thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy chế biến tinh bột khoai mỳ Bình Dương - Pdf 32

Mở đầu
MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoai mì có tên khoa học là Manigot esculent a krantz là cây lương thực nhiệt
đới, được trồng nhiều ở những nước có khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Hiện nay,
khoai mì được trồng đại trà ở các vùng nhiệt đới như Indonesia, Philippines, Malaysia,
Thailand, Châu Phi và Brazil. Sản lượng mỗi hecta trồng khoai mì vào khoảng 10 – 40
tấn tuỳ thuộc vào điều kiện sống và phát triển của cây. Theo báo cáo thu thập được thì
khoai mì chứa trung bình 18% hàm lượng tinh bột.
Chế biến khoai mì đã được phổ biến ở nước ta từ thế kỷ 16. Những năm gần
đây, do yêu cầu phát triển của ngành chăn nuôi và ngành chế biến thực phẩm từ khoai
mì gia tăng. Sản lượng khoai mì hằng năm đạt khoảng 3 triệu tấn. Theo Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo sản lượng chế biến tinh bột khoai mì vào năm
2010 của nước ta đạt 600.000 tấn sản phẩm. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế mới là
điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự phát triển sản xuất. Vì sản xuất càng nhiều thì
lượng chất thải càng lớn. Ước tính trung bình hằng năm gần đây ngành chế biến tinh
bột khoai mì (bao gồm nhà máy chế biến và hộ gia đình) đã thải ra môi trường
500.000 tấn thải bã và 15 triệu m
3
nước thải. Thành phần của các loại chất thải này
chủ yếu là các hợp chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng khi thải ra môi trường _ trong
điều kiện khí hậu của nước ta- nhanh chóng bò phân hủy gây ô nhiễm nghiêm trọng
đến môi trường đất, nước, không khí, ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng
dân cư trong khu vực.
Hiện nay, ở một số nhà máy chế biến tinh bột nồng độ COD trong nước thải
lên đến 13.000 mg/l, vượt gấp trăm lần so với chỉ tiêu cho phép. Điều này cho thấy
ngành tinh bột đang đứng trước nhu cầu phải phát triển nhưng môi trường khu vực hiện
tại và tương lai lại phải đứng trước nguy cơ gánh chòu hậu quả do chất thải tinh bột
mang lại. Trong phạm vi hẹp, em chọn đề tài “ Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà
máy chế biến tinh bột khoai mì Bình Dương” với mong muốn góp phần vào phát triển
bền vững ngành chế biến tinh bột khoai mì.

1.1.1 Nguyên liệu sản xuất
1.1.1.1. Phân loại khoai mì
- Dựa theo đặc điểm thực vật của cây (xanh tía, lá 5 cánh, lá 7 cánh).
- Dựa theo đặc điểm củ (khoai mì trắng hay khoai mì vàng).
- Dựa theo hàm lượng độc tố có trong khoai mì (khoai mì đắng hay khoai mì
ngọt, … ). Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến :
 Khoai mì đắng (M. Utilissima) có hàm lượng HCN hơn 50 mg/kg củ. Giống này
thường có lá 7 cánh, cây thấp và nhỏ.
 Khoai mì ngọt (M. Dulcis) có hàm lượng HCN dưới 50 mg/kg củ. Giống này
thường có 5 lá cánh, mũi mác, cây cao, thân to.
1.1.1.2. Cấu trúc nguyên liệu
Củ khoai mì thường có dạng hình trụ, nhỏ dần ở hai đầu (cuống và đuôi). Kích
thước củ tùy thuộc vào chất đất và điều kiện trồng mà dao động trong khoảng: dài từ
300 – 400 mm, đường kính từ 2 – 10 cm. Cấu tạo gồm 4 phần chính:
- Vỏ gỗ: là phần bao ngoài của củ, gồm những tế bào xếp sít, thành phần chủ yếu
là cellulose và hemi cellulose, không có tinh bột, giữ vai trò bảo vệ củ khỏi tác động
bên ngoài. Vỏ gỗ mỏng, chiếm khoảng 0,5 – 5% trọng lượng củ, do vỏ gỗ thường kết
dính với các thành phần khác như: cát, đất, sạn và các chất hữu cơ khác nên khi chế
biến cần phải tách càng sạch càng tốt.
- Vỏ cùi: dày hơn vỏ gỗ nhiều, chiếm khoảng 5 – 20% trọng lượng củ. Cấu tạo
gồm các lớp tế bào thành dày, thành tế bào chủ yếu là cellulose, bên trong tế bào là
các hạt tinh bột, các chất chứa nitrogen và dòch bào. Trong dòch bào có tanin, sắc tố,
độc tố, các enzyme … Vì vỏ cùi nhiều tinh bột (5 – 8%) nên khi chế biến nếu tách đi
thì tổn thất tinh bột trong củ, nếu không tách thì nhiều chất dòch bào làm ảnh hưởng
đến màu sắc của tinh bột.
- 3 -
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
- Thòt củ khoai mì: là thành phần chủ yếu trong củ, bao gồm các tế bào nhu mô
thành mỏng với thành phần chủ yếu là cellulose, pentosan. Bên trong tế bào là các hạt

