ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THÚY
CÁC HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG VỀ SINH KẾ
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG
DÂN CƯ VEN BIỂN XÃ HOẰNG CHÂU, HOẰNG HÓA,
THANH HÓA VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành: Khoa học môi trường
(Chương trình đào tạo chuẩn)
Hà Nội - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THÚY
CÁC HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG VỀ SINH KẾ
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG
DÂN CƯ VEN BIỂN XÃ HOẰNG CHÂU, HOẰNG HÓA,
THANH HÓA VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
HST
IPCC
NTTS
QLNN
UBND
UNDP
UNFCCC
USAID
WMO
Biến đổi khí hậu
Chương trình môi trường quốc gia
Hệ sinh thái
Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
Nuôi trồng thủy sản
Quản lý nhà nước
Ủy ban nhân dân
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Công ước khung của liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
Tổ chức khí tượng thế giới
SV: Nguyễn Thị Thúy
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
-
-
1. Lý do chọn đề tài
Khu vực NTTS xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nằm ở hạ
lưu sông Mã phần tiếp giáp với Biển Đông và là nơi có đặc điểm về thủy văn, khí
hậu, địa hình phức tạp. Đây là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các loại hình thiên tai
(bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xói lở bờ do thay đổi dòng chảy, rét đậm rét
hại kéo dài…) với tần suất và cường độ cao hơn các địa phương khác ở khu vực
Bắc Bộ.
Nghề nuôi trồng thủy sản tại xã Hoằng Châu bắt đầu từ những năm 1990 với
khoảng 10 hộ. Hiện nay, tại đây đã hình thành 5 tổ nuôi trồng thủy sản với sự tham
gia của 137 hộ dân. Phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiến
(thả nuôi giống nhân tạo và cho ăn bổ sung bằng thức ăn công nghiệp. Như vậy,
hình thức nuôi vẫn phụ thuộc vào tự nhiên cho nên phát sinh nhiều rủi ro như: (i)
dịch bệnh; (ii) khó kiểm soát chất lượng môi trường ao nuôi, vùng nuôi; (iii) lợi
nhuận của người nuôi thủy sản thấp…
Những năm vừa qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu thể hiện qua nhiều
hình thức như: rét đậm, rét hại kéo dài; lũ tiểu mãn; nắng nóng,… đã ảnh hưởng
trực tiếp tới nghề NTTS của các hộ dân tại xã Hoằng Châu. Năm 2008 – 2009, thiệt
hại do dịch bệnh, lũ lụt nắng nóng xảy ra trong NTTS đã làm giảm 75 – 80% sản
lượng thu hoạch. Nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng suy giảm tới 60 – 70%.
Xuất phát từ các lý do trên nên tôi chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Các hoạt
động thích ứng về sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển trong nuôi trồng thủy
sản xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa với biến đổi khí hậu”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức và các cách tiếp cận thông tin của cư dân ven biển đối với
BĐKH.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận
Cung cấp phương pháp luận cần thiết trong nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH lên
sinh kế, đồng thời có thể mở rộng để nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH lên các
thành phần hay đối tượng khác.
Góp phần cung cấp tư liệu tham khảo trong đào tạo, tập huấn cũng như cho các
nghiên cứu tiếp theo.
Mở ra một hướng nghiên cứu mới về thay đổi sinh kế cộng đồng trong bối cảnh
BĐKH toàn cầu.
Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp cho công đồng dân cư ven biển xã Hoằng Châu những thông tin cần biết
về ảnh hưởng của BĐKH lên nuôi trồng thủy sản để chủ động thích ứng.
Cung cấp cho chính quyền các cấp những thông tin cần thiết về ảnh hưởng của
BĐKH lên nuôi trồng thủy sản ở xã Hoằng Châu, từ đó chính quyền các cấp có
thêm căn cứ để đưa ra các chính sách hỗ trợ và ứng phó.
Có thể áp dụng hướng nghiên cứu này để nhân rộng và nghiên cứu đối với các vùng
hay địa phương khác nhau. Do đó góp phần hoàn thiên thêm phương pháp luận
nghiên cứu tác động của BĐKH trong CTMTQG ứng phó với BĐKH.
4. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần: phần mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó, phần
nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
SV: Nguyễn Thị Thúy
8
Lớp: K56A2 - KHMT
Sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu
duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập niên hoặc dài hơn. BĐKH
có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do
tác động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác
sử dụng đất.
Sự thay đổi khí hậu do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con
người cùng với BĐKH do tự nhiên sẽ làm thay đổi thành phần của khí quyển.
1.1.2. Biểu hiện của BĐKH
Các biểu hiện của BĐKH bao gồm (IPCC, 2007)
Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu.
Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan.
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển
Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của Trái đất
SV: Nguyễn Thị Thúy
9
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
-
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thủy quyển, sinh quyển, địa quyển.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng
thường được coi là hai biểu hiện chính của biến đổi khí hậu.
SV: Nguyễn Thị Thúy
10
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
liệu hóa thạch đóng góp gần một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu. Phá
rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9%
tổng số các khí thải, gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu... đây là
những nguyên nhân dẫn đến BĐKH do hoạt động của con người gây nên. [3]
1.1.3.2 Sự biến đổi của tự nhiên
Nhiều quá trình trong và ngoài khí quyển được cho là có khả năng là những
nguyên nhân của những biến đổi của khí hậu. Trong quá khứ, khí hậu Trái đất đã
nhiều lần biến đổi do tự nhiên. Những thời kỳ băng hà xen lẫn những thời kỳ ấm lên
của Trái đất đã từng xảy ra cách đây vài triệu năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng xảy
ra khoảng 18.000 năm trước Công nguyên. Trong thời kỳ này, băng bao phủ phần
lớn Bắc Mỹ, Bắc Âu và Bắc Á. Mực nước biển trung bình thấp hơn hiện nay tới
120m. Thời kỳ băng hà này kết thúc khoảng 10.000 – 15.000 năm trước Công
nguyên. Thời kỳ tiểu băng hà gần đây nhất, xảy ra ở châu Âu vào giữa thế kỷ 16
đến giữa thế kỷ 19.
BĐKH hiện nay tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu bắt đầu xảy ra từ giữa thế kỷ
19. Trong khoảng hơn 100 năm qua (1906 – 2005) nhiệt độ trung bình toàn cầu đã
tăng lên khoảng 0,7oC. Thập kỷ 1990 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua.
Trong 11 năm (1995 – 2006) là những năm nóng nhất từ khi có số liệu đo bằng
công cụ hiện đại. Do nóng lên toàn cầu băng tuyết của các vùng cực của Trái đất và
trên núi cao tan ra, nước của các đại dương ấm lên và giãn nở ra, làm mực nước
biển trung bình toàn cầu dâng lên trung bình 0,17m trong thế kỷ 20. Các thiên tai
suy giảm. Khi những chức năng sinh thái này bị suy giảm, các HST ven biển trở
nên bị suy yếu và ít có khả năng phục hồi trước những tác động ngày càng tăng
của BĐKH [4].
Tác động của BĐKH lên các hoạt động kinh tế xã hội của con người
Sự suy giảm các chức năng sinh thái của các hệ sinh thái biển sẽ gây ra
những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, các hoạt động kinh tế xã hội và phúc
lợi của hàng tỷ người dân ven biển phụ thuộc nhiều vào các hàng hóa và dịch vụ
mà các hệ sinh thái này cung cấp. Ví dụ, sự tẩy trắng san hô và thay đổi thời tiết sẽ
ảnh hưởng đến sự phân bố, tính đa dạng và trữ lượng của nguồn lợi thủy sản, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến ngư trường đánh bắt và sản lượng đánh bắt của người dân. Tình
trạng xâm nhập mặn vào các tầng nước ngầm ven biển một mặt gây ảnh hưởng đến
hoạt động nông nghiệp (do đất nông nghiệp bị nhiễm mặn), mặt khác gây ảnh
hưởng đến hoạt động nuôi trồng (do môi trường sống của các hệ sinh thái cửa sông
trở nên lợ hơn). Nhìn chung, hầy hết các hoạt động kinh tế - xã hội của con người
đều chịu ảnh hưởng bởi BĐKH [3]
1.2. Tổng quan về sinh kế bền vững
1.2.1. Khái niệm về sinh kế
Theo Chambersand Conway, “một sinh kế gồm những khả năng, tài sản (các
nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một kế sinh nhai. Một
sinh kế là bền vững khi nó (i) có thể đối phó và phục hồi được từ những tác động
đột ngột, (ii) duy trì hoặc làm tăng các khả năng và tài sản, và (iii) cung cấp những
cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ mai sau”.
