xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng sản xuất nấm rơm tại xã phú lương, phú vang, thừa thiên huế - Pdf 13

Mục lục
Mục lục 1
Phần 1: Đặt vấn đề 3
1.1 Đặt vấn đề 3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 4
Phần 2 5
Tổng quan các vấn để nghiên cứu 5
2.1. Giá trị của cây nấm rơm 5
2.2. Những thuận lợi đối với việc trồng nấm 5
2.3. Lược sử hình thành và phát triển nghề trồng nấm trên thế giới 6
2.4. Lược sử hình thành nghề trồng nấm ở Việt Nam 8
2.5 Quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ 11
2.5.1. Quy mô sản xuất 11
2.5.2. Thị trường tiêu thụ 11
Phần 3 12
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu 12
3.3 Nội dung nghiên cứu 12
3.3.1. Tình hình sản xuất của vùng 12
3.3.2. Đặc điểm chung của các hộ sản xuất nấm rơm 12
3.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất nấm rơm 12
3.4. Phương pháp nghiên cứu 12
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu: 12
3.4.2 Phương pháp xử lý dữ liệu: 13
Phần 4 14
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa điểm nghiên cứu 14
4.1.2 Điều kiện tự nhiên 14
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 15
4.1.3 Tình hình sử dụng đất đai của địa phương 16

tiểu đường, ung thư và các bệnh có liên quan đến bệnh lý mạch vành tim. Có thể
chế biến nấm rơm để ăn hoặc kết hợp với các nguyên liệu khác để làm món ăn
bài thuốc. Bên cạnh đó quy trình trồng nấm rơm cũng khá đơn giản lại tận dụng
được các phụ phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, chính vì vậy nên nấm rơm có
giá trị kinh tế cao được xem như là một hướng đi để xóa đói giảm nghèo, bảo vệ
môi trường. Nhiều mô hình sản xuất nấm rơm đã được thực hiện và cho thấy
đây là hướng đi đúng.
Huyện Phú Vang, tỉnh TT-Huế là nơi có phong trào sản xuất nấm rơm lớn
mạnh, đặc biệt là tại xã Phú Lương, nơi có đến hơn 80% hộ sản xuất nấm rơm.
Với nhiều điều kiện thiên nhiên ưu đãi, nguồn nguyên liệu dồi dào, đây là khu
vực mà việc trồng nấm đạt tỷ lệ ra nấm cao nhất, nguồn nguyên liệu chính là
rơm lại rất phong phú do là vựa lúa của huyện Phú Vang, nơi đây đã trở thành
“vựa nấm” của huyện Phú Vang và của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đặc biệt, sản
phẩm làm ra được tiêu thụ ngay mà không sợ tồn đọng nhờ có thị trường tiêu thụ
mạnh là thành phố Huế, nơi có mức sống đang ngày một nâng cao và cũng là
trung tâm Phật giáo lớn của cả nước. Sản phẩm còn được các tỉnh bạn quan tâm
và ưa chuộng. Với những điều kiện đó thì nghề trồng nấm ở Phú Lương rất có
triển vọng phát triển. Thế nhưng theo các báo cáo gần đây của xã thì số lượng hộ
trồng nấm tuy có tăng nhưng rất ít, khoảng 10 hộ/năm. Thêm vào đó hầu hết quy
mô sản xuất ở đây thuộc loại nhỏ trong hộ gia đình, khó có thể hình thành các
mặt hàng xuất khẩu, tăng giá trị sản phẩm. Quy mô sản xuất của các hộ gia đình
thường là 2 nhà vòm, cao nhất là 3 nhà vòm. Số hộ chuyên trồng nấm rất ít và ở
đây chưa xuất hiện quy mô trông nấm kiểu trang trại. Quy mô sản xuất tập trung
lớn chỉ có ở hợp tác xã(HTX) Phú Lương 1. Như vậy nghề trồng nấm ở đây
chưa phát triển đúng so với tiềm năng.
3

