Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trước thập kỷ 60, khi dân số chưa có sự bùng nổ và nông nghiệp chưa bước
vào thời kỳ thâm canh cao, loài người đang khai thác và sử dụng nguồn gen nông
nghiệp như một nguồn lợi thiên nhiên, chưa thấy tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo tồn
các nguồn gen cây trồng và vật nuôi một cách hợp lý. Đến nửa cuối thế kỷ 20, ở thập
kỷ 60-70, khi cách mạng xanh bùng nổ tạo nên một bước tăng trưởng nhảy vọt về sản
lượng nông nghiệp. Nhưng hậu quả đem lại là nguồn gen các cây trồng, vật nuôi trong
sản xuất bị thu hẹp về mặt số lượng và chất lượng. Bằng việc thâm canh tăng năng
suất, các loại giống mới được nhập nội và thuần hóa, lai tạo với các giống địa phương
nhằm tận dụng các ưu thế lai của các giống địa phương. Bên cạnh đó việc chuyển từ
canh tác đa canh sang độc canh, chuyên canh trên diện rộng các cây trồng mới có năng
suất cao đã làm giảm diện tích các giống cây trồng địa phương. Dần dần, qua nhiều
năm các giống cây trồng địa phương bị biến mất dần, mặc dầu chất lượng về mặt sinh
học và mặt dinh dưỡng của các giông cây trồng địa phương là không kém gì các giống
cây trồng nhập ngoại hay các giống lai. Việc thâm canh một số lượng giống lớn luôn
đi cùng với sử dụng nhiều loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và các chế
phẩm sinh học giúp tăng năng suất chất lượng cây trồng. Từ đó hiệu quả đầu tư cho
nông nghiệp giảm dần, cả môi trường sinh thái và vệ sinh thực phẩm đều bị ảnh
hưởng. Muốn khắc phục vấn đề này, cần phải duy trì trở lại sự đa dạng nguồn gen
trong sản xuất[1].
Đất nước Việt Nam trải dài trên 1650 km theo hướng Bắc - Nam, từ 8
0
tới 23
0
vĩ
bắc, và có độ cao địa hình từ 0 m lên tới độ cao lớn nhất là 3143 m so với mực nước
biển trên dãy núi Hoàng Liên Sơn. Việt Nam có trên 2000 Km là bờ biển nên diện tích
đất cát ven biển ở nước ta rất lớn. Cây Khoai môn là loài thực vật phổ biến ở tất cả các
vùng miền trên đất nước Việt Nam từ các vùng núi cao đến các vùng đất ngập nước và
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Một số lý luận về vấn đề về sinh kế, sinh kế bền vững và phương pháp tiếp
cận sinh kế trong nghiên cứu nông thôn.
2.1.1. Khái niệm sinh kế và chiến lược sinh kế bền vững:
Hiện nay, khái niệm sinh kế đã được các tổ chức phi chính phủ, thậm chí cả chính
quyền của hầu hết các quốc gia quan tâm, mở ra một lĩnh vực mới sâu sắc hơn trong
các phương pháp tiếp cận nông thôn.
Từ năm 1997, trong sách Trắng, Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) đã đưa ra các
quan điểm có liên quan đến sinh kế. Với cam kết “Hỗ trợ những chính sách và hành
động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững”. Đến 1999, khái niệm Sinh kế
và Sinh kế bền vững đã được nhiều tổ chức phát triển đưa ra và có nhiều cách lý giải
khác nhau về sinh kế. Trong đó, những quan điểm của DFID đưa ra đã được đa số các
chuyên gia và các tổ chức phát triển chấp nhận và xem đây như là cơ sở để xây dựng
khung phân tích trong các hoạt động tiếp cận và tổ chức các trương trình dự án trong
lĩnh vực phát triển nông thôn[2].
Theo DFID, một sinh kế bao gồm có 3 phần chính như sau:
Nguồn lực và khả năng mà con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh
kế. Theo đó một sinh kế là bền vững khi con người có thể đối phó và phục hồi những
áp lực và các cú sốc, đồng thời có thể duy trì và nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện
tại lẫn tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Định nghĩa này không chỉ quan tâm đến hiện tại mà còn đề cập đến khả năng phát
triển của hộ nói chung và của con người nói riêng ở tương lai.
