thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển làng nghề truyền thống mộc mỹ nghệ mỹ xuyên - Pdf 13

PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thực trạng dư thừa lao động và thiếu việc làm ở nông thôn đang là một
trong những lực cản chính trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, phát triển
giáo dục, nâng cao dân trí và là nguyên nhân sâu xa phát sinh các vấn đề tiêu
cực. Để giải quyết vấn đề này một nội dung quan trọng phải nói đến đó là
khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống. Bởi vì, khôi phục và phát triển
ngành nghề truyền thống sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động
dư thừa trong nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn, tránh được luồng di cư ồ
ạt từ nông thôn vào thành phố, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế mở,
đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, tránh xa các tệ nạn xã hội
Nhìn vào thực trạng phát triển ngành nghề hiện nay của nước ta, chúng
ta có thể thấy có một số ngành nghề đã rất phát triển, đem lại thu nhập cao
cho người lao động (chủ yếu là những người nông dân) nhưng bên cạnh đó
cũng không ít những ngành nghề đã dần bị mai một. Giải pháp cho vấn đề
này, đó là chúng ta phải xây dựng một số làng nghề mới và phát triển làng
nghề truyền thống, đặc biệt là phải chú trọng tới các làng nghề truyền thống.
Vì những làng nghề truyền thống này đã có đầy đủ những điều kiện để phát
triển như tay nghề lao động cao, có kinh nghiệm lâu năm truyền từ đời nay
sang đời khác, đã có những công nghệ cơ bản cho sản xuất…Mà những làng
nghề mới không có được, có chăng cũng chỉ rất ít.
Làng Mỹ Xuyên, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền là một trong những
làng quê có truyền thống lịch sử lâu đời ở thừa thiên Huế. Nghề mộc mỹ
nghệ đã hình thành và gắn bó với người dân từ bao đời, từ nó cũng tạo ra
những gia trị văn hóa riêng đặc trưng cho nông thôn ở đây “vào đầu ngõ là
nghe tiếng lách cách của cái đục, cái ve, tiếng rộn ràng của máy cưa, máy
bào”. Và nghề mộc đã dần dần trở thành sinh sế của người dân ở làng quê
nơi đây, sản phẩm mộc mỹ nghệ Mỹ Xuyên ngày càng trở nên nổi tiếng
khắp nơi và nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây tình
hình sản xuất của người dân gặp nhiều khó khăn vướng mắc và trở nên bế
1

phong kiến nước ta gồm:
- Chính quyền phong kiến trung ương, gọi là triều đình, đứng đầu là
Vua (chúa) và dưới vua chúa có triều đại có tể tướng, có triều đại không và
lục bộ (bộ binh, bộ lĩnh, bộ hình, bộ hộ, bộ công và bộ lễ).
- Chính quyền địa phương có tỉnh (hoặc châu). Đứng đầu tỉnh là quan
tuần phủ
- Dưới tỉnh có phủ và huyện. Đứng đầu phủ có quan tri phủ và đứng
đầu huyện có quan tri huyện. Sở dĩ dưới tỉnh có đặt ra các phủ vì do điều
kiện giao thông vận tải khó khăn, nên trong một tỉnh chia ra một số phủ,
người đứng đầu huyện (tri huyện) ở địa phương được chọn gọi là tri phủ có
trách nhiệm giúp tuần phủ, theo dõi và giám sát một số phủ, cũng như
chuyển công văn giấy tờ từ tỉnh về huyện và ngược lại [9].
- Dưới huyện có các làng, đứng đầu làng có chức lý trưởng làm chức
năng quản lý nhà nước trong làng (quản lý đinh, điền, thu thuế, trật tự an
ninh). Đặc trưng cho mỗi làng đều có đình làng, với mấy chức năng sau:
+ Thờ cúng thần hoàng làng là người có công xây dựng làng hoặc
người có nhiều công với nước;
+ Trụ sở hành chính của làng - Đây là nơi hội họp xem xét những
vấn đề trọng đại của làng. Đặc biệt đây là nơi làng xem xét luận tội những
người vi phạm lệ làng (nhiều nơi gọi là hương ước hoặc hiện nay gọi
chung là luật ước). Tổ chức hội hè đình đám,… Tuỳ thuộc vào quy mô
của làng, dưới làng có thể chia ra một số thôn xóm.[9]
Để giúp cho tri phủ hoặc tri huyện quản lý đội ngũ lý trưởng tại từng
vùng, có thành lập chức danh chánh tổng và những làng chịu sự “giám sát”
3
của một vị chánh tổng gọi là Tổng. Như vậy, Tổng không phải là một đơn vị
hành chính mà chỉ là một cấp trung gian “thừa phái viên toàn quyền của chi
phủ”
Theo cuốn Việt Nam sử lược của học giả Trần Trọng Kim do NXB
Đà Nẵng ấn hành năm 2001, trang 195 có ghi “Trong thời kỳ Minh thuộc