HCN
Pentosan
Các loại Polysaccharide
10,8 – 11,4
28 – 38
8,2 – 11,2
0,85 – 1,12
1 – 1,45
1 – 1,4
vết
vết
6,6 – 10,2
12,5 – 13
51,8 – 63
12,8 – 14,5
1,5 – 2
0,58 – 0,65
0,37 – 0,43
0,008 – 0,009
1,95 – 2,4
4 – 8,492
- 4 -
(Hội thảo giảm thiểu ô nhiễm trong công nghiệp chế biến tinh bột Hà Nội, 1/98)
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
Đường trong củ khoai mì chủ yếu là glucose và một ít maltose. Khoai càng già
thì hàm lượng đường càng giảm. Trong chế biến, đường hòa tan trong nước thải thải ra
ngoài theo nước dòch.
Chất đạm trong khoai mì cho đến nay vẫn chưa được nguyên cứu kỹ, tuy nhiên
do hàm lượng thấp nên ít ảnh hưởng đến công nghệ sản xuất.

phẩm. Một số nước Châu Phi có số dân khoảng 200 triệu người dùng khoai mì làm
lương thực chính.
- Khoai mì có thể ăn tươi hoặc chế biến dạng lát, phơi khô, bột khô hoặc tinh
bột. Khi dùng khoai mì làm lương thực phải bổ sung thêm nhiều protein và chất béo
mới đáp ứng đủ nhu cầu của con người và gia súc.
- 5 -
Củ khoai mì
tươi
Lọc
Sấy khô
Hơi nóng
Tinh bột
Gọt vỏ
p bã
Rửa Băm nghiền
Đóng gói Quạt hút
Lắng ly tâm
Băng
tải
Băng
tải
Làm nguội
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
- Tinh bột khoai mì dùng làm nguyên liệu trong sản xuất, chế biến các sản
phẩm bánh kẹo, mạch nha, đường glucoza, bột ngọt hay các thực phẩm dưới dạng tinh
bột qua chế biến như bún, miến, …
1.1.2. Một số dây chuyền công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì hiện nay
1.1.2.1. Nhà máy sản xuất tinh bột Phước Long – Xã Bù Nho – Huyện Phước Long –
Tỉnh Bình Phước

Nươc thải bỏ
Lọc Tháo mủ
Lắng

Bột tốt
Bột mủ
Phơi
Bột xấu
Tinh bột
Phơi
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
Hình 1.3: Sơ đồ công nghệ chế biến tinh bột khoai mì kiểu Thái Lan
- 8 -
Tinh bột ướt
Quậy, pha loãng
Tách tạp chất
Quậy
Ly tâm
Tẩy chua, tẩy trắng
Làm nguội
Đóng gói
Sấy khô
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
1.1.2.4. Các cơ sở thủ công và tiểu thủ công nghiệp
 Các cơ sở thủ công
Hình 1.4: Sơ đồ công nghệ chế biến tinh bột khoai mì của cơ sở thủ công
- 9 -
Rủa củ

Xay
(máy mì)
Vỏ củ mì
Bột mì
Lớp trên bể lắng
Lắng lần 1
Nước thải
Chà
(đánh bộ
t)
Nước
Xác mì
Nước
Nước thải
Lắng lần 2Bột

