Đề tài nghiên cứu chương trình ngữ dụng trong sách giáo khoa trung học phổ thông – ban khoa học tự nhiên - Pdf 13

Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

PHẦN MỞ ĐẦU
Nội dung kiến thức ngữ dụng đã được đưa vào giảng dạy trong nhà
trường, thuộc phân môn Tiếng Việt nhằm mục đích rèn luyện cho học sinh kỹ
năng sản sinh, khả năng lĩnh hội lời nói, lời viết. Trong chương trình phổ thông
trung học, kiến thức ngữ dụng được phân chia đồng đều cho cả ba khối líp 10,
11, 12. Kiến thức ngữ dụng được giảng dạy trực tiếp không chỉ trong các bài dạy
thuộc phân môn Tiếng Việt mà còn được tích hợp trong một số bài dạy thuộc
phân môn Làm Văn. Vì ngữ dụng là một ngành khoa học còn khá mới mẻ, nên
việc xem xét, nhận định về nội dung giảng dạy ngữ dụng trong chương trình
trung học phổ thông là một việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học
phân môn Tiếng Việt nói chung và phần kiến thức Ngữ dụng nói riêng.
Trong rất nhiều hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng dạy và học, chính
thức trắc nghiệm khách quan đang ngày càng phát huy hiệu quả và được sử
dụng rộng rãi. Kết hợp với câu hỏi tự luận ngắn, trắc nghiệm khách quan góp
phần đa dạng hoá cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập với bộ môn Ngữ
Văn, trong đó phân môn Tiếng Việt là một mảnh đất tốt cho sự thể nghiệm của
phương pháp trắc nghiệm. Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan và tự luận cho các bài học thuộc phân môn Tiếng Việt là
một việc làm cần thiết trong công tác giảng dạy.
Do vậy, chuyên đề chúng tôi chọn đề tài: Vài nét về chương trình ngữ
dụng trong sách giáo khoa Trung học Phổ thông – ban Khoa học tự nhiên.
Triển khai đề tài này, hi vọng chuyên đề sẽ góp phần đem lại hiệu quả cho việc
giảng dạy và tiếp nhận ngữ dụng trong bậc Trung học Phổ thông.
1
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

PHẦN NỘI DUNG

quan hệ khoảng cách, còn gọi là trục thân cận. Quan hệ này có thể thay đổi Ýt
2
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

hoặc nhiều trong quá trình giao tiếp. Thường thì quan hệ quyền uy sẽ giữ
nguyên trong quá trình giao tiếp còn quan hệ khoảng cách có thể thay đổi.
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình
thức diễn ngôn. Trong các ngôn ngữ, đặc biệt là trong Tiếng Việt, xưng hô chịu
áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân.
Hiện thực ngoài diễn ngôn: trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu tố vật
chất, xã hội, văn hoá có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng
không được nói đến trong diễn ngôn trong quá trình giao tiếp được gọi là hiện
thực ngoài diễn ngôn (đối với ngôn ngữ thì là hiện thức ngoài ngôn ngữ).
Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực ngoài
diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức. Khi đã trở thành hiểu biết của
những người giao tiếp ( và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì hiện thực
ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp
của ngôn ngữ.
Hiện thực - đề tài của diễn ngôn: khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp sử
dụng diễn ngôn của mình để nói về một cái gì đó. Cái được nói tới là hiện thực -
đề tài của diễn ngôn.
Hiện thực – đề tài của diễn ngôn trước hết bao gồm những cái tồn tại, diễn
tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn; cái thuộc tâm giới của
con người nh cảm xúc, tư tưởng, nguyện vọng Hiện thực - đề tài của diễn ngôn
còn là bản thân ngôn ngữ.
Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết về thế giới, vật lý, sinh lý,
tâm lý, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời
điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp.
Thoại trường: được hiểu là cái không – thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp

I. Cấu trúc chương trình:
Trong chương trình phổ thông trung học, kiến thức ngữ dụng được phân chia
đồng đều cho cả ba khối líp 10, 11, 12. Kiến thức ngữ dông được giảng dạy trực
tiếp không chỉ trong các bài dạy thuộc phân môn Tiếng Việt mà còn được tích hợp
trong một số bài dạy thuộc phân môn Làm Văn. Đây là xu hướng tích hợp kiến
thức trong giảng dạy Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông hiện nay. Tuy nhiên,
trong chuyên đề này, chúng tôi không đi vào tìm hiểu nội dung ngữ dụng trong
phân môn Làm Văn, mà chỉ đi vào nhận xét những nội dung ngữ dụng được thể
hiện trực tiếp trong phân môn Tiếng Việt ở cả ba khối líp 10, 11 ,12.
Cấu trúc chương trình ngữ dụng ở bậc trung học phổ thông trong phân
môn Tiếng Việt được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:
STT Líp Nội dung dạy ngữ dụng Ghi chó
1. SGK 10 – T1.
Ban khoa học tự nhiên.
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ (thế nào là hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ).
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ (tiếp theo) (luyện tập).
Bài 1 –
trang 14.
Bài 2 –
trang 20.
5
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

2. SGK 11 – T1.
Ban khoa học tự nhiên.
- Ngữ cảnh

những kiến thức cơ bản, đồng thời có thời gian luyện tập về những nội dung
kiến thức vừa lĩnh hội. Nội dung ngữ dụng trong chương trình líp 10 chiếm 20%
chương trình Tiếng Việt (kể cả phần Ôn tập cuối năm). Đây là một tỉ lệ hợp lí.
Cấu trúc chương trình ngữ dụng líp 10 có hai tiết, chia làm hai phần: tiết 1 học
sinh làm quen với lý thuyết; tiết 2 dành cho luyện tập.
2. Chương trình sách giáo khoa líp 11
Trong sách giáo khoa Ngữ Văn líp 11, phân môn Tiếng Việt, kiến thức
ngữ dụng được giới thiệu trong một bài “Ngữ cảnh”, giới hạn trong một tiết,
6
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

chiếm gần 8,5% cấu trúc chương trình Tiếng Việt (kể cả bài Ôn tập). So với líp
10, tỉ lệ nội dung ngữ dụng đưa vào sách giáo khoa ở líp 11 có giảm đi. Nhưng
trên thực tế, trong một tiết học, rất nhiều kiến thức được đưa ra cho học sinh
(khái niệm, các nhân tố của ngữ cảnh, vai trò của ngữ cảnh) kèm theo đó là mét
khối lượng bài tập nhất định. Do vậy, kiến thức ngữ dụng đưa vào líp 11 vẫn
đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng.
3. Chương trình sách giáo líp 12
Trong sách giáo khoa líp 12, phân môn Tiếng Việt, kiến thức ngữ dụng
được giới thiệu trong một bài “Hàm ý hội thoại”, giới hạn trong ba tiết.
Cấu trúc chương trình ngữ dụng ở líp 12 chia đều cả lí thuyết và luyện tập
ở ba tiết. Trong từng tiết học, học sinh vừa được tiếp cận với các nội dung kiến
thức vừa được thực hành. Việc phân chia cấu trúc chương trình như vậy tạo điều
kiện cho học sinh vừa tiếp nhận vừa thực hành kiến thức. Mặt khác, cách phân
chia này còn phù hợp với nội dung kiến thức được đưa ra: trong ba tiết, học sinh
được tiếp cận với một khối lượng kiến thức khá lớn (khái niệm hàm ý hội thoại,
cách thức tạo câu có hàm ý). Chia nhỏ lí thuyết thành ba tiết có bài tập đi kèm là
hợp lý, phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh.
II. Mục tiêu bài dạy