liệu sẵn có. Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về
tay nghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự
chuyên môn hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi
như những loại hàng hoá. Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản
phẩm của địa phương đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được
xã hội chấp nhận. Chẳng hạn quê lụa Hà Tây có làng lụa Vạn Phúc nổi tiếng
cả trong và ngoài nước, hoặc nghề rèn ở Đa Sỹ…và Hà Tây nơi có nhiều
làng nghề nổi tiếng nên được thiên hạ đặt tên là “đất của trăm nghề”. Không
riêng Hà Tây mà hầu hết các địa phương trên cả nước ở làng quê nào ngoài
sản xuất nông nghiệp đều có làm thêm một vài nghề phụ. Song vấn đề quan
tâm ở đây là những hoạt động ngành nghề nào được gọi là nghề [9].
Theo quan điểm chung, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở
địa phương nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng
sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất,
hoặc hộ sản xuất đó lấy nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được
xem là có nghề [5].
2.1.1.3. Làng nghề
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn
năm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn
Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu
được cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ
chính [5].
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng
mây, tre, phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề
phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã
5
mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ
vào các vụ lúa. Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ
công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi

lượng của một vấn đề hiện tượng nào đó.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự
tăng thêm về quy mô, sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ của cơ cấu kinh tế
- xã hội [1].
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong
Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được
định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.[1]
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
“phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và
hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng
trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã
hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục
tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng
trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác
hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được
chất lượng môi trường sống [1].
*Phát triển làng nghề
Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
diễn ra cơ bản theo hướng làm cho nông nghiệp phát triển trên cơ sở những
phương thức lao động tiên tiến và hiện đại, năng suất lao động tăng nhanh, giá
trị kinh tế trên một đơn vị diện tích cũng như năng suất lao động cao. Bởi vậy,
7

làng nghề là một hướng đi phù hợp nhằm giải quyết lao động dôi dư trong
nông nghiệp, nông thôn mà không tạo ra căng thẳng về tình trạng di cư ồ ạt
8
vào các thành phố lớn tìm việc làm, trên cơ sở thực hiện: “Rời ruộng - không
rời làng”. Làng nghề lại là nơi có nhiều lợi thế trong việc khai thác thị trường
tại chỗ về công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, nhất là góp phần trực tiếp vào
việc cải thiện phương tiện lao động tại các địa phương. Như vậy, phát triển
làng nghề không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội
của các địa phương, các làng, xã có nghề, mà còn có ý nghĩa đối với quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn.
2.1.2. Đặc điểm chung về làng nghề truyền thống Việt Nam.
2.1.2.1. Tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn sau đó các
ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn,
sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng
nghề đan xen lẫn nhau. Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người
nông dân [5].
2.1.2.2. Công nghệ thô sơ lạc hậu
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công
nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. Nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ
thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù
hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song
cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số
công đoạn trong sản xuất sản phẩm.[5]
2.1.2.3. Nguyên vật liệu thường là tại chỗ
Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn
có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương. Cũng có
thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như
một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm song không nhiều [5].
9

