi,
bình quân khoảng 96 kg/người/năm. Zaire là nước sử dụng sắn nhiếu nhất với
391 kg/người/năm (hoặc 1123 calori/ngày). Nhu cầu sắn làm lương thực chủ
yếu tại vùng Saharan châu Phi cả hai dạng củ tươi và sản phẩm chế biến ước
tính khoảng 115 triệu tấn, tăng hơn năm 2005 khoảng 1 triệu tấn.
11
Buôn bán sắn trên thế giới năm 2006 ước đạt 6,9 triệu tấn sản phẩm,
tăng 11% so với năm 2005 (6,2 triệu tấn), giảm 14,8% so với năm 2004 (8,1
triệu tấn). Trong đó tinh bột sắn (starch) và bột sắn (flour) chiếm 3,5 triệu tấn,
sắn lát (chips) và sắn viên (pellets) 3,4 triệu tấn. Trung Quốc hiện là nước
nhập khẩu sắn nhiều nhất thế giới để làm cồn sinh học (bio ethanol), tinh bột
biến tính (modify starch), thức ăn gia súc và dùng trong công nghiệp thực
phẩm dược liệu. Địa điểm chính tại tỉnh Quảng Tây. Năm 2005, Trung Quốc
đã nhập khẩu 1,03 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,03 triệu tấn sắn lát, sắn viên.
Năm 2006, Trung Quốc đã nhập khẩu 1,15 triệu tấn tinh bột, bột sắn và 3,40
triệu tấn sắn lát và sắn viên. Thái Lan chiếm trên 85% lượng xuất khẩu sắn
toàn cầu, kế đến là Indonesia và Việt Nam. Thị trường xuất khẩu sắn chủ yếu
của Thái Lan là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và cộng đồng châu Âu với
tỷ trọng xuất khẩu sắn khoảng 40% bột và tinh bột sắn, 25% là sắn lát và sắn
viên (TTTA, 2006; FAO, 2007).
Năm 2006 được coi là năm có giá sắn cao đối với cả bột, tinh bột và
sắn lát. Việc xuất khẩu sắn làm thức ăn gia súc sang các nước cộng đồng châu
Âu hiện đã giảm sút nhưng giá sắn năm 2006 vẫn được duy trì ở mức cao do
có thị trường lớn tại Trung Quốc và Nhật Bản (FAO, 2007)
1997 164,30 9,84 1,62
1998 275,60 7,50 2,06
1999 254,40 9,45 2,40
2000 235,50 7,55 1,77
2001 226,80 7,96 1,80
2002 234,90 8,66 2,03
2003 250,00 8,30 2,07
2004 329,90 12,6 4,15
2005 371,70 14,06 5,23
2006 370,00 14,49 5,36
2007 425,50 15,78 6,72
2008 474,80 16,25 7,77
2009 496,80 16,07 7,98
2010 557,40 16,85 9,3
Nguồn: Trần Công Khanh tổng hợp từ Niên giám thống kê qua các năm
13
Ở Việt Nam, trước đây sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan
trọng sau lúa và ngô. Hiện nay cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương
thực thành cây công nghiệp với tốc độ cao, năng suất và sản lượng sắn đã
tăng nhanh ở thập kỷ đầu của thế kỷ XXI. Năm 2005, cây sắn có diện tích thu
hoạch 432 nghìn ha, năng suất 15,35 tấn/ha, sản lượng 6,6 triệu tấn, so với
cây lúa có diện tích 7.326 ha, năng suất 4,88 tấn/ha, sản lượng 35,8 triệu tấn,
cây ngô có diện tích 995 ha, năng suất 3,51 tấn/ha, sản lượng gần một triệu
tấn (FAO, 2007). Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân
nghèo do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện
kinh tế nông hộ (Hoàng Kim và Phạm Văn Biên, 1997).Nghiên cứu và phát
triển cây sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn là việc
làm có hiệu quả cao (Hoàng Kim và Trần Công Khanh, 2005), đây là hướng
hỗ trợ chính cho việc thực hiện Đề án “Phát triển nhiên liệu sinh học đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2025” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Bảng 2. Diện tích sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền
Trung (168,80 ngàn ha). Tây Nguyên là vùng sản xuất sắn lớn thứ hai của cả
nước, tập trung chủ yếu ở bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông.
Năm 2008, diện tích sắn của Tây Nguyên đạt 150.100 ha, nhưng năng suất
bình quân chỉ đạt 15,7 tấn/ha, tổng sản lượng 2,35 triệu tấn, thấp hơn rất
nhiều so với năng suất và sản lượng sắn của vùng Đông Nam Bộ (23,74
tấn/ha và 2,69 triệu tấn) (Tổng cục thống kê, 2009).
Về thời tiết, Ðông Nam Bộ và Tây Nguyên có sự phân biệt mùa mưa và
mùa khô rất rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 và kết thúc vào cuối tháng
10 hàng năm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 04 năm sau. Do đặc
điểm thời tiết của Vùng Đông Nam Bộ và Tây nguyên gần giống nhau nên
lịch thời vụ trồng sắn của cả hai vùng sinh thái nói trên cũng được bố trí
tương tự:
- Thời vụ chính (khoảng 70% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng tư đến
cuối tháng năm, thu hoạch từ đầu tháng một đến cuối tháng ba năm sau.