Con người được xem là trọng tâm của một mô hình sinh kế với các tài
sản của họ được gắn vào sinh kế đó. Vì vậy, để phân tích mô hình sinh kế của
một hộ gia đình hay một cộng đồng cần xem xét khả năng về các tài sản của
họ, bao gồm:
- Vốn tự nhiên: là nền tảng các nguồn lực tự nhiên của cộng đồng/hộ, bao
SV: Nguyễn Thị Thúy
12
trường và thể chế.
- Một sinh kế được coi là bền vững về kinh tế khi nó đạt được và duy trì
một phúc lợi kinh tế cơ bản và mức phúc lợi kinh tế này có thể khác
nhau giữa các khu vực.
- Tính bền vững về xã hội của sinh kế đạt được khi sự phân biệt xã hội
được giảm thiểu và công bằng xã hội được tối đa.
- Tính bền vững về môi trường đề cập đến việc duy trì hoặc tăng cường năng
suất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của các thế hệ tương
lai.
- Một sinh kế có tính bền vững về thể chế khi các cấu trúc hoặc quy trình
SV: Nguyễn Thị Thúy
13
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
hiện hành có khả năng thực hiên chức năng của chúng một cách liên tục
và ổn định theo thời gian để hỗ trợ cho việc thực hiện các hoạt động sinh
kế.
Theo các tác giả trên, cả 4 phương diện này đều có vai trò quan trọng như
nhau và cần tìm ra một sự cân bằng tối ưu cho cả 4 phương diện. Cũng trên
quan điểm đó, một sinh kế bền vững khi: (i) có khả năng thích ứng và phục hồi
trước những cú sốc hoặc đột biến từ bên ngoài: (ii) không phụ thuộc vào sự hỗ
trợ từ bên ngoài; (iii) duy trì được năng suất dài hạn của các nguồn tài nguyên
thiên nhiên; (iv) không làm phương hại đến các sinh kế khác.
1.2.3. Tiêu chí đánh giá tính bền vững của sinh kế
Các nghiên cứu của Scoones (1998) và DFID (2001) đều thống nhất đưa
Khóa luận tốt nghiệp
tự nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế. Tài
nguyên thiên nhiên rất quan trọng vì đó là môi trường sống và các hoạt động sinh
kế như trồng trọt, đánh bắt nuôi trồng thủy sản, làm muối và các dịch vụ phát sinh
như khai thác du lịch đều dực trên tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên đất, rừng,
biển, tài nguyên hoang dã, đa dạng sinh học...các nguồn tài nguyên môi trường và
chất lượng của chúng đều là vốn tự nhiên.
+ Nguồn lực vật chất: là các cơ sở hạ tầng cơ bản (giao thông, nhà ở, nước,
điện, năng lượng và thông tin liên lạc) và trang thiết bị sản xuất, cho phép người
dân theo đuổi sinh kế của họ.
Đối với sinh kế bền vững cần thiết có: đường giao thông thuận lợi và vận tải
hợp lý; cung cấp đủ nước; giá cả năng lượng phải chăng; tiếp cận hệ thông tin liên
lạc; vệ sinh môi trường sạch sẽ; có nhà cửa kiên cố và nơi trú ẩn an toàn.
+ Nguồn lực tài chính: bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con người sử
dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt,
trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập…
+ Nguồn lực con người: bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, khả
năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục... giúp con người thực hiên các hoạt
động sinh kế khác nhau và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn.
+ Nguaồn lực xã hội: là các nguồn lực xã hội mà người dân dựa vào theo
đuổi các mục tiêu sinh kế của họ. Vốn xã hội là các quan hệ xã hội, các mạng lưới
quan hệ, lòng tin, nhóm hay hiệp hội hoặc là người bảo trợ/ khách hàng, thành
viên của nhóm theo các thỏa thuận lợi ích giữa các cá nhân với lợi ích chung, các
mối quan hệ của lòng tin, tiếp cận với các tổ chức rộng lớn hơn của xã hội.