Bài “Ngữ cảnh” yêu cầu học sinh đạt được một số chuẩn kiến thức sau.
- Trước hết, học sinh cần phải nắm được khái niệm “Ngữ cảnh” trong hoạt
động giao tiếp cùng với những nhân tố của ngữ cảnh (nhân vật giao tiếp, bối
cảnh ngoài ngôn ngữ bao gồm bối cảnh giao tiếp rộng, bối cảnh giao tiếp hẹp,
hiện thực được nói tới, văn cảnh).
- Học sinh lý giải được vai trò quan trọng của ngữ cảnh đối với hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ: ảnh hưởng đến cả người nói (người viết) với quá trình
sản sinh lời nói, câu văn và người nghe (người đọc) với quá trình lĩnh hội lời
nói, câu văn.
- Ngoài ra, học sinh cần phải nắm được kĩ năng nói và viết phù hợp với
ngữ cảnh, có năng lực nhận thức và lĩnh hội được lời nói trong mối quan hệ với
ngữ cảnh, có khả năng giải mã lời nói trong từng ngữ cảnh cụ thể.
Dung lượng kiến thức mà bài “Ngữ cảnh” đưa ra tương đối lớn trong thời
gian mét tiết học. Tuy vậy, học sinh líp 11 đã được làm quen với các khái niệm
nh: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp trong nội dung
ngữ dụng líp 10, vì vậy các em không gặp khó khăn khi tiếp nhận bài học này.
3. Chương trình sách giáo khoa líp 12.
8
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

Ở chương trình sách giáo khoa líp 12, phân môn Tiếng Việt, kiến thức
ngữ dụng được thể hiện ở một đơn vị kiến thức “Hàm ý hội thoại”, giới hạn
trong ba tiết.
Qua ba tiết học về “Hàm ý hội thoại”, học sinh phải đạt một số chuẩn
kiến thức sau.
- Học sinh cần nắm được là khái niệm “Hàm ý hội thoại”, nhận diện được
hàm ý mà người nói, người viết gửi gắm trong phát ngôn, từ đó hiểu đúng ý của
người nói.
- Học sinh lÝ giải được hàm ý trong hội thoại, mối liên quan giữa tác

nên học sinh dễ tiếp nhận, dễ ghi nhí ngay kiến thức.
- Về cấu trúc bài học: cÊu trúc bài học chia làm 2 phần: lí thuyết “thế nào
là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” và “bài tập” vào 2 tiết tách rời nhau.
Học sinh có điều kiện về thời gian để có thể nắm chắc lí thuyết và chuẩn bị bài
tập ở nhà trước. Học sinh sẽ phát huy được tính chủ động tích cực trong giê học
việc luyện tập sẽ có hiệu quả hơn,.
- Về ngữ liệu: trong phần 1, ngữ liệu Hội nghị Diên Hồng ngắn gọn, rõ
ràng, bảo đảm đủ thông tin cho học sinh phân tích để hiểu được hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ. Văn bản đưa ra đã quen thuộc với học sinh từ chương trình
Trung học cơ sở nên dễ tiếp cận, dễ trả lời chính xác các câu hỏi do sách giáo
khoa đặt ra.
Câu hỏi để phân tÝch ngữ liệu rõ ràng, dễ hiểu. Việc cã kèm theo câu hỏi
gợi mở giúp học sinh tiếp cận vấn đề từng bước là rất khoa học. Câu hỏi đặt ra ở
hai phần, có logic trình tự hợp lí. Mỗi câu hỏi đề cập đến một vấn đề của hoạt
động giao tiếp, đi từ đối tượng thực hiện hoạt động giao tiếp (nhân vật giao
tiếp), qua sự luân phiên lượt lời của hoạt động giao tiếp đến hoàn cảnh giao tiếp
để từ đó hiểu nội dung cuộc giao tiếp, nhằm mục tiêu cuối cùng là hiểu mục đích
giao tiếp, kết quả giao tiếp. Câu hỏi phân tích về các nhân tố chi phối hoạt động
giao tiếp được đặt ra với số lượng lớn là phù hợp với yêu cầu rèn luyện, nâng
cao kĩ năng phân tích, lĩnh hội và tạo lập văn bản trong giao tiếp của bài học.
Nhìn chung không có câu nào quá khó.
- Phần ghi nhí: súc tích, phân ý rành mạch và đảm bảo được những nội
dung kiến thức cơ bản nhất học sinh cần nằm được về hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ.
* Khuyết điểm
- Không thống nhất giữa đề mục bài học và phần ghi nhí:
10
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn


phương tiện nào?
11
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

Đưa thêm hoạt động này vào giê học, học sinh vừa hiểu rõ được về hoạt
động giao tiếp, vừa được áp dụng kiến thức vào thực tiễn để bước đầu hoàn
thành kĩ năng.
- Về ngữ liệu: ở mục 2, ngữ liệu được chọn là bài Tổng quan văn học Việt
Nam có dung lượng quá dài và ở mức độ khó đối với học sinh. Việc đưa ngữ liệu
dài sẽ làm học sinh phân tán, khó tập trung vào kiến thức cần nắm. Hơn nữa,
trong ngữ liệu, người tạo lập và người tiếp nhận văn bản đều không thể xác định
cụ thể, hoàn cảnh tạo lập giao tiếp cũng không rõ ràng, học sinh khó trả lời một
cách chính xác các câu hỏi. Nên chọn một đoạn trong văn bản hoặc thay bằng một
ngữ liệu ngắn hơn: một bài thơ, một bài ca dao hoặc một truyện cười dân gian.
* Kết luận
Như vậy, về cơ bản, nội dung lí thuyết về bài học “Hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ” được xây dựng khá rõ ràng, rành mạch, dễ tiếp cận, đảm bảo
tính khoa học và quy luật nhận thức cũng như tầm nhận thức của học sinh líp 10
Trung học Phổ thông. Một số tồn tại đã được nêu trên có thể dễ dàng khắc phục
trong quá trình giảng dạy.
1.2. Phần bài tập
Dung lượng bài tập gồm 5 bài.
* Ưu điểm.
- Hệ thống bài tập sách giáo khoa đưa ra về cơ bản đã thể hiện được
hướng tích hợp giữa 3 phân môn Văn – Tiếng Việt – Làm Văn.
Bài tập 1-2-3: tích hợp kiến thức Tiếng Việt và kiến thức Văn, cho học
sinh cơ hội áp dụng lí thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào việc lĩnh
hội, phân tích tác phẩm văn học. Ở bài tập 1, lÝ thuyết mà học sinh được ôn lại
qua bài tập này là lí thuyết về các nhân tố giao tiếp. Bốn câu hỏi mà bài tập đưa

Trong 45’ nếu học sinh có thể giải quyết được cả 5 bài tập trong sách giáo khoa,
giáo viên có thể linh hoạt cho thêm bài tập để học sinh về nhà làm để ôn tập lại
kiến thức một lần nữa.
2. Sách giáo khoa líp 11.
2.1. Phần Lí thuyết.
Bài “Ngữ cảnh”
* Ưu điểm.
- Về tính vừa sức: nội dung kiến thức đưa vào bài học là vừa sức với học
sinh bởi các khái niệm được nhắc đến trong bài đều là các khái niệm đã từng gặp
và được tìm hiểu ở líp dưới. Các yếu tố nhỏ Êy làm nên một khái niệm mới là
13
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