cấu của làng, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng. Những sản phẩm
10
thủ công truyền thống hầu hết là những sản phẩm hàng hóa mang tính nghệ
thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa
phi vật thể. Những sản phẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người
trước nguyên liệu, trước thiên nhiên. Từ nguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài
hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thành những sản phẩm xinh xắn, duyên
dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ
lao động, sự thông minh sự sáng tạo, tinh thần lao động của người thợ - nghệ
nhân. Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa
độc đáo của từng địa phương, từng vùng. Làng nghề truyền thống từ lâu đã
trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian. Những
giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những
nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân
tộc Việt Nam. Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, văn hoá xã hội. Làng
nghề là nơi cộng đồng dân cư có lối sống văn hóa: sống yêu lao động; sống
cần cù, giản dị, tiết kiệm; sống đùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề.
Làng nghề là nơi không có đất để văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy,
cờ bạc, rượu chè, đua xe… nẩy nở. Phải chăng chính vì lẽ đó mà nảy sinh
nhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực,
thiết thực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở [6], [13] .
2.1.3.2. Góp phần giải quyết việc làm
- Bất chấp sự thừa nhận muộn màng chính thống đối với vai trò, vị trí
của nó trong nền kinh tế hàng hóa, làng nghề thủ công truyền thống đã góp
phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn, trăm ngàn cư dân, đặc biệt là
thanh niên. Tại các làng nghề, thanh niên - đa số là nữ thanh niên – có được
"tay nghề", dù tay nghề cao hay thấp thì những người lao động này cũng
thoát khỏi cuộc đời chạy tìm việc lao động phổ thông. Để làm nghề thủ công
truyền thống, người thợ không cần có nhiều vốn, chỉ cần một ít công cụ thủ
công cùng đôi bàn tay khéo léo và đặc biệt là sự siêng năng cần mẫn. Với

- Mục tiêu cơ bản của CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra
một cơ cấu kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn. Trong quá trình
vận động và phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng
12
trưởng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch dịch vụ, thu
hẹp tỷ trọng của nông nghiệp.Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở rộng
quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động đồng thời nó còn đóng
vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ, độc
canh, mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, hoặc tiếp nhận công
nghệ mới làng thuần nông.
- Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp
phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
tăng cơ cấu ngành công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư
nghiệp, góp phần bố trí lực lượng lao động hợp lý theo hướng "ly nông bất
ly hương". Đặc biệt sự phát triển của những làng nghề mới đã phá thế thuần
nông, tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá phát triển kinh tế ở nông thôn.
- Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông
nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông
thôn, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán
lên công nghiệp lớn. Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động
tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên kết công nông nghiệp có hiệu quả [6].
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề
2.1.4.1. Chính sách, chủ trương của nhà nước
Chính sách của Đảng và nhà nước rất quan trọng đối với sự phát triển
của các lĩnh vực kinh tế nói chung và làng nghề nói riêng. Sự thay đổi của
chính sách có thể làm mất đi làng nghề hoặc có khả năng khôi phục hoặc tạo
ra những làng nghề mới. Chẳng hạn như nghề làm gạch ở Cẩm Hà- Hội An,
vì sự ảnh hưởng của nó đến môi trường và chủ trương phát triển làng nghề
văn hoá du lịch nên nghề đó đã không tồn tại