- Thời vụ phụ (khoảng 30% diện tích), sắn được trồng từ giữa tháng 8 đến
giữa tháng 9, thu hoạch từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10 năm sau. Sắn trồng
ở thời vụ cuối mùa mưa có hàm lương tinh bột thấp hơn so với thời vụ trồng
đầu mùa mưa. Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia
súc (22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi.Sắn
cũng là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Sắn là
nguyên liệu chính để chế biến bột ngọt, bio- ethanol, mì ăn liền, bánh kẹo,
siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học và
chất giữ ẩm cho đất. Toàn quốc hiện có trên 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn
với tổng công suất khoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến
sắn thủ công rải rác tại hầu hết các tỉnh trồng sắn. Việt Nam hiện sản xuất mỗi
15
năm khoảng 800.000 – 1.200.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất
khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước. Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam
chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn.
PHẦN 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên của vùng nguyên liệu sắn Thanh Chương.
- Điều kiện kinh tế-xã hội của vùng nguyên liệu sắn Thanh Ngọc.
- Đặc điểm sản xuất sắn của nông hộ và các hợp đồng đầu vào của họ trong
sản xuất.
- Đặc điểm bán sản phẩm và hợp đồng bán sản phẩm của nông hộ.
- Thị trường và tính ổn định của thị trường của hợp đồng bán sản phẩm.
- Những hạn chế và bất cập trong hợp đồng.
- Những lợi ích của việc bán sản phẩm và sản xuất theo hợp đồng.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những hộ trồng sắn tại xã Thanh Ngọc, huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm
- Chọn điểm nghiên cứu phải mang tính đại diện cho mục tiêu của đề tài.
- Tiêu chí chọn điểm:
+ Điểm nghiên cứu phải có hoạt động sản xuất sắn.
+ Điểm nghiên cứu phải có các hợp đồng đầu vào, hợp đồng bán sản phẩm.
Căn cứ vào đối tượng cần khảo sát chúng tôi tiến hành chọn điểm điều tra tại
các hộ trồng sắn xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
3.3.2 Chọn mẫu khảo sát
- Khảo sát 45 hộ trực tiếp tham gia nghề trồng sắn trong đó có 30 hộ có hợp
đồng sản xuất và 15 hộ không có hợp đồng (chọn ngẫu nhiên từ các hộ tham
gia trồng sắn tại địa phương)
- Khảo sát 3 cơ sở kinh doanh đầu vào, 5 hộ thu gom địa phương, và nhà máy
chế biến tinh bột sắn Thanh Chương.
18
3.4 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
- Thu thập các dữ liệu thứ cấp qua các tài liệu liên quan như tài liệu thống kê,
- Phía tây giáp huyện Anh Sơn và tỉnh Bôlykhămxay nước Cộng Hòa Dân
Chủ Nhân Dân Lào.
- Phía Đông giáp huyện Nam Đàn.
Trung tâm huyện là Thị Trấn Dùng cách trung tâm thành phố Vinh 45km.
4.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Huyện Thanh Chương có tổng diện tích đất tự nhiên là 112.886,78 ha
trừ 1.134,23 ha núi đá không có rừng cây, quỹ đất còn lại là 111.732,55 ha.
Núi sông, khe suối xen kẽ với đồng ruộng. Ngoài đất phù sa màu mỡ ven
sông Lam và sông Giăng, còn lại là ruộng bậc thang, bạc màu thường bị xói
mòn và một số chân ruộng hóc chua, lầy thụt.
Trong tài liệu điều tra thổ nhưỡng, Thanh Chương có 7 nhóm đất sau đây:
- Đất phù sa 14.274 ha, trong đó đất cát ven sông 40 ha, đất phù sa được bồi
hàng năm 1.809 ha, đất phù sa không được bồi 8.802 ha, đất phù sa lầy úng
439 ha, đất phù sa cổ 3.160 ha, đất bạc màu 744 ha.
- Đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ và lũy tích: 2.449 ha.
- Đất lúa vùng đồi núi: 5.417 ha, trong đó đất feralit biến đổi do trồng lúa
nước: 2.730 ha, đất dốc tụ: 2.687 ha.
- Đất feralit đỏ vàng vùng đồi: 32.535 ha, trong đó đất feralit vàng đỏ phát
triển trên đá phiến sét: 30.445 ha, feralit phát triển trên đá phiến kết: 2.090 ha.
- Đất feralit xói mòn trơ sỏi đá: 12.289 ha
20
- Đất feralit đỏ vàng vùng núi thấp: 39.063 ha, trong đó đất feralit đỏ vàng
phát triển trên đá phiến sét: 26.183 ha, đất feralit vàng xám phát triển trên đá
cát kết 12.830 ha.
- Đất feralit vàng trên núi: 8.936 ha.
Địa hình huyện Thanh Chương phức tạp và bị chia cắt mạnh bởi sông suối và
đồi núi, dốc dần từ tây nam sang đông bắc. Núi đồi Thanh Chương điệp trùng,
nhiều tầng, nhiều lớp: rừng sâu, núi cao, đồi thấp. Ngoài dãy Giăng Màn có
độ cao 1000m, mái đông của dãy Trường Sơn như bức bình phong của 1 phần
đất nước là các đỉnh cao như Thác Muối, Đại Can, Tháp Bút, Hoằng Bảng,