Theo đó, các nguồn lực mà con người có, được xem là các vốn hay tài sản sinh kế
bao gồm 5 loại cơ bản sau:
Vốn con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng các nhân
và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ
đạt được những kết quả sinh kế.
3
Vốn xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ, các tổ chức xã hội và các
nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó được
hướng tới[2].
Chiến lược sinh kế của nông hộ là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp,
sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như
đạt được mục tiêu và ước vọng của họ. Những lựa chọn và quyết định của người dân
cụ thể là:
+ Quyết định đầu tư vào loại nguồn lực vốn hay tài sản sinh kế.
+ Qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi.
+ Cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh kế.
+ Các thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng
cần thiết để kiếm sống.
+ Họ sẽ đối phó như thế nào với những rủi ro mà họ gặp phải,
những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau và họ sử dụng
thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để có được những kết quả
như trên[2].
Những mục tiêu và ước nguyện đạt được là những kết quả sinh kế, đó là những
điều mà con người muốn đạt được trong cưộc sống cả trong hiện tại và cả tương
lai, bao gồm:
Sự hưng thịnh hơn: Thu nhập cao hơn và ổn định hơn, cơ hội việc
làm tốt hơn; kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên
và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được tăng lên.
Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng
tiền, người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hóa phi vật
chất khác. Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều
các yếu tố.
Ví dụ: Căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên trong gia đình được
đảm bảo, các điều kiện sống tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tốt, sự an toàn của đời
sống vật chất và tinh thần,…
Khả năng tổn thương giảm: Người nghèo, luôn phải sống trong trạng thái dễ
bị tổn thương. Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia
5
chính thức như hương ước, lệ làng, luật tục, thủ tục truyền thống khác và những hướng
6
dẫn của nhà nước, các cơ quan, tổ chức và dịch vụ nhà nước cũng như tư nhân, có
những tác động lên các tài sản và chiến lược của sinh kế của cả cộng đồng nói chung
và của nông hộ nói riêng. Đây là một phần quan trọng trong khung phân tích sinh kế
bền vững vì nó ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với các nguồn lực sinh kế, những
chiến lược sinh kế, lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động
sinh kế nhất định. Ngoài ra, đây còn là những yếu tố tác động lên cả các mối quan hệ
để đạt được những điều kiện sống tốt nhất.
2.1.2. Phương pháp tiếp cận sinh kế trong nghiên cứu nông thôn:
Cùng với sự ra đời của khái niệm “sinh kế”, thì phương pháp tiếp cận sinh kế
được đưa vào trong phương pháp nghiên cứu nông thôn có sự tham gia. Cơ sở của
phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững dựa trên lịch sử qua trình thay đổi qua ba thập
ky những quan điểm về nghèo đói. Cụ thể, các phương pháp tiếp cận có sự tham gia
trong công tác phát triển đã nêu bật sự đa dạng trong những cái đích của sự phát triển
mà con người hướng tới và sự đa dạng mà con người cần thích nghi trong các chiến
lược sinh kế mà của mình để đạt đến.
Các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cũng bắt nguồn từ những quan ngại
về tính hiệu quả của những hoạt động trong công tác phát triển. sau khi tuyên bố cam
kết giảm nghèo rất nhiều chính phủ và các nhà tài trợ đã ngay lập tức tập trung nỗ lực
vào các nguồn lực và cơ sở vật chất như (điện đường, trường học, trạm xá,… ), hay sẽ
tập trung vào những cơ cấu cung cấp dịch vụ (như giáo dục, y tế, thú y,…). Trong khi
đó, họ lại lãng quên khi không tập trung vào đối tượng tác động quan trọng nhất là con
người. Dẫn đến hậu quả là hầu hết các chương trình dự án hiện nay trong phát triển ở
các vùng nông thôn đều gặp khó khăn và chưa đem lại hiệu quả lâu dài cho người dân.