Để nấm Phú Lương phát triển và trở thành một thương hiệu có uy tín trong
nước và có thể xuất khẩu ra nước ngoài cần có những quan tâm để ngành có
điều kiên phát triển. Nhưng để phát triển đúng hướng cần có những nghiên cứu

thay thế), không làm tăng lượng cholesterol trong máu. Ngoài giá trị dinh
dưỡng, nấm rơm có thành phần chất xơ tương đối cao và thành phần lipid thấp
nên có khả năng phòng trừ bệnh về huyết áp, chống béo phì, xơ cứng động
mạch, chữa bệnh đường ruột.[2]
2.2. Những thuận lợi đối với việc trồng nấm
Có nguồn nguyên liệu rẻ và dồi dào. Nguyên liệu trồng nấm rơm chủ yếu là
các phế phẩm nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa (rơm) có rất nhiều ở các địa
phương. vừa góp phần giải quyết về mặt vệ sinh đồng ruộng, đồng thời góp phần
tạo nên sản phẩm mới. Đặc biệt rơm sau khi trồng nấm còn có thể sử dụng làm
phân bón trong trồng trọt. Đa phần người dân ở xã sống chủ yếu bằng nghề
nông, trong đó trồng lúa là chính nên lượng rơm rạ sau khi thu hoạch lúa là rất
lớn. Bình quân 1 tấn lúa sẽ có được khoảng 1,2 tấn nguyên liệu trồng nấm (rơm,
rạ). Nếu kể đến các phế phẩm khác như: mạt cưa, lục bình, bã mía,… thì khu
vực sẽ có nguồn nguyên liệu rất lớn để trồng nấm rơm. Trồng nấm không cần
5

nhiều diện tích, chủ yếu là tận dụng những khoảng trống quanh nhà để chất nấm
như: sân vườn, mái hiên, …
Giải quyết được lao động nhàn rỗi trong mùa lũ tại địa phương, thay vì phải
đi làm thuê, làm mướn. Bên cạnh lao động chính trong nông hộ thì các lao động
phụ cũng có thể tham gia trồng nấm rơm được như tham gia vào khâu thu hoạch
nấm, phân loại,… không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao.
Nấm rơm dễ trồng, không yêu cầu kỹ thuật phức tạp nên mô hình trồng
nấm rơm có thể áp dụng cho cả người Kinh lẫn người Khmer thông qua các
chương trình tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật.
Chi phí đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh: nhiều hộ nông dân nghèo hoặc
hoàn cảnh khó khăn không thể đầu tư vốn để sản xuất những giống cây trồng vật
nuôi đắt tiền, chậm thu hồi vốn, có rủi ro trong sản xuất,… Trong khi đó, vốn
đầu tư cho sản xuất nấm rơm không cao, vòng quay vốn nhanh,… sau 21 ngày
là có thể thu hoạch.

1975 916.000
1979 1.210.000
1986 2.182.000
1990 3.763.000
1994 4.090.000
2005 20.000.000
(Nguồn: Nguyễn Hữu Đống. 2002.)
Sản lượng nấm của các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì do
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là chính.
Hiện tại Trung Quốc vẫn là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, năm 1995
sản lượng nấm của Trung Quốc đạt 3 triệu tấn chiếm 60% sản lượng, riêng tỉnh
Phúc Kiến 800000 tấn. Qua bảng ta có thể thấy sản lượng nấm của Trung Quốc
lớn hơn rất nhiều so với tổng của các nước còn lại
Bảng 2: Sản lượng Nấm của một số nước trồng năm 1994
TT Tên quốc gia Sản lượng (tấn)
1 Trung Quốc 2.850.000
2 Hoa Kỳ 393.000
3 Nhật 360.000
4 Pháp 185.000
5 Indonesia 118.000
7