Lớp bột lắng
- làm phân hữu cơ
- làm thức ăn cho trâu, bò
- phơi, làm thức
gia súc

ăn gia súc
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
1.1.3. Nhận xét
Tùy theo từng mục đích, sản phẩm mỗi nhà máy, mỗi cơ sở sản xuất có công
nghệ sản xuất phù hợp. Nhìn chung, thành phần tính chất nước thải vẫn không thay đổi
nhiều, chỉ khác nhau về lưu lượng và nồng độ. Những nhà máy áp dụng công nghệ sản
xuất sạch thì mức độ ô nhiễm ít hơn và giảm nhẹ việc xử lý. Các cơ sở thủ cở các làng

lượng không đáng kể.
- 11 -
Chương 1 Tồng quan về công nghệ sản xuât và tác động của ngành công nghiệp chế biến tinh
bột khoai mì đến môi trường
* Tác động :
Độ pH thấp :
Độ pH của nước thải quá thấp sẽ làm mất khả năng tự làm sạch của nguồn
nước tiếp nhận do các loại vi sinh vật có tự nhiên trong nước bò kìm hãm phát triển.
Ngoài ra, khi nước thải có tính axít sẽ có tính ăn mòn, làm mất cân bằng trao đổi chất
tế bào, ức chế sự phát triển bình thường của quá trình sống.
Hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học cao :
Nước thải chế biến tinh bột có hàm lượng chất hữu cơ cao, khi xả vào nguồn
nước sẽ làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước do vi sinh vật sử dụng ôxy hòa
tan để phân hủy các chất hữu cơ. Nồng độ oxy hòa tan dưới 50% bão hòa có khả năng
gây ảnh hưởng tới sự phát triển của tôm, cá. Oxy hòa tan giảm không chỉ gây suy
thoái tài nguyên thủy sản mà còn làm giảm khả năng tự làm sạch của nguồn nước,
dẫn đến giảm chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp.
Hàm lượng chất lơ lửng cao :
Các chất rắn lơ lửng làm cho nước đục hoặc có màu, không những làm mất vẻ
mỹ quan mà quan trọng nó hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây
ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu... giảm quá trình trao đổi oxy và
truyền sáng, dẫn nước đến tình trạng kỵ khí. Mặt khác một phần cặn lắng xuống đáy
gây bồi lắng lòng sông, cản trở sự lưu thông nước và tàu bè đồng thời thực hiện quá
trình phân hủy kỵ khí giải phóng ra mùi hôi thối gây ô nhiễm cho khu vực xung quanh.
Hàm lượng chất dinh dưỡng cao :
Nồng độ các chất nitơ, photpho cao gây ra hiện tượng phát triển bùng nổ các loài
tảo, đến mức độ giới hạn tảo sẽ bò chết và phân hủy gây nên hiện tượng thiếu oxy.
Nếu nồng độ oxy giảm tới 0 gây ra hiện tượng thủy vực chết ảnh hưởng tới chất lượng
nước của thủy vực. Ngoài ra, các loài tảo nổi trên mặt nước tạo thành lớp màng khiến
cho bên dưới không có ánh sáng. Quá trình quang hợp của các thực vật tầng dưới bò

H
17
O
6
N + H
2
O C
6
H
12
O
6
+ (CH
3
)
2
+ HCN
Linamarin Glucose Aceton Axit hydrocyanic
Liều có hại đối với người lớn là 20 mg HCN. Liều gây chết người là 1 mg
HCN/1kg thể trọng. Sau khi ăn vài giờ, có thể xuất hiện các hiện tượng ngộ độc như
đau bụng, ói mửa, mất sự kiểm soát cơ bắp, hôn mê, co giật.
Tùy thuộc vào giống mì, điều kiện đất đai, phương thức canh tác, thời gian thu
hoạch, hàm lượng HCN có khác nhau :
- Thời tiết, điều kiện đất cũng ảnh hưởng đến hàm lượng HCN : hạn nhiều, đất
rừng mới khai thác, hàm lượng HCN thường tăng. Đất bón đạm nhiều sẽ làm tăng
HCN, nhưng nếu bón Kali hoặc phân chuồng sẽ làm cho hàm lượng HCN sẽ giảm.
- Trong cây mì non 3 ÷ 6 tháng tuổi, HCN ít hơn trong củ nhưng nhiều trong lá.
Trong cây mì 11÷18 tháng tuổi, hàm lượng HCN sẽ tăng trong củ và giảm bớt trong lá.
Các ảnh hưởng khác :
- Trong quá trình sản xuất, bã từ giai đoạn lọc được chất thành đống. Các đống