Khi các chương trình này kết thúc thì kêt quả của các chương trình này bị xoá bỏ, do
chưa thực sự xuất phát tự nhu cầu người dân, và người dân chưa thực sự nhận thấy tầm
quan trọng của các chương trình dự án tác động đến đời sống của họ như thế nào. Vì
vậy, các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững đặt con người ngay từ điểm đầu tiên
của các hoạt động phát triển[2].
nhập từ nông nghiệp và ngư nghiệp. Chính vì thế khi gặp các cú sốc như bão lụt,
không đánh bắt hải sản được, hoặc nuôi trồng thủy sản bị lỗ vì tôm cá chết do bệnh.
Thì nguồn thu từ trồng trọt sẽ là một giải pháp cứu cánh cho đời sống của nông hộ khi
nguồn thu của hộ từ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản không còn.
8
+ Tiền vốn và sự tiêu dùng trong nông hộ không phân biệt giữa tiền vốn và tiêu
dùng, chi phí trong nông hộ không được tính một cách chính xác bằng các hàm kinh
tế[3]. Vì đặc điểm sản xuất nông nghiệp của nông hộ chủ yếu là vừa sản xuất vừa tiêu
dùng.
Vì vậy, việc canh tác cây khoai môn không vì mục đích để bán ra thị trường mà
nông hộ trồng chỉ để chủ yếu là tiêu dùng cho hộ, và cho chăn nuôi lợn. Vì nếu bỏ
không dùng cây khoai môn làm thức ăn thì nông hộ phải đi mua các loại thức ăn khác
cho lợn ở bên ngoài, lúc này chi phí chăn nuôi sẽ đẩy lên cao và thậm chí chi phí sẽ
vượt quá thu nhập, dẫn đến việc chăn nuôi trong nông hộ sẽ không còn quan trọng nữa
đến thu nhập của họ.
+ Tái sản xuất nhỏ lẻ và manh mún: Sản xuất nông nghiệp của đại đa số các
nông hộ của nước ta nói chung, của các nông hộ ở các vùng cát ven phá nói riêng
thường là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa mang tính chất sản xuất hàng hoá. Nguyên
nhân chính là do sự hạn chế về các nguồn lực hay các tài sản sinh kế của hộ như đất
đai ít, phân tán nhiều nơi, ít vốn,… nên không đầu tư sản xuất lớn, và thị trường tiêu
thụ cho nông sản phẩm chưa ổn định. Cho nên, hầu hết điện tích trồng khoai môn của
các hộ tại các vùng điều tra thường rất ít, và trồng phân tán, chủ yếu là xen canh với
nhiều loại cây trồng khác. Vì sản xuất manh mún, nhỏ lẽ nên hầu hết các hộ chăn nuôi
không muốn áp dụng đúng như các khâu của quy trình kỹ thuật, họ không thể mua và
cho lợn ăn toàn bộ thức ăn công nghiệp.
+ Hộ là một đơn vị kinh tế độc lập tự chủ: Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ chính
trị năm 1986, thì nông hộ trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong tất cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh, và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh
doanh của hộ. Nông hộ được sở hữu tất cả các tư liệu sản xuất, quyền sử dụng đất,
quyền quyết định canh tác bất cứ cây trồng hay nuôi bất cứ vật nuôi nào mà nhà nước
được áp dụng để xác đình hộ nghèo.
Nếu thu nhập bình quân/người/tháng <300,000 đồng sẽ được coi là người
nghèo.
Nếu trên 300,000 đồng sẽ được coi là không nghèo.
Nhưng mặc dù vậy, hiện nay tại các địa phương có rất nhiều vấn đề bất cập trong
công tác xác định nghèo đói và phân loại hộ theo các tiêu chí mà nhà nước đưa ra. Có
thể do các nguyên nhân chủ quan từ các cán bộ địa phương tham gia đánh giá, phân
loại hộ. Có hộ có thể không nghèo nhưng vì muốn có tiền trợ cấp của chính phủ hay
10
các dự án PTNT nên cố chạy được loại hộ nghèo, hay có hộ có con cái đi học thì chính
quyền địa phương sẽ công nhận hộ đó là hộ nghèo để tận dụng trợ cấp của nhà nước
trong việc miễn giảm học phí. Đây chính cũng là một nguồn lực quan trọng bên ngoài
đầu tư cho hộ khi có con cái đang đi học.
