SKKN Một số biện pháp giúp học sinh làm quen với môi trường xung quanh - Pdf 13

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ THỦ THUẬT GÂY HỨNG THÚ CHO
TRẺ EM 5 – 6 TUỔI
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN HỌC :
“ LÀM QUEN VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bác Hồ kính yêu đã nói :
“ vì lợi ích mười năm trồng cây ,
Vì lợi ích trăm năm trồng người .”
Giáo dục Mâm Non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, chiếm vị
trí quan trọng. trong giáo dục Mầm non có nhiệm vụ dây xựng những cơ sở ban đầu, đặt
nền móng cho việc hình thành nhân cách con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia
đình, là tương lai của cả dân tộc, viêc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là trách
nhiệm của mơi người và của toàn xă hội và của cả nhân loại
Đây là thời điểm mấu chốt và quan trọng nhất, thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt
đầu:bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đội chân, đôi tay của
mình tất cả những cử chỉ đó đều làm lên nhưng thói quen,kể cả thói xấu.Chính vì vậy
chúng ta đã bước sang thế kỷ 21 thế kỷ nền văn minh trí tuệ, của nền khoa học hiện đại.do
vậy con người cần phải nãng động sáng tạo để phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Muốn được như vậy ngay từ tuổi ấu thơ trẻ MâmNon , Đặc biệt là trẻ 5- 6 tuổi đang ở
nhũng bước phát triển mạnh về nhận thức , tư duy ,về ngôn ngữ ,về tình cảm những thế
giới khách quan xung quanh thật bao la rộng lớn ,có biết bao điều mới lạ hấp dẫn , và còn
có bao lạ lẫm khó hiểu,trẻ tò mò muốn biết ,muốn được khám phá , cho nên giáo dục mầm
non dã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục thế hệ trẻ . Trách nhiệm nặng lề và cao cả
ấy tất cả thuộc về cô giáo Mầm Non tạo nên nền tảng vững chắc , là trặng đường khôn lớn
của trẻ . ở lứa tuổi này “ cái nảy sảy cái ung” chính vì vậy sự nhảy cảm và có trách nhiệm
cao là yêu cầu không thể thiếu trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , cô giáo phải rất linh
hoạt nhạy bén kịp thời , có năng lực và có tính chủ động sáng tạo .
Vậy giáo dục có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người nhất là ở tuổi

Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình . Tôi vận dụng vấn đề mà bài viết
này đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở chính đơn
vị trường tôi dang công tác .
V / Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công tác
chăm sóc cho trẻ mầm non ở độ tuổi 5- 6 tuổi sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực
cho quá trình hình thành nhân cách cho trẻ
VI / Phương pháp nghiên cứu
Trước hết bản thân phải nhận định được tình hình chung của đối tượng nghiên
cứu,sau đó đọc, phân tích, tổg hợp tài liệu tham khảo. Để xây dượng đề cương sáng kiến,
áp dụng sáng kiến và hoàn thành sáng kiến.
VII / Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong một năm học, từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 5 năm
2009 tại lớp Mẫu giáo 5 tuổi thôn Tư Sản, của trường Mầm Non Phú Túc
B – NỘI DUNG
I – TÌNH HÌNH THỰC TẾ
1/ Tình trạng trước khi thực hiện đề tài
a) thuận lợi :
Được sự quan tâm của Phòng GD - ĐT , thường xuyên tâm bồi dỡng chuyên môn cho giáo
viên .
Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ ,ham học hỏi nâng cao chuyên môn . Tìm tòi và tự làm
một số đồ dùng ,đồ chơi để phục vụ tiết dạy vào hoạt động vui chơi của trẻ .
Trẻ ở gần trường nên rất chăm đi lớp .
b ) Khó khăn :
Cơ sở vật chất thiếu thốn , phòng học chật hẹp , đồ dùng phục vụ tiết dạy còn rất thiếu
thốn như ,: những vật mẫu ,những con vật thật ,đồ vật
Góc tự nhiên còn nghèo , số cây ít ,loại cây cha phong phú , đồ chơi ,đồ dùng còn ít
Số trẻ ở lớp chưa qua nhóm lớp nhà trẻ , trẻ đến lớp 4 -5 tuổi chiếm 80 % , khả năng trẻ
tiếp thu chậm .
Vốn hiểu biết về môi trường xã hội còn hạn chế .