ngữ cảnh mà thôi. Do đó bài học gần như là một sự hệ thống lại kiến thức cho
học sinh dễ có cái nhìn khái quát về kiến thức, tránh sự nhỏ lẻ vụn vặt và nhầm
lẫn các khái niệm, chứ không mang tính chất trình bày kiến thức hoàn toàn mới.
- Về nội dung bài học: các nội dung được đưa ra rất linh hoạt và không
gây nhàm chán.
Mục “I. Khái niệm”: kiến thức được đưa ra theo hình thức quy nạp - đi từ
ví dụ cụ thể để đưa ra khái niệm. Cách đưa ngữ liệu đã có thể gây hứng thó cho
học sinh: đưa ra hàng loạt các câu hỏi và khẳng định theo lối phản đề: “Nếu đột
nhiên nghe được câu nói này, không biết bối cảnh sử dụng của nó thì khôn mét
ai có thể trả lời được những câu hỏi trên”.
Mục “II. Các nhân tố của ngữ cảnh”: kiến thức được đưa ra theo hình
thức diễn dịch - đưa ra khái niệm trước, sau đó mới lấy ngữ liệu và phân tích
ngữ liệu để mình hoạ làm sáng rõ.
Mục “III. Vai trò của ngữ cảnh”: kiến thức được hình thành ở dạng chắc
chắn, khẳng định.
- Về cấu trúc bài học: lí thuyết của bài “Ngữ cảnh” được phân bố rất rõ

với học sinh trung học phổ thông.
Ở phần II và III cũng vậy. Nên xây dựng theo cách đưa ra khái niệm và
yêu cầu học sinh từ khái niệm đó phân tích ngữ liệu để nhận diện trong ngữ liệu
các nhân tố của ngữ cảnh để từ đó rót ra vai trò của ngữ cảnh đối với người nói
(người viết) và người nghe (người đọc). Nh vậy, vừa kiểm tra được mức độ hiểu
khái niệm của học sinh vừa phát huy được tính tích dực, chủ động của học sinh
trong giê học.
- Về ngữ liệu: mục II.1 và II.2 đều sử dụng ngữ liệu là câu nói của chị Tí
và lời kể của tác giả trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam được đưa
ra từ phần I. Nhưng mục II.3 lại dùng ngữ liệu là bài thơ “Câu cá mùa thu” của
Nguyễn Khuyến làm mất đi tính hệ thống của ngữ liệu trong bài.
Do đó, hoặc là mục II.3 dùng ngữ liệu thống nhất với các mục trước.
Hoặc là mỗi mục lấy mét ngữ liệu khác nhau cho phong phú nội dung bài học.
(Có thể lấy truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao để phân tích khái niệm nhân
vật giao tiếp, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du để phân tích bối cảnh ngoài ngôn
ngữ).
- Về việc sử dông thuật ngữ: không thống nhất giữa thuật ngữ trong mục
II.3. Khi viết về văn cảnh, sau khi đưa ra khái niệm và phân tích ngữ liệu thì sách
giáo khoa kết luận: “Các từ ngữ này, và nói chung, tất cả các từ ngữ, câu thơ
trong bài tạo nên ngữ cảnh cho từ cần, ngữ cảnh đó làm cơ sở cho người viết
15
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

dùng từ cần và người đọc hiểu được nó”. Khi đang minh hoạ làm rõ khái niệm
văn cảnh thì ở trường hợp này phải sửa thành văn cảnh chứ không phải là ngữ
cảnh.
ĐÓ phù hợp với tầm nhận thức của học sinh phổ thông, các khái niệm
ngữ dụng đã được đơn giản hoá và biến đổi Ýt nhiều so với lí thuyết dụng học.
Ở đây là khái niệm “hiện thực được nói tới”. Như ở cơ sở lí thuyết đã trình bày