-
Chiến lược sinh kế
+ Biến động mùa: các thay đổi theo mùa trong giá cả, sản lượng, nguồn thực
phẩm sẵn có, cơ hội việc làm và sức khỏe.
- Thể chế, chính sách
Chính sách và thể chế các cấp (quy định, luật lệ, chính sách, phong tục,
quyền sở hữu, công dụng truyền thống; các tổ chức (hiệp hội, tổ chức phi chính
phủ, cơ quan Quốc gia); thị trường, văn hóa, cách ứng xử nằm trong chính sách,
thể chế sinh kế.
- Kết quả sinh kế
Kết quả của sinh kế bền vững là tăng thêm thu nhập, ổn định thu nhập, tăng
mức độ hài lòng, giảm tổn thương, cải thiện an ninh lương thực, sử dụng bền vững
tài nguyên thiên nhiên.
1.3. Khả năng bị tổn thương về sinh kế của dân cư ven biển trước tác động của
BĐKH
1.3.1 Khái niệm về khả năng bị tổn thương
Khả năng bị tổn thương thường được đề cập đến trong mối liên hệ với những
thảm họa tự nhiên và năng lực của cá nhân hoặc các nhóm xã hội trong việc đương
đầu với những thảm họa này. Trong bối cảnh BĐKH, khả năng bị tổn thương là
“mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do
BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng trước những tác động bất lợi của
BĐKH”.
Khả năng bị tổn thương của con người trước tác động của BĐKH phụ thuộc
vào 4 yếu tố sau:
Bản chất và độ lớn của BĐKH.
Mức độ phụ thuộc của con người vào các nguồn lực nhạy cảm với BĐKH (bao gồm
nguồn lực tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và xã hội)
Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của BĐKH
Năng lực thích ứng của những con người trước những thay đổi của các nguồn lực
nhạy cảm với BĐKH.
Khả năng bị tổn thương trước tác động của BĐKH của các nhóm đối tượng và
các khu vực khác nhau trên thế giới là không giống nhau. Ngay cả trong phạm vi
Nhìn chung, BĐKH gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân nông thôn nói chung
và vùng biển nói riêng trên một số sinh kế chính như sản xuất nông nghiệp, đánh
bắt và nuôi trồng thủy sản – những sinh kế mà người nghèo chủ yếu dựa vào các
nguồn lực tự nhiên để thực hiện các hoạt động sinh kế.
1.3.3. Năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH
Năng lực thích ứng (adaptive capacity) thường được xem xét trong bối cảnh
thay đổi về môi trường để gắn kết giữa năng lực thích ứng với những vấn đề về
quản trị môi trường. Gần đây, năng lực thích ứng được xem xét trong bối cảnh
BĐKH toàn cầu. Năng lực thích ứng với BĐKH được định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau.
IPCC định nghĩa năng lực thích ứng là “khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống
trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các
cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả”.
Theo định nghĩa của Bộ tài nguyên và môi trường, năng lực thích ứng với BĐKH là
“sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi
trường thay đổi nhằm làm giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi của
khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại”.
USAID cho rằng năng lực thích ứng với BĐKH là “năng lực của xã hội để thay đổi
theo cách làm cho xã hội được trang bị tốt hơn để có thể quản lý những rủi ro hoặc
nhạy cảm từ những ảnh hưởng của BĐKH”. Một xã hội có năng lực thích ứng tốt sẽ
có khả năng phục hồi trước những căng thẳng hoặc đột biến từ bên ngoài.
SV: Nguyễn Thị Thúy
17
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ năm là 8.5000C - 8.6000C, biên độ năm là 12 – 130C, biên
độ ngày là 6 – 70 C. Những tháng có nhiệt độ cao là từ tháng 5 đến tháng 9, bình
quân từ 28 - 290C. Ngày có nhiệt độ tuyệt đối cao nhất chưa quá 41 0C. Những tháng
có nhiệt độ thấp nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, bình quân từ 16 - 17 0C.
Ngày có nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối chưa dưới 50C.
Mưa: tổng lượng mưa trong năm từ 1900 mm – 2000 mm, riêng mùa mưa từ tháng
6 đến tháng 10 chiếm khoảng 80%, mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 11.