6 Hàn Quốc 92.000
7 Hà lan 88.500
8 Italia 71.000
9 Canada 46.000
10 Anh 28.500
Nguồn: Nguyễn Hữu Đống. 2002
Thập kỷ 80 của thế ky 20, tổng khối ượng nấm ăn giao dịch trên thị trường
thế giới là 300.000-350.000 tấn/ năm. Bình quân mỗi người châu Mỹ tiêu dùng

với hàng ngàn hộ tham gia. Tuy nhiên, đến năm 1996, do nhiều nguyên nhân
nên chỉ còn lại Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc, và một số cơ sở nhỏ lẻ khác.
Sự tăng trưởng của ngành trồng nấm ở miền Bắc trong những năm trước
đây là không đồng đều. từ năm 1988 đến 1997, sản lượng tăng không đáng kể,
chỉ sau năm 1998 thì sản lượng tăng rất nhanh.
Bảng 3: Sản lượng nấm ở các tỉnh phía Bắc từ 1994 - 2005
Năm Sản lượng (tấn)
1994 60
1995 50
1996 50
1997 120
1998 1,000
1999 5,000
2000 10,000
2005 50,000
Nguồn: Nguyễn Hữu Đống. 2002
Các tỉnh Đông bằng sông Cửu Long và miền Nam đang phát triển nghề
trồng nấm rơm rất nhanh. Sản lượng tăng theo cấp số nhân: năm 1990 mới đạt
vài tấn/năm thì hiện nây đạt trên 100.000 tấn/ năm. ĐBSCL cung ứng phần lớn
nấm rơm cho cả nước, là khu vực có đủ các điều kiện để phát triển mạnh nghề
trồng nấm rơm như:
- Điều kiện tự nhiên: các tỉnh phía Nam có sự chênh lệch về nhiệt độ giữa
tháng nóng và tháng lạnh là không lớn lắm nên có thể trồng nấm rơm quanh
năm.
- Bình quân 1 tấn lúa sẽ có được khoảng 1,2 tấn nguyên liệu trồng nấm
(rơm, rạ). Nếu kể đến các phế phẩm khác như: mạt cưa, lục bình, bã mía,… thì
khu vực sẽ có nguồn nguyên liệu rất lớn để trồng nấm rơm.
9

- Trồng nấm không cần nhiều diện tích, chủ yếu là tận dụng những


2.5 Quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ.
2.5.1. Quy mô sản xuất.
Tại châu Âu, nơi mà nghề trồng nấm đã phát triển lâu đời và có sự hậu
thuẫn vững chắc của nền khoa học tiên tiến, việc sản xuất nấm phát triển rất
mạnh và được cơ giới hóa cao với những trang trại sản xuất từ 200 đến 1000 tấn/
năm. Ở một số nước Châu Á khác, trồng nấm được phát triển theo quy mô thủ
công, quy mô hộ gia đình nên năng suất còn thấp. Tuy nhiên do được trồng trên
diện tích lớn nên sản lượng đạt rất cao. Trung Quốc là ví dụ điển hình. Trung
Quốc bắt dầu trồng nấm từ năm 1973, đến 1980 đã đạt sản lượng đứng thứ 3 thế
giới và hiện nây đang dẫn đầu.
Quy mô trồng nấm của Việt Nam chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, một số nơi
đã hình thành những trang trại nấm hiệu quả. Tuy nhiên những trang trại nấm lại
tập trung ở 2 đầu đất nước, còn ở miền Trung vẫn chưa phát triển. Những vùng
trông nấm đạt hiệu quả đó chủ yếu là các hợp tác xã, những người có điều kiện
kinh tế, kỹ thuật. Tuy nhiên số lượng này còn khiêm tốn với tiềm năng sẵn có.
2.5.2. Thị trường tiêu thụ
Tiêu thụ nấm lớn nhất vẫn là các thị trường Mỹ, Nhật, và các nước châu Âu
nơi mà giá trị của nấm rất cao. Đây được coi là thị trường tiềm năng cho Việt
Nam. Tại đây, giá 1 kg nấm cao hơn rất nhiều giá 1kg thịt bò tại Việt Nam. Đã
có rất nhiều hãng sản xuất nấm từ nước ngoài đến Việt Nam để tìm hiều vấn đề
sản xuất nấm và cơ hội đầu tư.
11

Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ trồng nấm tại xã Phú Lương – Huyện Phú
Vang.
3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa điểm nghiên cứu
4.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu:
Xã Phú Lương là một xã vùng ven thành phố, cách thành phố Huế khoảng
10 km, có vị trí địa lý thuận lợi:
+ Phía Bắc giáp với Phú Hồ, Phú Xuân- Phú Vang
+ Phía Nam giáp với Phú Đa-Phú Vang
+ Phía Tây giáp với Hương Thủy
+ Phía Đông giáp với Phú Xuân
Do có vị trí giáp với các xã khác nên thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế,
văn hóa, xã hội. Đặc biệt, xã có đường bên tông tỉnh lộ 10 chạy ngang qua, càng
thuận tiện cho việc lưu thông, trao đổi buôn bán giữa các vùng.
Vị trí xã Phú Lương trong Bản đồ huyện Phú Vang
14

- Thời tiết, khí hậu
Xã Phú Lương cũng như các xã khác của huyện Phú Vang đều chịu sự chi
phối chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng của khí
hậu đại dương, vì vậy có những đặc trưng về thời tiết, khí hậu là: Nhiệt độ cao
đều quanh năm (25
o
C – 39,8
o
C), lượng mưa biến động theo mùa khá rõ ràng
(mùa mưa và mùa khô) và chịu ảnh hưởng nhiều của bão. So với các vùng khác
của huyện Phú Vang thì xã Phú Lương nằm trong tiểu vùng có điều kiện khí hậu
thời tiết thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm, mang lại hiệu quả kinh tế cho
người dân.

bước đầu khởi sắc, đem lại hy vọng lớn đối với người lao động. Việc quy hoạch
lại cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ để từng bước đưa một
vùng trồng nấm lâu đời thành một làng nghề phục vụ cho du lịch, ẩm thực sẽ là
thuận lợi lớn trong việc giải quyết việc làm cho người dân trong những năm sắp
tới.
4.1.3 Tình hình sử dụng đất đai của địa phương
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã Phú Lương là 1.811 ha, bao gồm
đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa được sử dụng. Trong đó, đất
nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, năm 2007 chiếm 71,25% và năm 2008, 2009
chiếm 68,23% trong tổng số đất tự nhiên chứng tỏ đa số người dân của xã Phú
Lương phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Đất sử dụng cho việc
trồng cây hàng năm chiếm diện tích khá cao, lên tới 1.183,52 ha năm 2007 và
1.138,37 ha năm 2008, 2009, trong khi đó thì diện tích sử dụng cho trồng cây
lâu năm chỉ là 8,83 ha năm 2007, và 16,00 ha năm 2008, 2009. Qua đó, ta thấy
được thu nhập chính của người dân ở đây là chủ yếu dựa vào việc sản xuất các
loại cây ngắn ngày, thu hoạch cho năng suất cao. Đặc biệt, diện tích trồng nấm
chiếm rất nhỏ so với diện tích trồng cây hàng năm nhưng nó cũng góp phần vào
việc tăng sản lượng cây trồng, năng suất, mang lại kinh tế cho toàn xã.
Diện tích đất nông nghiệp của toàn xã một số năm có xu hướng giảm
xuống, trong 3 năm gần đây thì diện tích đất nông nghiệp năm 2008 đã giảm
95,76% so với năm 2007, và cơ cấu diện tích đất giữa 2 năm 2008, 2009 vẫn
không đổi và lý do của việc giảm diện tích đất nông nghiệp là người dân một
phần đã chuyển đất sản xuất thành đất ở, đất chuyên dùng. Và vấn đề đặt ra là
làm sao cho quy hoạch phải đồng đều giữa đất ở và đất sản xuất, để tránh tình
trạng một số hộ dư thừa đất ở, hoặc có hộ gia đình thiếu đất sản xuất, để tránh
ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập, ổn định sản xuất, đời sống cho mỗi hộ
gia đình.
16