bột khoai mì thành phẩm. Lò hơi sử dụng có công suất 1,2 tấn/h. Nhiên liệu sử dụng là
dầu FO với đònh mức tiêu thụ vào năm hoạt động ổn đònh là : 97,5 lít/h
* Tải lượng ô nhiễm :
Bảng 1.4 : Tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải đốt dầu FO
Chất
ô nhiễm
Tải lượng
ô nhiễm
(g/s)
Nồng độ
ô nhiễm
(mg/m
3
)
TCVN
6993-2001
(mg/m
3
)
TCVN
5939-1995
(mg/m
3
)
Bụi 0,116 178 - 400
SO
2
1,602 2465 360 -
NO
X

3
)
TCVN
6993-2001
(mg/m
3
)
TCVN
5939-1995
(mg/m
3
)
Bụi 0,002 8,7 - 400
SO
2
0,12 521 360 -
NO
X
0,017 74 720
CO 0,004 17 360
Nhận xét : Nồng độ các chất ô nhiễm khi đốt dầu DO (Bụi, CO, NO
2
) đều đạt
tiêu chuẩn cho phép, riêng nồng độ SO
2
cao hơn tiêu chuẩn cho phép một ít, tuy nhiên
mức độ này không đáng kể. Mặt khác, máy phát điện chỉ hoạt động trong trường hợp
mất điện, chế độ hoạt động không liên tục. Do vậy có thể nói ô nhiễm do khí thải đốt
dầu vận hành máy phát điện xem như không đáng kể.
1.2.3.3. Ô nhiễm do khí độc từ buồng đốt lưu huỳnh

độ ô nhiễm của nhà máy. Cụ thể như sau :Bảng 1.6 : Nồng độ bụi tại một vài nhà máy
chế biến tinh bột khoai mì
(Nguồn : ECO – Tổng hợp từ các báo cáo ĐTM)
Tiêu chuẩn nồng độ bụi cho phép tại nơi sản xuất: 6 mg/m
3

(Bộ y tế, 505
BYT/QĐ, 1992)
1.2.3.5. Ô nhiễm do tiếng ồn, rung
Tiếng ồn có khả năng phát sinh tại một công đoạn như : rửa củ, giã, nghiền, ly
tâm, từ hoạt động của các băng tải liệu,… Ngoài ra, tiếng ồn còn phát sinh do hoạt
động của các phương tiện giao thông vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm, phát sinh
do hoạt động của máy phát điện.
Bảng 1.7 : Độ ồn trong phân xưởng của một vài nhà máy có loại hình sản xuất tương
tự.
Vò trí đo Nhà máy chế biến tinh
bột khoai mì Tân Châu
– Tây Ninh
Cơ sở sản xuất tinh bột
khoai mì Phong Phú
– Đồng Nai
Công đoạn rửa củ 70 dbA 68 dbA
Công đoạn băm, nghiền, mài 79 dbA -
Công đoạn tách tạp chất - 79 dbA
Công đoạn vô bao 72 dbA -
(Nguồn : ECO - Tổng hợp từ các báo cáo ĐTM)
Tiêu chuẩn tiếng ồn cho phép tại nơi sản xuất là 90dBA
- 17 -
Vò trí đo Nhà máy chế biến tinh
bột khoai mì Tân Châu