Hiện nay trong nghiên cứu sinh kế, ngoài các tiêu chí xác định nghèo đói thì
người ta còn xác định nghèo đói không chỉ trong một thời điểm mà cả quá trình thay
đổi sự nghèo đói của các hộ. Cho nên, chúng ta cần xem xét các hộ nông dân có nghèo
tại thời điểm khác nhau hay không, để từ đó chúng ta có thể xác định được nguyên
nhân nào dẫn đến các cú sốc làm cho các hộ nghèo đói và cách họ sẽ vượt qua các cú
sốc đó. Từ đó, chúng ta sẽ tìm ra các lý luận về sự thay đổi trong hoạt động canh tác
khoai môn của hộ có liên quan đến sự thay đổi sinh kế của các hộ hay không.
Hộ luôn nghèo là hộ luôn luôn nghèo trong hiện tại và trong quá khứ.
Hộ luôn không nghèo là hộ không nghèo trong thời điểm hiện tại và trong quá
khứ.
Hộ thoát nghèo là hộ không nghèo trong thời điểm hiện tại nhưng lại nghèo
trong quá khứ. Hoặc hộ đã vươn từ nghèo lên trung bình hoặc khá, từ trung
bình lên khá hoặc giàu.
Hộ rơi vào nghèo là ở điểm hiện tại hộ bị nghèo hơn so với quá khứ. Có nghĩa
là hộ bị nghèo đi và chuyển từ trung bình xuống nghèo, hay chuyển từ khá xuống
trung bình hoặc nghèo.
2.3. Những vấn đề liên quan trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học cây trồng
di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái(số lượng
các loài trong một quần xã sinh vật). Hiện nay, có nhiều định nghĩa được đưa ra cho
thuật ngữ “đa dạng sinh học”, điển hình như:
Đa dạng sinh học là sự đa dạng các giữa các sinh vật sống và tất cả các nguồn
duy trì sự tồn tại của chúng, bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ
sinh thái thủy sinh và các tập hợp sinh thái mà các sinh vật là một phần chính.
Đa dạng sinh học bao gồm ba phần chính:
+ Đa dạng về nguồn gen: Đa dạng về nguồn gen hoặc đa dạng về di truyền là tất
cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh
vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau. Đa dạng di
truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các
12
loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc
giữa các quần thể.
+ Đa dạng về loài: Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm
thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt
trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác
nhau.
+ Đa dạng về hệ sinh thái: là trong một không gian có nhiều hệ sinh thái cùng
tồn tại.
Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn
trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp
sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng
di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái”(Công ước Đa dạng sinh học, 1992).
Đa dạng sinh học của Việt Nam là sự khác biệt của tất cả các dạng sống hiện hữu
trên mọi miền của đất nước, các loài động, thực vật và vi sinh vật khác nhau, các gien
của các loài đó, và các hệ sinh thái mà các loài đó góp phần tạo nên. Đa dạng sinh học
không tĩnh tại, mà thường xuyên thay đổi; nó tăng lên do sự biến đổi về gen và các quá
trình tiến hoá và giảm bởi các quá trình như suy thoái và mất sinh cảnh, suy giảm quần
thể, và tuyệt chủng. Nó bao hàm các môi trường trên cạn, dưới biển và các môi trường
Yếu tố văn
hóa
Kinh tế xã hội
Môi trường
do con người
quản lý
Quản
lý đa
dạng
cây
trồng
Giao lưu
nguồn gen
Họ hàng
hoang dã
Đặc tính
được nông
dân ưa
chuộng
Cấu trúc
quần thể
Đa dạng
cây trồng
dụng các loài, mặc dù điều này đòi hỏi phải có sự quản lý. Có nghĩa là công tác bảo
tồn cây trồng phải gắn liền với địa bàn phân bố tự nhiên của cây trồng đó. Vì cây trồng
đó chỉ phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của người dân tại vùng mà
cây trồng đó tồn tại[16].
2.3.4. Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp hiện nay.
Bảo tồn đa dạng sinh học cây trồng nông nghiệp là duy trì các quần thể loài cây
trồng đang tồn tại và phát triển. Công việc này có thể được tiến hành bên trong (in-
kiện sinh thái bất lợi đối với nguồn gen và các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây
trồng.
Làm giảm nguy cơ xói mòn nguồn gen trong tự nhiên.
Nhược điểm:
Chi phí tốn kém .