Bảng 4: Cơ cấu và tình hình sử dụng đất đai của xã 2007 - 2009

xã hội của vùng.
Xã đã chú trọng trong việc phát triển dịch vụ, thương mại, xây dựng chợ của
xã cho đi vào hoạt động, nhằm tạo việc dễ dàng trong trao đổi, mua bán hàng hóa,
dịch vụ. Các loại hình dịch vụ giải trí, giải khát ngày một phát triển. Và đặc biệt,
loại hình dịch vụ cung ứng vật tư được phát triển, đáp ứng cung ứng vật liệu đầu
vào cho người dân, đảm bảo cho việc sản xuất ổn định.
• Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Xã đã tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả việc phát triển
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng một số ngành nghề có trên địa bàn như cơ
khí phục vụ nông nghiệp, mộc, nề, may mặc v.v…
Hơn nữa, xã đã duy trì thực hiện việc ứng dụng KHKT vào sản xuất, meo nấm
rơm và nấm dược liệu có giá trị kinh tế cao.
• Về sản xuất nông nghiệp
+ Trồng trọt:
Tổng diện tích gieo trồng năm 2009 là 2218,4 ha đạt 100,8% tăng 0.6% năm
2008.
Trong đó diện tích lúa: 2200,4 ha đạt 102% kế hoạch, tăng 0,7% năm 2008;
Do triển khai có hiệu quả tăng năng suất cuối vụ đạt năng suất 58,88 tạ/ha đạt
96,5%, sản lượng 12.956 tấn đạt 98,4% kế hoạch.
Diện tích màu và cây công nghiệp: 18 ha đạt 41% kế hoạch.
+ Chăn nuôi:
Đối với lĩnh vực nuôi cá nước ngọt, trong năm thực hiện được 01 vụ với 25,7
ha, tổng thu 750.000 đồng – 800.000 đồng/ha. Hiện tại, công tác nuôi các được
nhân dân hưởng ứng chưa cao do nhiều nguyên nhân như kỹ thuật nuôi cá còn
18

thiếu, việc đầu ra không được ổn định. Bên cạnh đó, bờ bao khoanh vùng, thửa
cũng chưa được đảm bảo.
Việc tích cực trong công tác khuyến nông, đưa con giống, đảm bảo nuôi gia
súc, gia cầm đúng kĩ thuật, phòng trừ dịch bệnh đã phát triển chăn nuôi của xã.

yếu ở 3 thôn là Đông B, Lê Xá Đông, Vĩnh Lưu với 345 hộ, chiếm 71,5%. Với số
lượng hộ trồng nấm như trên, nếu có điều kiền đầu tư và các hỗ trợ khác thì đây
hoàn toàn có khả năng trở thành vùng chuyên canh nấm của huyện Phú Vang và cả
Thừa Thiên Huế.
Bảng 5: Số hộ trồng nấm ở các thôn tại xã Phú Lương
Thôn
Tổng
số hộ
Số hộ SX
nấm
Tỷ lệ
%
Lê Xá Đông 200 120 60,00
Vĩnh Lưu 202 150 74,26
Đông B 125 95 76,00
Khe Xá 105 30 28,57
Đông A 70 16 22,86
Giang Trung 81 11 13,58
Giang Tây 125 38 30,40
Lê Xá Tây 234 25 10,68
Lương Lộc 129 10 7,75
Lê Xá Trung 60 15 25,00
Toàn xã 1331 510 38,32
Nguồn: báo cáo Kinh Tế -Xã hội của UBND xã Phú Lương năm 2010
Tuy nhiên theo điều tra khảo sát thì số lượng hộ trồng nấm tại xã Phú Lưong
tăng lên rất chậm. Thôn Lê Xá Đông năm 2007 có 120 hộ làm nấm thì đến nay vẫn
chưa có thêm hộ sản xuất mới, hoặc như thôn Vĩnh Lưu chỉ tăng lên 30 hộ, thôn
Đông B chỉ tăng thêm 5 hộ. Như vậy việc mở rộng quy mô sản xuất nấm về mặt số
lượng hộ đang còn rất ít. Đây chính là điểm cần phải nghiên cứu và sẽ được lý giải
ở các phần tiếp theo.