Tháng 7, 8, 9 có lượng mua lớn nhất trong năm, xấp xỉ 350 mm/tháng. Tháng 12
đến tháng 2 năm sau, lượng mưa chỉ đạt khoảng 20 – 30 mm/tháng.
SV: Nguyễn Thị Thúy
18
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Độ ẩm không khí: trung bình trong năm 80 – 86%, các tháng 2, 3, 4 có độ ẩm xấp
xỉ 90%.
Gió: thông thường có 2 hướng gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông
Bắc. Tốc độ gió trung bình từ 1,8 – 2,2 m/s. Ngoài ra còn có bão thường xuất hiện
vào tháng 6 đến tháng 9 ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe con
người.
1.4.1.3. Thủy văn
Xã Hoằng Châu nằm trong vùng đồng bằng ven biển, có hệ thống sông
Mã chạy theo một phần về phía Đông và phía Nam của xã. Về mùa mưa bão, những
vùng trũng lúa và bãi ven sông về mùa mưa nước từ trên nguồn đổ xuống nước
SV: Nguyễn Thị Thúy
19
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Hiện tại rừng có 110,23 ha rừng phòng hộ chủ yếu là rừng ngập mặn. Rừng
phát triển tổt có tác dụng chống thiên tai, làm đẹp cảnh quan, có tác dụng cải tạo
môi trường.
1.4.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
1.4.2.1. Cơ cấu kinh tế
-
Nông nghiệp, thủy sản:
: 68%
Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: 13%
Dịch vụ thương mại
: 19%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 là 13,2%. Tổng thu nhập bình quân/năm
là 52,19 tỷ đồng. Bình quân thu nhập trên đầu người là 6,3 triệu đồng/năm.
1.4.2.2. Thực trạng phát triển các ngành
-
Ngành nông nghiệp: Sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng, chất lượng sản
phẩm ngày càng có giá trị.
+ Trồng trọt: chủ yếu trồng lúa nước. Trong những năm gần đây, nhất là năm
2010, năng suất sản lượng lương thực được nâng lên rõ rệt. Tổng sản lượng lương
220
110
20
Năm 2010
94,3
102
57,2
Năm 2013
92,5
200
70,7
Năm 2014
79,8
188,7
84,7
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Cá vặt các loại (kg/ha)
60
108
200
231,7
Rau câu (kg/ha)
2.056
+ Dân số
Theo số liệu thống kê, dân số xã Hoằng Châu năm 2010 là 8.224 người, tương
ứng với 1.906 hộ gia đình. Trong đó, nam là 4.064 người chiếm 49,4%, nữ là 4.160
người chiếm 50,6% . Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,69%, giảm 0,09% so với năm
2005 (0,78%).
SV: Nguyễn Thị Thúy
21
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3. Tình hình dân số trên địa bàn xã Hoằng Châu năm 2010
ĐVT - Số dân: Người - Cơ cấu: %
Chỉ tiêu
Tổng số dân
Tỷ lệ tăng dân số
Nam
Nữ
Tổng số hộ
Nông, lâm, thủy sản
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Nuôi trồng thủy sản
Công nghiệp – xây dựng
Dịch vụ thương mại
Cơ quan nhà nước
năm 2010 nguồn lao động này tăng lên là 4.068 người. Nguồn lao động của xã chủ
yếu tập trung ở nhóm ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản; sau đó là ngành
công nghiệp – xây dựng dịch vụ - thương mại, nhưng lượng lao động này chiếm tỷ
lệ chưa cao. Nhìn chung kể từ năm 2005 trở lại đây xu hướng cơ cấu lao động ở các
ngành đang dần dần thay đổi. Lao động thuộc nhóm ngành nông nghiệp – lâm
nghiệp – thủy sản đang có chiều hướng giảm dần, song song với đó là ngành dịch
vụ - thương mại và công nghiệp – xây dựng cũng có hướng gia tăng. Nguồn lao
động khối cơ quan quản lý Nhà nước chiếm một phần đáng kể (chủ yếu là giáo viên
và công chức nhà nước trên địa bàn).