Hạn chế sự tiến hoá tự nhiên của nguồn gen .
Nguy cơ xói mòn nguồn gen trong quá trình bảo quản do sâu bệnh và các điều
kiện sinh thái bất lợi.
− Bảo tồn nội vi/tại chỗ (Bảo tồn In situ):
Khái niệm bảo tồn nội vi: Bảo tồn nội vi là duy trì các quần thể loài trong môi
trường tự nhiên của chúng. Đối với cây nông nghiệp, bảo tồn nội vi cây là việc duy trì
những ưu thế và các đặc tính vốn có của cây nông nghiệp tại đồng ruộng.
Theo CBD: Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi
cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều
kiện sống tự nhiên của chúng. Trong trường hợp các loài được thuần hoá và
canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây
trồng đó hình thành nên đặc tính của mình.
Theo GBA: Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn đa dạng sinh học trong các hệ
sinh thái vận động tiến hoá của nơi cư trú nguyên thủy hoặc môi trường tự
nhiên.
Bảo tồn in-situ quan tâm đến việc duy trì các quần thể các loài trong điều kện môi
trường sống nơi xuất xứ của chúng.
Ví dụ như cộng đồng các loài hoang dại hoặc trên đồng ruộng của nông dân như
một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái nông nghiệp(Brush, 1995; Bellon et al, 1997).
Bảo tồn các loài cây trồng bao gồm bảo tồn tại nông trại các giống địa phương cổ
truyền kết hợp với nhân giống tích cực bởi nông dân. Mục tiêu của bảo tồn in-situ là
16
động viên nông dân tuyển chọn và bảo tồn đa dạng sinh học các loại cây trồng vì lợi
ích nhân loại.[5].
Ưu điểm:
lá, bẹ của chúng. Với các loài môn không ngứa con người có thể sử dụng toàn bộ các
sản phẩm bẹ, lá, củ của chúng để làm thức ăn. Các giống môn như Môn Sọ tía, khoai
Sọ dọc xanh, khoai sọ Tam Đảo, khoai Sọ Hòa Bình, khoai môn Chấm, Môn sáp
vàng, được nông dân trồng để cung cấp thêm lương thực cho nông hộ khi thiếu
lương thực và để làm các món ăn đặc sản như nấu Lagu, nấu canh, có giá trị dinh
dưỡng cao. Các sản phẩm bẹ lá của các giống môn như Phước mọng ở Đà Bắc, Hòa
Bình được dùng để nấu canh mẻ dọc mùng. Khoai môn Bạc hà được dùng để nấu các
món đặc sản như bún sườn, bún mọc, lẩu cá,
2.4.2. Khoai môn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi:
− Cung cấp thức ăn cho chăn nuôi: Từ xưa đến nay, cây khoai môn cùng một
số loài cây như chuối, khoai lang là các loại cây trồng được nông dân trồng để cung
cấp thức ăn cho chăn nuôi. Cây khoai môn có thể cung cấp thức ăn cho chăn nuôi dưới
hai dạng thức ăn.
Thức ăn xanh: Các sản phẩm lá, bẹ lá của hầu hết các giống môn đều được
dùng để cung cấp thức ăn xanh cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Các
sản phẩm này có thể được chế biến bằng nhiệt hay để sống cho lợn ăn.
Ngoài giá trị dinh dưỡng đem lại cho lợn thì một số giống môn khi cho lọn
ăn lại có tác dụng phòng chống đầy hơi, giun sán cho lợn[6].
Thức ăn tinh: Tỷ lệ tinh bột rất cao trong củ khoai môn nên trước đây khi
đời sống kinh tế đất nước ta còn khó khăn, đa số củ khoai môn thu hoạch
được đều được nông dân dùng để bán hoặc ăn. Nhưng khi sản phẩm thu
được quá nhiều, dư thừa thì củ khoai môn còn được dùng cho chăn nuôi
lợn[6].