chính quyền địa phương về kĩ thuật, giống, vốn thì chắc chắn cùng với kinh nghiệm
sẵn có của mỗi hộ gia đình sẽ phát triển được làng nghề trồng nấm ở xã Phú Lương.
21

4.2.2 Tình hình sử dụng đất
Bảng 7: Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra năm 2010 (Tính
BQ/hộ)
Chỉ tiêu Hộ nghèo Hộ không nghèo Tổng
Đất trồng lúa Sào 12,38 19,46 18,20
Đất trồng nấm Sào 0,09 0,114 0,110
Đất nhà ở Sào 0,18 0,33 0,30
Đất trồng màu Sào 0,50 0,14 0,20
Số vòm nấm cái 1,63 2,19 2,09
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2010)
Diện tích bình quân của các hộ trồng nấm tại địa phương là 18.8 sào trong đó
đất nhà ở là 0,35 sào chiếm còn đất canh tác là 19,6 sào chiếm và diện tích đất canh
tác được mỗi hộ gia đình xã Phú Luơng phần lớn sử dụng cho việc trồng lúa, cứ
mỗi hộ trung bình có 18.2 sào ruộng, thu hoạch mỗi năm 2 vụ, đem lại thu nhập
chính cho người dân. Bên cạnh đó, người dân sử dụng một phần đất để trồng nấm
rơm, tuy diện tích không lớn chỉ chiếm 0,44% trong tổng số đất canh tác, do công
đầu tư, chi phí sản xuất thấp do đó mỗi hộ luôn có 2-3 vòm nấm để sản xuất quanh
năm, tuy được xem là lĩnh vực phụ trong việc phát triển kinh tế hộ nhưng nó lại là
nghề mang lại giá trị kinh tế cao(số liệu điều tra năm 2010)
Tuy nhiên qua bảng 7 ta có thể thấy được sự chênh lệch về việc sử dụng đất
giữ các nhóm hộ chủ yếu là chênh lệch về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất
màu, đất ở, còn diện tích đất để sản xuất nấm không chênh lệch nhau là bao nhiêu.
Điều đó cho thấy diện tích đất trồng nấm không phải là yếu tố ảnh hưởng lớn đến
việc xản xuất nấm. Nhưng nếu xét về khả năng mở rộng thêm số vòm nấm thì rõ
ràng là nhóm hộ nghèo kém ưu thế hơn do diện tích nhà ở của họ thấp hơn nhiều.
Nhưng ta vẫn thấy diện tích, quy mô từ 1đến 3 vòm vẫn còn rất nhỏ, khó có