2.1.1. Hồ sinh học
Ưu điểm: diện tích chiếm nhỏ hơn cánh đồng lọc, có thể nuôi trồng thủy sản,
cung cấp nước cho trồng trọt, chi phí thấp, vận hành và bảo trì đơn giản.
Các quá trình diễn ra trong hồ sinh học tương tự như quá trình tự rửa sạch ở
sông hồ nhưng tốc độ nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Quá trình hoạt động trong các hồ sinh học dựa trên quan hệ cộng sinh của toàn
bộ quần thể sinh vật có trong hồ tạo ra. Trong số các chất hữu cơ đưa vào hồ các chất
không tan sẽ bò lắng xuống đáy hồ còn các chất tan sẽ được hòa loãng trong nước.
Dưới đáy hồ sẽ diễn ra quá trình phân giải yếm khí các hợp chất hữu cơ, sau đó thành
NH
3
, H
2
S, CH
4
. Trên vùng yếm khí và vùng yếm khí tùy tiện và hiếu khí với khu hệ vi
sinh rất phong phú gồm các giống Pseudomonas, Bacillus, Flavobacterium,
Achromobacter, . . . vi sinh vật phân giải chất hữu cơ thành nhiều chất trung gian khác
nhau và cuối cùng là CO
2
, đồng thời tạo ra các tế bào mới,
- 18 -
Chương 2 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải khoai mì
2.1.2. Hồ hiếu khí
Có diện thích rộng, chiều sâu cạn. Chất hữu cơ trong nước thải được xử lý chủ
yếu nhờ sự cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn sống ở dạng lơ lửng. Oxy cung cấp cho vi
khuẩn nhờ sự khếch tán qua bề mặt và quang hợp của tảo. Chất dinh dưỡng và CO
2
sinh ra trong quá trình phân hủy chất hữu cơ được tảo sử dụng. Hồ hiếu khí có 2 dạng:
(1) có mục đích là tối ưu sản lượng tảo, hồ này có chiều sâu cạn khoảng 0,15 – 0,45

km để xây dựng hồ. Tải trọng thiết kế khoảng 220 – 560 kgBOD
5
/ha ngày.
- 19 -
Chương 2 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải khoai mì
2.2. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SINH HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO
2.2.1. Điều kiện hiếu khí
2.2.1.1. Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng
 Bể Aerotank thông thường
Đòi hỏi chế độ dòng chảy nút, khi đó chiều dài bể rất lớn so với chiều rộng.
Nước thải vào có thể phân bố nhiều điểm theo chiều dài, bùn hoạt tính tuần hoàn đưa
vào đầu bể. Ở chế độ dòng chảy nút, bông bùn có đặc tính tốt hơn, dễ lắng. Tốc độ
sục khí giảm dần theo chiều dài bể. Quá trình phân hủy nội bào xảy ra ở cuối bể. Tải
trọng thích hợp vào khoảng 0,3 – 0,6 kgBOD
5
/m
3
.ngày với hàm lượng MLSS 1.500 –
3.000 mg/l, thời gian lưu nước từ 4–8 giờ, tỷ số F/M = 0,2 – 0,4; thời gian lưu bùn từ 5
– 15 ngày.
 Bể Aerotank xáo trộn hoàn toàn
Đòi hỏi chọn hình dạng bể, trang thiết bò sục khí thích hợp. Thiết bò sục khí cơ
khí (motour và cánh khuấy) hoặc thiết bò khếch tán khí thường được sử dụng. Bể này
thường có dạng hình tròn hoặc hình vuông, hàm lượng bùn hoạt tính và nhu cầu oxy
đồng nhất trong toàn bộ thể tích bể.
Ưu điểm: chòu được quá tải rất tốt. METCALF and EDDY (1991) đưa ra tải
trọng thiết kế khoảng 0,8 – 2,0 kgBOD
5
/m
3