2.4.3. Khoai môn có tác dụng làm thuốc:
Một số loài môn được dùng trong các vị thuốc dân gian, có tác dụng chữa một số
bệnh như cây Bon hom là cây khoai môn họ Ráy, củ của chúng được dùng để chữa
đau đầu. Cây Ráy tía sắt mỏng, phơi khô, rang vàng, hạ thổ, ngâm với rượu uống có
thể chữa bệnh đau lưng, đau cột sống. Một số cây họ Ráy còn được dùng dể chữa các
bệnh ngoài da như lang ben, hắc lào,
2.4.4. Giá trị kinh tế của cây khoai môn:
Viện tài nguyên đi truyền thực vật quốc tế(IPGRI).
19
Viện nghiên cứu lúa quốc tế(IRRI) ở Philipin.
Trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu Á(AVDRC).
Trung tâm nông nghiệp nhiệt đới (CIAT).
Tổ chức nông lương thế giới(FAO).
Viện tài nguyên sinh vật nông nghiệp quốc gia Nhật Bản(NIAR).
Tổ chức phi chính phủ Ý(CIC).
2.5.2. Các kết quả nghiên cứu và thực tiễn của bảo tồn cây trồng trên đồng ruộng
tại Việt nam trong những năm gần đây:
Năm 1985 Chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam (NCS) đã được ban hành -
một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển. NCS được Nhà
nước và cộng đồng quốc tế hoan nghênh.
NCS là tiền thân của Kế hoạch Quốc gia về Môi trường và Phát triển Bền vững
1991 - 2000 (NPESD). Do Uỷ ban Khoa học Nhà nước xây dựng, NPESD đã tổng hợp
tất cả những khuyến nghị của NCS và TFAP cũng như một số vấn đề môi trường rộng
lớn.NPESD nhấn mạnh nhu cầu cần có một bộ luật rõ ràng về môi trường, đề ra các
chính sách nhà nước về bảo tồn và lập danh sách và thứ tự ưu tiên của các khu vực
hoạt động. Việc xây dựng Luật môi trường (thông qua năm 1994) là hoạt động cơ bản
của Uỷ ban Khoa học Nhà nước (đơn vị này đã được Quốc hội quyết định đổi thành
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường năm 1992). Năm 1993, Việt Nam ký Công
ước về Đa dạng Sinh học, cam kết hỗ trợ phong trào thế giới về bảo tồn. Công ước vừa
được phê chuẩn vào tháng 10/1994, và theo tinh thần đó ngày nay Việt Nam phải và
đang hành động. Việc xây dựng Kế hoạch Hành động Đa dạng Sinh học vì thế rất
thuận lợi .
Năm 1995, dự án Tăng cường cơ sở khoa học bảo tồn đa dạng sinh học nông
nghiệp trên đồng ruộng tại Việt Nam được khởi động, có sự tham gia cảu rất nhiều cơ
quan, tổ chức của nhà nước và tổ chức phi chính phủ. Trong đó, trung tâm tài nguyên
di truyền thực vật thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam là tổ chức đi
đầu trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học cây trồng nông nghiệp ở nước ta[8].
đóng vai trò rất quan trọng đối với chăn nuôi lợn của nông hộ, được bà con ưa
chuộng.Tuy diện tích cây Khoai môn không nhiều, song cây môn đóng vai trò khá
quan trọng đối với kinh tế hộ. Và một số giống môn như môn Sáp vàng, môn Quảng,
có nguy cơ bị mất dần.[12].
21
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ trồng khoai môn tại hai thôn Lương Viện,
xã Phú Đa, huyện Phú Vang và thôn Hạ Lạc, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
− Nội dung: tập trung về vấn đề vai trò của cây khoai môn với duy trì và phát
triển sinh kế của cộng đồng người nghèo, không nghèo.
− Không gian: Giới hạn trong phạm vi của vùng sinh thái đất cát ven biển, điển
hình ở hai thôn Lương Viện, xã Phú Đa, huyện Phú Vang và thôn Hạ Lạc, xã Quảng
Lợi, huyện Quảng Điền.
− Thời gian: thông tin thu thập trong giới hạn từ năm 1999-2006.