hẹp tại địa phương mà đã vươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất
khẩu ra nước ngoài. Bên cạnh đó nguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu
cầu của làng nghề ngày càng cạn kiệt, bắt buộc phải vận chuyển từ những
nơi khác về, chính vì vậy hệ thống giao thông càng thuận lợi thì làng nghề
càng phát triển.
14
- Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển của
các làng nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, xử lý
nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Ngoài ra, sự hoạt động của các làng nghề trong nền kinh tế thị
trường chịu tác động mạnh mẽ bởi hệ thống thông tin nói chung. Sự phát
triển của hệ thống thông tin liên lạc, nhất là internet giúp cho các doanh
nghiệp, các hộ sản xuất nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những
thông tin về nhu cầu, thị hiếu, giá cả, mẫu mã [5],[6].
2.1.4.3. Sự biến động của nhu cầu thị trường
- Trong nền kinh tế thị trường, nhà sản xuất phải bán cái thị trường
cần chứ không bán cái mình có. Do đó, nhu cầu về sản phẩm và khả năng
thích ứng của làng nghề cho phù hợp với những yêu cầu của thị trường quyết
định sự tồn tại và phát triển của làng nghề.
- Những làng nghề có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của
nhu cầu thường có sự phát triển nhanh chóng. Chẳng hạn như làng nghề sản
xuất đồ gỗ gia đình, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gốm sứ mỹ nghệ
2.1.4.5. Các yếu tố đầu vào
- Nguồn nguyên liệu
Trước đây các làng nghề thường hình thành ở những nơi gần nguồn
nguyên liệu, nhưng qua quá trình khai thác, nguồn nguyên liệu đã cạn kiệt
dần, chẳng hạn như đá, đất sét thì không thể tái tạo được, do đó phải lấy
nguyên liệu từ các địa phương khác. Nguyên liệu là một yếu tố đầu vào hết
sức quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chất lượng sản phẩm.
Sản phẩm của làng nghề mang tính chất đặc thù, phải lấy nguyên liệu tự

năm 1997 của bộ NN-PTNT thì trình độ học vấn và năng lực quản lý của các
chủ cơ sở nhìn chung còn rất hạn chế.
- Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, nó ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự phát
triển của làng nghề cũng không là hiện tượng ngoại lệ.
Trong điều kiện ngày nay, nhất là khi nền kinh tế thị trường phát triển,
nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất ngày càng gia tăng.
16
Trước đây, qui mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh trong các làng
nghề rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của gia đình nên khả năng mở rộng qui
mô sản xuất cũng bị hạn chế. Hầu hết các hộ sản xuất đều có qui mô vừa và
nhỏ và lại thuộc thành phần kinh tế dân doanh cho nên khả năng tiếp cận các
nguồn vốn vay là rất khó. Đây chính là một trở ngại lớn cho sự phát triển
của làng nghề [5],[11].
2.2.CƠ SỞ THỰC TIỂN
2.2.1 Tình hình phát triển làng nghề trên thế giới, trong nước, địa
phương nghiên cứu
2.2.1.1. Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới
*Trung quốc
Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến viêc phát triển làng nghề
truyền thống, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cuộc
công nghiệp hoá nông thôn Trung Quốc. Một nước có điều kiện tự nhiên, tài
nguyên con người tương tự như Việt Nam nhưng chúng ta cần học hỏi một
số kinh nghiệm của nước họ sau:
- Về chính sách thuế: hính phủ đã quy định chính sách thuế khác nhau
cho các vùng và các ngành nghề khác nhau, ưu tiên ở các vùng biên giới,
miễn tất cả các loại thuế trong vòng 3 năm đầu tiên đối với các xí nghiệp, cơ
sở mới thành lập.
- Thực hiện chính sách mạnh mẽ ở khu vực nông thôn để tạo thị