Hệ thống bài tập mà sách giáo khoa 11 đưa ra đã tận dụng được những cơ
sở kiến thức về văn học mà học sinh được cung cấp trước đó. Các ngữ liệu đưa
ra để tìm hiểu hầu hết đều quen thuộc với học sinh, có độ hấp dẫn nhất định. Bài
tập 2 sử dụng ngữ liệu là bài thơ “Tự tình II” (Hồ Xuân Hương); bài tập 3 sử
dụng ngữ liệu là bài thơ “Thương vợ” (Tó Xương); bài tập 4 sử dụng ngữ liệu là
bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” (Tó Xương). Các bài này đều có trong chương
trình giảng dạy ở các cấp học trước đó. Đây vốn là những bài thơ hay, vì vậy khi
đi vào phân tích dưới ánh sáng của Ngữ dụng học, học sinh có những hứng thó
và vui thích nhất định, từ đó tạo nên tâm lí tập trung và nhiệt tình cần thiết.
* Khuyết điểm
- Không thống nhất trong phân chia đề phần bài tập
Phần nội dung lí thuyết được chia thành 3 mục lớn I, II, III tương đương
nhau về mặt dung lượng kiến thức. Theo quy luật đó, phần luyện tập phải được
chia thành mục IV. Nhưng trong sách giáo khoa, phần luyện tập được tách riêng
ra và không được chia đề mục, điều đó thể hiện sự không thống nhất trong kết
cấu bài học.
- Lệnh bài tập chưa rõ ràng
Với câu lệnh “Căn cứ vào ngữ cảnh, hãy phân tích những chi tiết được
miêu tả trong hai câu sau”, học sinh khó xác định được “phân tích chi tiết” là
làm những công việc gì, sự phụ thuộc của chúng vào ngữ cảnh sẽ phải chỉ ra ở
phương diện nội dung hay hình thức. Lệnh bài tập có thể thay đổi nh sau: “Hãy
chỉ ra sù chi phối của ngữ cảnh (hoàn cảnh sáng tác) đến nội dung và hình thức
ngôn ngữ trong hai câu thơ sau”.
- Lỗi về khoa học sư phạm: Lệnh bài tập bị lặp từ một cách không cần
thiết: “Vận dụng hiểu biết về ngữ cảnh để lí giải những chi tiết của hình ảnh bà
Tó trong bài thơ “Thương vợ” của Tó Xương”. Nên thay đổi lệnh bài tập cho
ngắn gọn và cụ thể hơn. Ví dô: “Ngữ cảnh đã chi phối đến việc khắc họa hình
ảnh bà Tó trong bài thơ “Thương vợ” của Tó Xương như thế nào?”.
3. Sách giáo khoa líp 12.
17

phương pháp tích hợp trong dạy học ngữ văn. Từ hướng khai thác các tác phẩm
văn chương ở góc độ ngôn ngữ, ngữ dụng học này, học sinh có cái nhìn toàn
diện hơn, kĩ càng hơn về tác phẩm và rèn luyện thêm cách hiểu văn bản nghệ
thuật.
18
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

- Về câu hỏi phân tích ngữ liệu: cả 3 tiết, câu hỏi đặt ra đều rất rõ ràng,
rành mạch. Câu hỏi phần lớn đúng với nội dung kiến thức cần đạt được mà phần
ghi nhớ đã tổng kết.
Trong tiết 2 (Tác dụng của hàm ý) hệ thống câu hỏi phân tích ba ngữ liệu
đều hướng vào bốn tác dụng cơ bản thường gặp của hàm ý trong hội thoại được
nêu lên phần ghi nhí bốn, giúp học sinh hiểu và ghi nhớ kiến thức dễ dàng. Ví
dô ở ngữ liệu 1, học sinh có thể thấy một câu nói ngắn gọn của ông Lí chứa rất
nhiều Èn ý bên trong; ở ngữ liệu 2 câu trả lời của Mai trước thái độ quát tháo
của bà án: “Thưa cụ, đây là nhà tôi, chứ không phải là dinh quan tri huyện, xin
cụ nhớ cho” vừa thể hiện được tính lịch sự trong giao tiếp, vừa dự đoán được hiệu
quả mạnh mẽ của câu nói hàm ý đối với người nghe; ở ngữ liệu 3 các câu hỏi
không nhằm mục đích hỏi của Từ đều tìm “sự vô can, không phải chịu trách
nhiệm” về những nội dung rất tế nhị mà Từ muốn nói với Hộ. Những điều này
đều được hệ thống câu hỏi phân tích ngữ liệu gợi mở, dẫn dắt rất rõ ràng và đầy
đủ.
Trong tiết 3 (Một số cách tạo câu có hàm ý), hệ thống câu hỏi phân tích
ngữ liệu cũng thể hiện ưu điểm này.
Nh vậy, mỗi ngữ liệu đưa ra đều có thể chứa đựng tất cả các khía cạnh của
hàm ý hội thoại. Người biên soạn đã chọn nhiều ngữ liệu để tạo sự phong phú đem
lại hứng thó cho học sinh. Hơn nữa, hệ thống câu hỏi phân tích ngữ liệu cũng lại rất
sắc sảo khi tùy từng mục đích mà khai thác ngữ liệu ở mỗi góc độ khác nhau. Qua
cách xây dung chương trình này có thể rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh một