3.3. Phương pháp nghiên cứu:
3.3.1. Chọn điểm, chọn hộ:
− Chọn điểm:
Thừa thiên Huế là một tỉnh nằm ở trung tâm của đất nước có đủ các đặc điểm tự
nhiên của cả các vùng sinh thái đồi núi, trung du và đồng bằng ven biển. Trong đó,
đồng bằng ven biển của tỉnh có trên 48.400 ha đất cát, đất cồn cát là 8.392 ha và cát
biển là 40.016 ha. Đây là vùng có hệ thống cây trồng khá phong phú, có tồn tại nhiều
loại cây trồng quý hiếm; có khả năg chống chịu được điều kiện khí hậu khắc nghiệt
của vùng
− Số hộ đã phỏng vấn:
Bảng 1: Số hộ điều tra ở hai xã Phú Đa và Quảng Lợi.
Loại hộ
phẩm từ cây khoai môn của các hộ và tình hình chăn nuôi của hộ.
• Quan sát thực địa: thực hiện điền dã quan sát trao đổi với nông dân ngoài đồng
ruộng.thu thập thông tin về các giống môn, phương thức canh tác, thời vụ trồng,
các nguyên nhân nông dân trồng và không trồng khoai môn và các khó khăn khi
duy trì cây khoai môn trên đồng ruộng[13].
Phương pháp đánh giá sinh kế có sự tham gia của người dân: sử dụng
khung phân tích sinh kế bền vững PLA.(SL).
3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel, với các hàm thống
kê.\
23
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình kinh tế xã hội của vùng đất cát Phú Đa và Quảng Lợi:
Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm ở khu vực bắc miền trung của Việt Nam, tại đây
có hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai là hệ đầm phá nước lợ được đánh giá là
rộng nhất khu vực Châu Á và trên thế giới. Tại đây do đặc điểm sinh thái nằm trong
vùng sinh thái đất cát ven biển nên tỉnh Thừa Thiên Huế có trên 48.400 ha đất cát,
trong đó đất cồn cát là 8.392 ha đất cát ven biển là 40.016 ha. Hệ đầm phá Tam Giang
nằm dọc theo trục bắc nam của tỉnh kéo dài qua nhiều huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế
như huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc.
Xã Phú Đa thuộc huyện Phú Vang và xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền thuộc
tỉnh Thừa Thiên Huế có đặc điểm sinh thái đặc trưng của vùng đất cát ven phá Tam
Giang, tại đây hệ thống cây trồng vật nuôi rất đa dạng, có nhiều giống cây trồng địa
phương vẫn được trồng ở hai xã Phú Đa và Quảng Lợi.
Qua điều tra thu thập số liệu thứ cấp chúng tôi có các thông tin chung về hai xã
Phú Đa và Quảng Lợi, được thể hiện ở bảng 3 dưới đây.
Bảng 3: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Đa năm 2006.
Chỉ tiêu
ĐVT Phú Đa Quảng
Thời tiết, khí hậu của xã Phú Đa có đặc điểm của thời tiết khí hậu gió mùa ở bắc
miền trung của Việt Nam. Hàng năm, khí hậu của xã cũng được chia ra thành 2 mùa,
mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau và mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đến
tháng 8. Vào mùa nắng, do đặc điểm địa hình, đất đai của xã Phú Đa là đất cát, lại nằm
sát phá Tam Giang nên thường xuyên bị hạn hán, gây ra hiện tượng nhiễm phèn các
chân ruộng nằm sát mặt nước phá. Vào mùa mưa, do đặc điểm vào mùa mưa của miền
Trung là mưa nhiều, mưa kéo dài cộng với địa hình của miền trung cao và dốc ngắn
nên thường xuyên gây ra lũ lụt, ngập úng. Điều này là một bất lợi lớn cho bà con nông
dân của xã nói chung và của cả vùng nói riêng. Chính vì thế, hàng năm nhân dân xã
Phú Đa chỉ canh tác được 57,25 ha Lúa 2 vụ tại cánh đồng Bàu(Vũng), còn lại chỉ
canh tác được 480 ha lúa 01 vụ tại cánh đồng Lương Viện và Tằm Mã đỏ và Tằm Hà
trung.
− Đặc điểm dân cư và lao động:
Theo bảng 3 ta thấy.
Xã Phú Đa là một xã tương đối nghèo so với các xã lân cận nên tình dân số và lao
động của xã Phú Đa cũng đặc trưng cho một vùng nông thôn ven biển của Việt Nam.
Đến cuối năm 2006, dân số toàn xã Phú Đa là 10.206 người, với 1.567 hộ, trong đó có
25