phao nổi. Pha chờ (idle): thời gian chờ để nạp mẻ mới. Pha này có thể bỏ qua.
Ưu điểm: hiệu quả khử Nitơ, Phospho cao; tiết kiệm diện tích đất xây dựng vì
không cần xây dựng bể điều hòa, bể lắng I và lắng II; có thể kiểm soát hoạt động và
thay đổi thời gian giữa các pha nhờ bộ điều khiển PLC; pha lắng được thực hiện trong
điều kiện tónh hoàn toàn nên hiệu quả lắng tốt.
Khuyết điểm: chi phí của hệ thống cao, người vận hành phải có kỹ năng tốt, đạt
được hiệu quả xử lý cao khi lưu lượng nhỏ hơn 500m
3
/ngày đêm.
2.2.1.2. Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng dính bám
 Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học chứa đầy vật liệu tiếp xúc, là giá thể cho vi sinh vật sống bám.
Vật liệu tiếp xúc thường là nhựa hoặc đá. Nước thải được phân bố điều trên mặt lớp
vật liệu bằng hệ thống quay hoặc vòi phun. Quần thể vi sinh vật sống bám trên giá thể
tạo nên màng nhầy sinh học có khả năng hấp phụ và phân hủy chất hữu cơ chứa trong
nước thải. Quần thể vi sinh vật này có thể bao gồm vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí và tùy
tiện. Lớp ngoài cùng của màng nhầy dày khoảng 0,1 – 0,2 mm là vi sinh vật hiếu khí.
Khi vi sinh vật phát triển chiều dày lớp màng ngày càng tăng, vi sinh vật lớp ngoài
tiêu thụ hết lượng oxy khếch tán trước khi oxy thấm vào bên trong. Vì vậy, gần sát bề
mặt giá thể môi trường kỵ khí hình thành.
Hệ thống thu nước đặt dưới đáy bể và có cấu trúc rổ để tạo điều kiện không
khí lưu thông trong bể. Sau khi ra khỏi bể, nước thải vào bể lắng đợt hai để loại bỏ
- 21 -
Chương 2 Tổng quan về các phương pháp xử lý nước thải khoai mì
màng vi sinh tách khỏi giá thể. Nước sau xử lý có thể tuần hoàn để pha loãng nước
thải đầu vào đồng thời duy trì độ ẩm cho màng nhầy.
 Bể lọc sinh học tiếp xúc quay (RBC)
Bể lọc sinh học tiếp xúc quay (RBC – Rotating Biological Contactors) được áp
dụng đầu tiên ở CHLB Đức năm 1960 và hiện nay đã được sử dụng rộng rãi để xử lý
BOD và Nitrat hóa. RBC bao gồm các đóa tròn polystyren hoặc polyvinyl chloride đặt

nước thải, vận hành đơn giản, ít tốn năng lượng, thể tích của hệ thống xử lý nhỏ.
Khuyết điểm: thường hay bò tắc nghẽn, giá thành của vật liệu lọc khá cao, hàm
lượng cặn lơ lửng ra khỏi bể lớn, thời gian đưa công trình vào hoạt động dài.
 Bể lọc ngược qua tầng bùn kò khí UASB
Bể UASB không sử dụng vật liệu dính bám mà sử dụng lớp cặn (có chứa rất
nhiều VSV kò khí) luôn luôn tồn tại lơ lửng trong dung dòch lên men nhờ hệ thống
nước thải chảy từ dưới lên. Sau một thời gian hoạt động, trong hệ thống hình thành 3
lớp; phần bùn đặc ở đáy hệ thống, một lớp thảm bùn ở giữa hệ thống gồm những hạt
bùn kết bông và phần chứa biogas ở trên cùng. Nước thải được nạp vào từ dưới đáy hệ
thống, đi xuyên qua lớp bùn đặc và thảm bùn rồi đi lên trên và ra ngoài. Khi tiếp xúc
với những hạt bùn kết bông ở thảm bùn, vi khuẩn sẽ xử lý chất hữu cơ và chất rắn sẽ
được giữ lại. Các hạt bùn sẽ lắng xuống thảm bùn và đònh kì được xả ra ngoài.
Ưu điểm: hiệu quả xử lý cao, thời gian lưu nước trong bể ngắn, thu được khí CH
4
phục vụ cho nhu cầu về năng lượng, cấu tạo bể đơn giản, dễ vận hành, năng lượng
phục vụ vận hành bể ít.
Khuyết điểm: khó kiểm soát trạng thái và kích thước hạt bùn, các hạt bùn
thường không ổn đònh và rất dễ bò phá vỡ khi có sự thay đổi môi trường.
2.3. MỘT SỐ QUI TRÌNH XỬ LÝ NƯỚC THẢI TRONG CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
TINH BỘT KHOAI MÌ
Với các dây chuyền công nghệ sản xuất đã nêu ở chương 1, một số nhà máy đã
xây dựng hệ thống xử lý như sau:
2.3.1. Nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì Phước Long – xã Bù Nho – huyện Phước
Long – tỉnh Bình Phước
Nhà máy Phước Long có lưu lượng và thành phần nước thải như sau:
Q = 4.800 m
3
/ngày
pH = 4,5 – 6
Chất rắn lơ lửng = 1.500 – 2.000 mg/l


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status