SV: Nguyễn Thị Thúy
22
Lớp: K56A2 - KHMT
Khóa luận tốt nghiệp
Bảng 4. Diễn biến lao động xã Hoằng Châu qua các năm
2005
2010
Chỉ tiêu
Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu
(người)
(%)
(người)
(%)
I
Tổng số lao động
3.068
336
8,3
II
Trình độ lao động
3.068
100,0
4.068
100,0
1
Lao động trên ĐH, ĐH, CĐ
290
9,5
406
10,0
2
Trung cấp
431
14,0
610
15,0
3
CN đào tạo nghề
750
24,4
1.017
25,0
4
Lao động chưa qua đào tạo
1.597
52,1
-
-
-
1.4.2.4. Thực trạng cơ sở hạ tầng
Các công trình xây dựng cơ bản hiện có
Hiện tại trong xã có các công trình xây dựng cơ bản, gồm các công trình xây
dựng như: văn phòng Đảng ủy, UBND xã, trạm Y tế, nhà trẻ, trường học, bưu điện
văn hóa xã,…Các công trình xây dựng hiện tại đang sử dụng tốt và có hiệu quả.
Hệ thống giao thông
+ Đường trục xã: tổng chiều dài là 8,0 km, trong đó có 6,72 km đã được nhựa
hóa còn 1,28 km là đường đất cần phải nâng cấp.
+ Đường trục liên thôn, nội thôn, ngõ xóm: tổng chiều dài là 15,0km, trong
đó đã bê tông hóa được 6,98km, tỷ lệ cứng hóa đạt 46,5 %.
+ Đường trục nội đồng: chiều dài 23,7km, toàn bộ là đường đất
Hệ thống thủy lợi
Nguồn cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân xã Hoằng Châu
chủ yếu được cung cấp từ hệ thống 2 trạm bơm của xã với công suất 1000
m3/h/trạm.Dẫn nước về hệ thống kênh mương nội đồng. Tổng số mương tưới tiêu,
kênh tưới nội đồng dài 21,71 km đã kiên cố hóa 7,42 km. Đê sông Mã dài 3,2 km,
chạy theo hướng Đông nam, hiện cứng hóa được 36 %.[6]
-
Hệ thống điện
Toàn xã có 3 trạm biến áp với tổng dung lượng các trạm là 750 KVA, được
đặt tại các thôn 12 (320 KVA), thôn 7 (250 KVA), thôn 4 (180 KVA).
-
1.4.2.5. Văn hóa, y tế, an ninh quốc phòng
- Y tế, giáo dục
+ Y tế: toàn xã có 1 trạm y tế, 6 y bác sĩ. 11 phòng và 12 giường bệnh, đủ sơ
cứu ban đầu và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong xã.
+ Giáo dục: công tác giáo dục trong xã đã quan tâm đúng mức, số học sinh
trong độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ 99%.
Văn hóa, bưu chính viễn thông
Có 1 trung tâm bưu điện văn hóa xã, toàn xã có 1213 máy điện thoại bàn,
trong đó có 7 máy là máy công cộng. Bước đầu đảm bảo thông tin liên lạc, phục vụ
khách hàng, nhân dân trong xã.
- An ninh quốc phòng
Hàng năm trong xã tổ chức các đợt tập luyện thường xuyên cho dân quân tự
vệ, nhằm nâng cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với các tình huống gây rối trật tự ở
nông thông và kịp thời ứng phó với thiên tai, bão lụt. An ninh được giữ vững, quốc
phòng thường xuyên được củng cố.
1.5. Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại địa phương
Thanh Hóa nói chung và khu vực xã Hoằng Châu nói riêng nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa, ngoài ra còn chịu gió Lào, khô nóng vào mùa hạ, thường
gây bất lợi cho sản xuất và đời sống. Mưa, bão tập trung chủ yếu vào từ tháng 4
đến tháng 10 với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.500mm. Các hiện tượng
gió lốc, mưa đá có xảy ra vào tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm từ 22 0C đến 24,30C.
Hàng năm có 9 tháng nhiệt độ trung bình trên 20 0C, có 3 tháng nhiệt độ dưới 20 0C.
Tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2, sương muối thường xảy ra vào tháng 1. [1]
Hình 1. Thời gian xuất hiện các yếu tố bất thường
(Nguồn: thông qua tham vấn cộng đồng)