Bộc lé được một cách đắc ý quyền uy của mình
Bộc lé được sự mỉa mai, khinh miệt sự tuỳ tiện, cảm tính của đàn bà.”
Xuất hiện 2 tồn tại trong cách đặt câu hỏi phân tích ngữ liệu:
Thứ nhất, nội dung những phương án đưa ra cho học sinh lùa chọn chưa
toàn diện. Trong câu trả lời của ông Lí bộc lé cả sự hống hách, hách dịch bề trên
chứ không chỉ là đắc ý hay khinh miệt, từ chối. Do đó, đặt học sinh trong tình
huống lùa chọn này là không thực sự tối ưu.Có thể khắc phục bằng cách đưa
thêm một phương án lùa chọn nữa bao hàm được đủ các hàm ý của câu nói hơn:
“Khẳng định sự từ chối, bộc lé sự hống hách, quyền uy của mình và mỉa mai
bác Phô gái”
Thứ hai, đây là một văn bản đã được học sinh đọc hiểu trong chương trình
Văn thí điểm líp 12. Hơn nữa đối tượng tiếp nhận ở đây là học sinh líp 12
THPT, tầm tiếp nhận cũng như khả năng tư duy, phân tích đã phát triển ở mức
độ tương đối cao, do đó trước câu hái: “Lời đáp của ông Lí có hàm ý gì?” về
20
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

một văn bản đã quen thuộc, học sinh hoàn toàn có thể trả lời được. Việc đưa ra
phương án lùa chọn trong trường hợp này làm giảm cơ hội rèn luyện tư duy
còng nh khả năng phân tích của học sinh. Vì vậy ở câu hỏi này cũng hoàn toàn
có thể cất bỏ phần lùa chọn để học sinh chủ động khai thác và tiếp cận kiến thức.
Câu hái c trong ngữ liệu 1: “Có phải ông Lí nói một câu mà Èn chứa
nhiều hàm ý không?” là hoàn toàn thừa. Vì khi giải quyết câu hỏi b ở trên học
sinh đã có thể tự nhận ra được rất nhiều hàm ý trong câu nói của ông Lí. Mặt
khác, một câu hỏi mà câu trả lời chỉ đòi hỏi đúng hoặc sai với trình độ của học
sinh líp 12 là hoàn toàn không phù hợp. Do đó nên cắt bỏ câu hỏi c để hệ thống
câu hỏi phân tích ngữ liệu 1 được hợp lí.
Trong ngữ liệu 2, câu a đưa ra câu hỏi về hàm ý trong câu trả lời của Mai
nhưng lại để lé phần trả lời ngay trong lời hái: “nhưng Mai đã ôn tồn đáp lại