nước, đây là tư liệu sản xuất có giá trị cao nhất trong số các tư liệu người dân sử
dụng. Người dân sử dụng máy bơm nước phục vụ cho việc làm sạch rơm, và ủ rơm
trong giai đoạn đầu của việc trồng 1 lứa nấm, và có thể dùng kết hợp với hệ thống
ống dẫn để thay cho việc bơm tưới nấm, giảm công lao động. Số lượng máy bơm
nước của các hộ không nghèo là 0,95 cái, tức là trung bình các hộ này đều có máy
bơm, đối lập hoàn toàn với nhóm hộ nghèo với 0,375 cái, và trên thực tế còn thấp
hơn. Có tình trạng này là do chi phí cho mỗi máy bơm nước cao, khoảng 730,5
nghìn đồng và có thể sử dụng được khoảng 3-4 năm. Vì thế nhóm hộ nghèo vẫn sử
dụng các phương pháp truyền thống dùng bình tưới với giá rẻ hơn rất nhiều,
khoảng 150 nghìn đồng/ cái và sử dụng rất lâu, hầu như là chưa phải thay cái mới.
Để đóng rơm vào bịch nilon thì người dân sử dụng trung bình từ 2-3 khuôn
đạp (tuỳ theo số lượng thành viên tham gia), với khoảng 400-600 bánh rơm thì có
23

thể hoàn thành chỉ trong vòng 1 buổi với 3 công lao động. Và chi phí cho việc mua
khuôn đạp chỉ mất trung bình khoảng 80 nghìn đồng. Vì thế số lượng khuôn đạp
chỉ phụ thuộc vào số lao động.
Cũng theo bảng 8, thì chỉ có đầu tư cho nilon để đóng bánh là không có sự
chênh lệch giữa các nhóm hộ. Điều này rất dễ lý giải vì lượng nấm trồng của các hộ
giống nhau cho một vụ. Nilon dung để đóng bao định hình các bánh nấm, tạo môi
trường thuận lợi cho meo giống phát triển. Nilon được bán theo kg và người dân
mua về tự cắt cho phù hợp với việc đóng bánh.
Quạt sưởi là một phương tiện kỹ thuật mới được phát hiện để giúp cho việc
sản xuất nấm vào mùa lạnh. Đây là loại quạt dùng để sưởi ấm vào mùa đông nhưng
lại được sử dụng như 1 tư liệu sản xuất. Quạt sưởi này có giá khoảng 400.000 đồng
và chỉ mới được một số ít hộ không nghèo sử dung, các hộ còn lại vẫn chưa dám
đàu tư vì chưa thấy được hiệu quả của nó, và cũng theo phần lớn trong họ thì
phương pháp cư của họ là đủ để họ sản xuất.
Nilon dung để đóng bao định hình các bánh nấm, tạo môi trường thuận lợi cho
meo giống phát triển. Nilon được bán theo kg và người dân mua về tự cắt cho phù

Khác 2538 11,26 14068 29,82
Tổng 22532 100 47167 100
(Nguồn: Số liệu điều tra 2010)
Theo Bảng 9, ta thấy được rằng nguồn nấm đóng vai trò rất lớn đối với thu
nhập kinh tế của hộ. Tuy nhiên mức độ đóng góp của nó ở mỗi nhóm hộ là không
như nhau. Ở nhóm hộ nghèo tỷ lệ này là 38.55%, trong khi tỷ lệ đố ở hộ không
nghèo là 33,16, như vậy tỷ trọng đóng góp của nấm đối với hộ nghèo cao hơn hộ
không nghèo. Tuy nhiên so sánh tỷ lệ giữa sản xuất nấm rơm ở hộ nghèo đối với
lúa lại nhỏ hơn ở hộ không nghèo. Thêm vào đó số tiền thu được từ trồng nấm
cũng tăng khi thu nhập từ lúa, như vậy sản xuất nấm và sản xuất lúa có mối quan hệ
hữu cơ. Có được điều này là do sản xuất lúa tạo ra nguyên liệu để phát triển nấm,
khi nguồn nguyên liệu dồi dào thì việc sản xuất nấm cuang phát triển. Thêm vào
việc nấm ban đầu chỉ là để tận dụng nguồn phế liệu để tăng gia sản xuất thoát
nghèo.
25

Trích đoạn Nguồn lực con người Sự đóng góp, hỗ trợ của chính quyền và các ban ngành liên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status