6- Nâng cao kỹ năng quan sát , so sánh và phân loại
7- Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất
NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ Xây dựng cơ sở vật chất
Đồ dùng ,trực quan , đồ chơi phục vụ tiết học nh : Bàn ,ghế ,bảng ,tranh , mô hình ,các từ
gắn với mỗi hình ảnh ,vật mẫu Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ cùng hoạt động .
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp ,hấp dẫn ,phong phú sinh động nhằm kích thích hứng thú
,tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ , tôi thường sử dụng đồ thật , vật thật hoặc hình ảnh động cho
tiết học sinh học .
dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ , tôi đề nghị với BGH nhà trường trang bị thêm thiết bị ,đồ
dùng dạy học như : Bảng ,tranh ảnh ,lôtô ,và với mỗi tiết cần có đồ dùng để phục vụ thật đầy đủ .
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng , tranh ,truyện , đặc biệt là tranh
,sách , ảnh về các con vật ,cây cối ,hoa lá ,quả , Su tầm những câu ca dao , tục ngữ ,đồng dao để
làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ .
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương như : ,
vải vụn ,coọng rơm khô , lá khô, hoa ép khô ,vỏ cây khô để làm tranh ảnh cho tiết dạy . Sưu tầm
các loại hạt , các loại vỏ trai ốc ,hến sò để bổ xung gia đồ chơi của trẻ .
2/ Bổ xung đồ chơi
Đợc nhà trường cấp cho tranh dạy môi trường xung quanh,lô tô các loại Ngoài ra tôi còn
tự làm đồ dùng phục vụ tiết dạy,các loại tranh ảnh ,hình ảnh ,các con vật ,cây cỏ , hoa lá Su
tầm tranh có hình ảnh đẹp xử dụng trong việc cho trẻ LQVMTXQ . Tận dụng các hình ảnh ở đốc
lịch, bìa ,hoạ báo ,ảnh cũ Vừa trang trí lớp vừa làm đồ dùng đồ chơi .
Tôi tận dụng bìa cát tông có dây dạt thật sinh động ,hấp dẫn , gây hứng thú với trẻ. Sau đó
để trẻ tự điều khiển , để trẻ biết con vật này có chân hay có cánh , có chân thì biết chạy có cánh
thì biết bay .
Tôi để cho trẻ tự làm một sản phẩm như tranh vẽ về các con vật , cỏ cây ,hoa lá , hoạc các
sản phẩm nặn những đồ vật xung quanh trẻ ,các sản phẩm tạo hình ,tranh từ những phế liệu , cô
và trẻ cùng làm thể hiện vốn hiểu biết phong phú của trẻ về MTXQ .
Tôi su tầm những bài thơ về môi trường xung quanh ,sau đó dùng hình ảnh minh hoạ và có
chữ viết đi cùng . Vừa giúp trẻ củng cố hình ảnh vừa để trẻ rèn luyện ngôn ngữ .Từ đó tư duy của

Đầu thì không có bò ngang cả đời”
Trẻ đoán ngay được đó là con cua ,. Nhưng trong đầu trẻ biểu tượng về con cua được
chính sác là con cua có hai càng to ,có tám chân này ,lại bò ngang nữa .
Cho trẻ làm quen với con cá ,ttôi dùng câu đố .
“Con gì có vẩy có vây
Không đi trên cạn mà đi dới hồ ”
Trẻ trả lời đó là con cá .Nhưng trẻ lại biết thêm con cá có đặc điểm cụ thể , có vây có
đuôi , vẩy ,môi trường sống của chúng…
Từ đó trẻ có thể so sánh xem con cá và con cua có đặc điểm gì giống nhau ,có đặc điểm gì
khác nhau ? Sau đó trẻ có thể phân nhóm .
Ngoái ra tôi còn dùng cách khác để vào bài cung cấp biểu tượng thế giới sung quanh cho
trẻ , qua hình ảnh mô hình ,con vật thật …
5 / Rèn trẻ thông qua tiết dạy
Vì cho tẻ LQVMTXQ , nên trong mỗi tiết với mỗi mẫu vật ,hay tranh ảnh , tôi đều cho tẻ
quan sát kỹ , cho tẻ đa ra nhiều ý kiến nhận xét để tìm ra đầy đủ và chính xác đặc điểm vật mẫu .
Ví dụ : Làm quen với con cua , trẻ đã tìm được đặc điểm của con cua có hai càng to ,tám
chân … Sau đó đặt câu hỏi gợi mở “ các con có biết con cua nó đi như thế nào không ? ” Trẻ trả
lời được là con cua bò ngang , tôi dùng que chỉ rõ , cua có mai cua ,yếm cua cứng để bảo vệ cơ
thể chúng.
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết môi trường
sống của chúng ,cách vận động ,(Đi như thế nào ? ) các bộ phận cơ thể ra sao . Nắm rõ đặc điểm
trẻ quan sát rễ hơn , từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại cũng rất tốt .
Trong tiết dạy môi trường xung quanh tôi lồng ghép thích hợp các môn khác như :” Toán ,
âm nnhạc , tạo hình ,văn học … để trẻ thêm hứng thú , ghi nhớ tốt hơn , hiểu vấn đề sâu và rộng
hơn .
Ví dụ : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống dưới nước .
Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn .
“ Nhà hình soán lằm ở dước ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi

nhau để gây sự chú ý , tò mò của tẻ . có thể dùng câu đố ,bài hát … Đê trẻ nhận biết đối tượng
bằng tranh ảnh và đồ vật , vật thật và mô hình .
Với mỗi đối tượng trẻ được làm quen , trẻ được quan sát thật kỹ , trẻ biết đa ra ý kiến nhận
xét của mình , cùng với đó là câu hỏi gợi mở của cô , cứ mỗi lần làm quen như vậy tôi lồng ghép
nội dung giáo dục vào bài . Trẻ không những hiếu về vật đó mà còn có cách ứng xử , hành động
với chúng .
Sau khi trẻ được làm quen 3 – 4 đối tượng( trong 1bài ) tôi cho trẻ so sánh 2đối tượng
một , để trẻ có thể rễ ràng hoàn thành nhiẹm vụ phân loại trong các trò chơi
Tổ chức các trò chơi trong mỗi tiết đạt , tôi tổ chức đan xen trò chơi động với trò chơi
tĩnh , làm cho không khí tiết dạy vui tơi hào hứng và hiệu quả .
Trong các tiêt học khác tôi cũng lồng ghép kiến thức môi trường sung quanh để củng cố
vốn hiểu biết về biểu tợng đã có của trẻ
Ví dụ : Tron tiết làm quen với chữ cái I ,T , C
Cô đa tranh hình “con voi ” Cô và trẻ cùng đàm thoại về con voi để trẻ biết được hình
dạng ,môi trường sống , thức ăn và cách vận động của nó
Trong hoạt động khác của trẻ , tôi có thể cung cấp kiến thức cũ , tận dụng mọi lúc ,mọi nơi
để giáo dục trẻ .
Trong hoạt động góc , trẻ đợc chơi ở góc thiên nhien . trẻ tưới cây , nhặt lá , bắt sau ,xem
sách về môi trường xung quanh . đặc biệt trẻ được chơi nhiều đồ vật thật , khi đợc hoạt động
nhiều với đồ vật thật , trẻ được nhìn ,sờ ,nắn ,ngửi ,… Từ đó có hình ảnh chọn vẹn về những gì
sung quanh tẻ , khỗng thế mà tôi còn phát huy tính sáng tạo của trẻ bằng cách cho tẻ làm tranh từ
nguyên liệu thiên nhiên như : Hoa , lá ép khô , vỏ cây ,coọng rơm , vỏ thuỷ sản …
Qua các buổi dạo chơi ,thăm quan , hoạt động ngoài trời , dã nngoại … khi trẻ quan sát tôi
hớng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra chọn vẹn đối tượng đó .
Ví dụ : Cô và trẻ quan sát cây hoa hồng , hớng trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa . Cho trẻ sờ
cánh hoa thấy mịn và nhẵn , các mép của lá có răng ca . Đa hoa nên ngửi có mùi thơm .
Trẻ được quan sát kỹ , có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so sánh rất tốt
và phân loại rất nhanh .
Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời , không những để trẻ khám phá thế giới sung
quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên , ý thức bảo vệ môi trường . tôi cũng luôn

Với trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng tiết dạy .
Trẻ có kỹ năng quan sát , so sánh ,phân loại tốt , hiểu biết rộng về tự nhiên cũng nh về xã
hội .
Đặc biệt trong hội thi bé làm quen ATGT và giáo dục bảo vệ môi trường các cháu lớp tôi
thể hiện rất tốt về kiến thức ATGT cũng rất tốt và có ý thức bảo vệ môi trường . Được ban giám
khảo đánh giá rất cao .
KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CỦA TRẺ
Được biểu hiện qua bảng sau :
Bảng 3 : Kết quả đạt được của trẻ
TT Kỹ năng
quan sát ,so
Đầu năm Cuối năm Tăng
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
1 Loại tốt 4 16 10 40 6 24
2 Loại khá 6 24 10 40 4 16
3 Trung bình 13 52 5 20
4 Loại yếu 2 8 0 0
Đối tượng phụ huynh :
Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm quen với
môi trường xung quanh , tạo điều kiện cùng công tác với cô giáo để được làm quen với
môi trường xung quanh của trẻ đạt hiệu quả cao nhất , đó cũng đã góp phần nâng cao chất
lượng môn cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh .
Bài học kinh nghiệm
- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ , có năng lực sư phạm , nắm chắc chuyên
môn .
- Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với môi trường sung quanh .
- Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy , luôn có sự đổi mới trong phương pháp dạy trẻ
- Thường xuyên rèn luyện bản thân ,kỹ năng dạy , thao tác ,rèn luyện giọng nói
- Đồ dùng dạy trẻ phong phú sáng tạo hấp dẫn với trẻ .
- Làm tót công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status