cố cho học sinh kiến thức về khái niệm “hàm ý hội thoại”. Lệnh bài tập ở cả hai
bài đều được chia nhỏ, vừa định hướng tìm hiểu cho học sinh vừa là những gợi ý
cần thiết để các em có thể giải quyết yêu cầu bài tập.
Bài tập 1 sử dụng ngữ liệu là truyện cười dân gian. Ngữ liệu bài tập 2 là
những tình huống có thể gặp trong cuộc sống. Sự đa dạng của ngữ liệu cho phép
học sinh làm quen với các tình huống khác nhau, rèn luyện sự linh hoạt trong
việc áp dụng kiến thức ngữ dụng trong học Văn và trong cuộc sống.
Bài tập 1 có sử dụng thuật ngữ “lượt lời”. Đây là một thuật ngữ đã được
giới thiệu cho học sinh trong chương trình cấp II. Do đó, sự xuất hiện của nó
trong lệnh bài tập là hợp lí. Các lệnh bài tập rõ ràng là điểm tựa cho học sinh đi
vào tìm hiểu hàm ý của người nói trong cuộc hội thoại đang phân tích.
- Khuyết điểm:
Số lượng bài tập quá Ýt. Phần luyện tập không chỉ để học sinh thực hành
trên líp, mà phải có một số bài tập nhất định để học sinh về nhà làm. Với hai bài
này, học sinh dễ dàng hoàn thành ngay trên líp. Do vậy, giáo viên phải linh hoạt
trong việc giao bài tập về nhà cho học sinh (từ 3 đến 4 bài) với độ khó tăng dần
(phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh líp 12).
Lệnh bài tập quá cụ thể, không cần thiết: “Những câu nói trên có phải để
thông báo về thời tiết hay hỏi về việc sở hữu đồng hồ không” (bài tập 2). Cần
thay đổi lệnh bài tập thành: “Phân tích hàm ý của người nói trong những tình
huống trên”.
22
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

Nhìn chung cả 2 bài tập đều tương đối dễ so với nhận thức của học sinh
líp 12. Nếu giáo viên ra thêm bài cho học sinh về nhà làm thì phải chú ý tăng độ
khó, tạo điều kiện cho học sinh thực hành, từ đó nắm vững kiến thức.
* Trong tiết 2.
- Ưu điểm:

Bài tập 4 được đánh giá là bài tập nâng cao so với 3 bài tập trên. Đặt trong
thời lượng 45’ của tiết học, học sinh không thể thực hành bài tập này trên líp mà
phải đem về nhà. Trong khi đó lệnh bài tập 4 đưa ra lại rất mơ hồ: “Hãy ghi lại
(hoặc nhớ lại)”. Lệnh bài tập còn lặp từ: “Hãy ghi lại (hoặc nhớ lại) hai cuộc
hội thoại, mét trong thực tế giao tiếp hàng ngày và một trong phim truyện có
dùng câu có hàm ý”. Có thể thay bằng lệnh: “Hãy ghi lại (hoặc nhớ lại) hai
cuộc hội thoại, 1 trong thực tế giao tiếp hàng ngày và một trong phim truyện sử
dụng dùng câu có hàm ý”.
* Trong tiết 3.
- Ưu điểm:
Ưu điểm nổi bật của ba bài tập là tích hợp kiến thức các phân môn Ngữ
Văn. Ba bài tập đều xoay quanh nội dung kiến thức này với độ khó khác nhau.
Với ba bài tập đưa ra, học sinh được một số cách thức tạo câu có hàm ý. Ngữ
liệu quen thuộc, phong phó.
- Khuyết điểm:
Đé khó của các bài chưa có sự phân hoá rõ rệt, chưa có bài tập nâng cao
thực sự.
Bài tập 1: bá qua lời dẫn ban đầu mà đi ngay vào ngữ liệu. Học sinh chưa
được chuẩn bị tâm thế. Có thể khắc phục bằng cách thêm lời dẫn: “Đọc đoạn
truyện sau và trả lời câu hỏi”
Bài tập 2: lệnh bài tập chưa rõ ràng. Gợi ý a nên đổi thành “câu hỏi của
nhân vật trong đoạn văn trên yêu cầu người đối thoại cung cấp thông tin gì?”
24
Bài tập chuyên đề Trần Thị Minh Trang - K54D
Ngữ văn

4. Nhận xét chung
4.1. Phần lÝ thuyết
Nội dung lí thuyết ngữ dụng được đưa ra trong chương trình trung học
phổ thông là vừa sức với học sinh ở mỗi líp. Những ngữ liệu đưa ra có chọn lọc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status