là những làng nghề nổi tiếng không chỉ là sản phẩm độc đáo mà cả lợi ích
kinh tế và xã hội. ở Gia lâm (Hà Nội) có làng nghề gốm sứ Bát Tràng hàng
năm cung cấp sản lượng lớn các sản phẩm gốm sứ cho thị trường, thu hút
lượng rất lớn lao động ở các vùng lân cận tới làm việc tại đó. Ở tỉnh Hải
Dương sản phẩm đậu xanh là đặc trưng của tỉnh mang lại thu nhập cao cho
người lao động. Hình thức tổ chức SXKD từ đơn giản tới phức tạp, từ hộ tới
các công ty. Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu sự phát triển của các hình thức tổ
chức SXKD trong những thập niên gần đây.[7]
Trước thời kì Pháp thuộc: Hầu như dân số nước ta sống trong nông thôn,
làm nông nghiệp là chủ yếu, các làng nghề ổn định sản xuất, đáp ứng nhu cầu
18
tại chỗ là chính. Thời kỳ này hình thức chủ yếu trong giai đoạn này là phường
nghề do nhiều hộ gia đình hình thành.
Giai đoạn 1939 – 1945: Giai đoạn này làng nghề phát triển hơn trước đó, do
chính sách vơ vét kinh tế nhằm bù đắp cho chiến tranh của thực dân Pháp. Rất
nhiều hàng hóa, của cải được mang bọn thực dân mang về nước Pháp.
Giai đoạn 1945 – 1954: Thời kỳ mà cuộc kháng chiến chống Pháp ác liệt
diễn ra, một số làng nghề ở miền Bắc nằm trong vùng chiến sự không phát
triển được, một số làng nghề khác (vùng hậu phương) phát triển mạnh để cung
cấp cho chiến trường. Hình thức hộ gia đình sản xuất là chủ yếu trong giai
đoạn này.
Giai đoạn 1954 – 1975: Giai đoạn này miền Bắc là miền tự do, chúng ta
tiến hành công cuộc hợp tác hoá, cải tạo thương nghiệp tư bản tư doanh,
chúng ta không thừa nhận thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Chịu ảnh hưởng
của kinh tế này ở miền Bắc nhiều hợp tác xã ngành nghề ở các làng nghề được
thành lập đi vào hoạt động. Mong muốn một xã hội không có áp bức bóc lột,
xã hội công bằng mô hình kinh tế chỉ huy được thực hiện một cách hệ thống
từ trên xuống, ý nghĩa SXKD đọc lập, tự chủ không còn nữa, tất cả là một
khuôn mẫu định sẵn.[4]
Trong hợp tác, người tay nghề cao với người chưa lành nghề được đối sử

Phải tới những năm cuối của thập kỷ 80, do sự thay đổi của bối cảnh kinh tế
chính trị quốc tế và tình hình kinh tế trong nước thì quá trình “đổi mới” mới thực
sự là hiện thực. Sự cải biến diễn ra mạnh mẽ trong nông nghiệp và nông thôn. Sự
khẳng định sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế với hình thức tổ chức mở cửa cho
nền kinh tế nước ta khởi sắc. Trong bối cảnh đó làng nghề truyền thống nói
riêng, ngành TTCN nói chung được khôi phục và không ngừng phát triển khẳng
định vai trò to lớn trong khu vực kinh tế Nông thôn.
Hình thức tổ chức SXKD là hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất, xí
nghiệp, công ty Hình thức không còn gò bó tuỳ theo khả năng của các chủ
thể mà chọn hình thức nào đó phù hợp cho sự phát triển của mình.
Luật công ty, luật HTX, luật Doanh nghiệp tư nhân ra đời là hành lang
pháp lý cho các hình thức này tồn tại, đóng góp vào nền kinh tế, khẳng định vị
trí của mình. [4]
20
2.2.2.Tình hình phát triển làng nghề ở Thừa Thiên Huế
Gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn, Thừa Thiên
Huế đã trở thành một trong cái nôi của làng nghề nước ta. Hiện nay, Thừa
Thiên Huế có cả các làng nghề được hình thành và phát triển từ lâu đời và
nhiều nghề thủ công mới được du nhập từ nơi khác. Hiện nay, toàn tỉnh
Thừa Thiên Huế có 27 nghề và nhóm nghề (bảng 1), 110 làng nghề (bảng
2). Tuy nhiên, nội lực của các làng nghề nói chung còn yếu, quy mô sản
xuất nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, các thiết bị cũ chắp vá, thiếu đồng
bộ; khả năng cạnh tranh của hàng hoá của các làng nghề trên thị trường còn
thấp, các làng nghề truyền thống thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ và
chưa có chiến lược xây dựng, phát triển thương hiệu; ngoài ra, các làng nghề
hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường. Điều đó khiến nhiều làng nghề
hoạt động kém hiệu quả và có nguy cơ không tồn tại
Kết quả phân loại tình hình hoạt động của 88 làng nghề được thống kê
cho thấy hiện chỉ có 12 làng nghề hoạt động tốt, trong đó có 1 làng mộc mỹ
nghệ (Phường sản xuất mộc mỹ nghệ , thành phố Huế), 3 làng mộc mỹ nghệ

-Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và ảnh hưởng của nó tới hoạt động sản
xuất mộc mỹ nghệ
-Tình hình chung sản xuất mộc mỹ nghệ tại làng nghề Mỹ Xuyên
-Thực trạng yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển làng nghề truyền thống mộc
mỹ nghệ Mỹ Xuyên
- Những thuận lợi khó khăn của người dân trong sản xuất mộc mỹ nghệ và
làng nghề
- Định hướng các giải pháp để phát triển làng nghề mộc mỹ nghệ.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra
- Chọn mẫu điều tra
+ Chọn hộ: chọn ngẫu nhiên các hộ sản xuất mộc mỹ nghệ trên địa bàn
nghiên cứu.
22
+ Chọn 30 hộ điều tra, ( trong khu quy hoạch làng nghề 15 hộ, 15
hộ nằm ngoài khu quy hoạch) tìm hiểu các hộ làm nghề, các nghệ nhân, hộ
nghành nghề khác để so sánh hiệu quả của nghề mộc mỹ nghệ, lấy ý kiến
của các hộ
+ Chọn một số hộ kinh doanh sản phẩm Mộc – mỹ nghệ để phỏng
vấn lấy thông tin
3.4.2. Phương pháp lấy thông tin dữ liệu
Trong quá trình nghiên cứu có hai cấp độ thông tin ta cần thu thập
+ Thông tin cộng động
+ Tài liệu thống kê của huyện, xã.
+ Báo cáo có sẵn
+ Người am hiểu trong làng nghề, cán bộ quản lí
+ Thảo luận nhóm
- Thông tin cá nhân:
Phỏng vấn bán cấu trúc có sử dụng phiếu câu hỏi nhằm điều tra đánh giá về
nội dung, các phương pháp, các phỏng vấn trên các đối tượng (cán bộ ban


.Trong đó diện tích đất trồng lúa 2 vụ
là 222.000 m
2
diện tíc đất trồng màu là 80.000m
2
. Nhìn chung đất nông nghiệp
phân bố tương đối đồng đều. Về đất quy hoạch sản xuất mộc mỹ nghệ thì tổng
diện tích quy hoạch cụm làng nghề Mỹ Xuyên là 10,7 ha tổng số lô: 95 lô,
bình quân mỗi lô là 600m
2
.
4.1.2.3. Khí hậu và thời tiết
24
Làng Mỹ Xuyên thuộc xã phong Hòa nằm trong vùng duyên hải miền
trung nên chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do chịu sự
tác động của khí hậu chuyển tiếp bắc nam nên khí hậu nơi đây tương đối khắc
nghiệt. Khí hậu trông năm phân thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ
tháng ba đến tháng tám, mùa mưa từ tháng chín đến tháng hai năm sau.
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 24-25
o
C.Mùa khô chịu ảnh hưởng của
gió tây nam nên khô nóng,nhiệt độ trung bình từ 29-30
o
C,có khi lên 39-40
o
C.Về mùa lạnh do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên mưa nhiều,nhiệt độ
trung bình từ 18-20
o
C, nhiệt độ cao nhất thường tập trung vào tháng 6, thấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status