Châm cứu cổ điển và hiện đại phan3 - Pdf 13

Châm cứu cổ điển và hiện đại (Phần 1) - Sự phát triển các kỹ thuật châm cứu
Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa
Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ
II./ Sự phát triển các kỹ thuật châm cứu
Châm cứu ra đời cách đây mấy nghìn năm, nhưng trong thời gian gần đây tốc độ phát triển mới
thật sự nhanh chóng.Hiện nay châm cứu bao gồm nhiều chuyên ngành: Thể châm, Mai hoa
châm, Nhĩ châm, Đầu châm, Diện châm, Thủ túc châm.
Trong tập này, chúng tôi chỉ trình bày các kỹ thuật của thể châm, còn các chuyên
ngành khác sẽ giới thiệu ở tập sau.
Thể châm: Là chuyên ngành chính của châm cứu, Thể châm là dùng những cây kim
nhỏ gọi là hào châm dài 1-7cm và dùng những mồi hoặc điếu làm bằng lá ngải khô
giả nhỏ rồi châm hoặc hơ nóng trên những vị trí nhất định gọi là huyệt. Vị trí các
huyệt này phân bổ khắp cơ thể. Ngoài hào châm một số trường hợp người thầy thuốc
còn dùng cây kim to hơn mũi nhọn có 3 cạnh còn gọi là kim tam lăng để chích máu ở
một số huyệt.
Trong những năm gần đây, các huyệt: vị trí cơ bản để điều trị được nghiên cứu
nhiều. Các huyệt đã có từ trước theo sách vở được hệ thống hóa: Nhóm kinh huyệt
(các huyệt nằm trên đường kinh) và các huyệt nằm ngoài đường kinh. Dựa theo thực
tế trị bệnh các thầy thuốc còn phát hiện được nhiều huyệt mới (Tân huyệt) có những
tác dụng độc đáo như những huyệt chữa viêm ruột thừa, chữa sốt rét, chữa đau
răng.
Nếu số huyệt từ lúc mới đầu trong quyển “Linh khu” có 160 huyệt, quyển “Giáp ất
kinh” có 349 huyệt, “Châm cứu đại thành” 359 tên huyệt thì hiện nay số kinh huyệt
361 (theo “Châm cứu giảng nghĩa” 1964) số kỳ huyệt 178 huyệt, số ta6hn huyệt là
223 (“Châm cứu học”, Thượng Hải, 1974) đưa tổng số huyệt lên tới 762 huyệt.
Các huyệt đều được xác định về vị trí, giải phẫu cục bộ, tác dụng điều trị của từng
huyệt theo ngôn ngũ y học dân tộc và theo y học hiện đại, quy cách châm cứu tại đó.
Từ thao tác châm cứu cổ xưa, theo yêu cầu điều trị ngày càng cao nên đã phát triền
thành châm kim dài châm sâu, châm xuyên, châm kim ngắn, gài kim, thủy châm,
điện châm, và cuối cùng là chôn chỉ.
1/ Châm kim dài, châm sâu: Là phát triển từ trường châm trong 9 loại châm cổ

Thủy châm được sử dụng để điều trị tất cả mọi bệnh cấp hoặc mãn tính nhưng
thường được dùng để trị các bệnh suy nhược thần kinh, viêm khớp mãn, đau dạ dày,
tăng huyết áp, hen phế quản.
Chống chỉ định của thủy châm giống như chống chỉ định của châm kim. Không được
dùng các thuốc tiêm dầu, thuốc tiêm mạch máu, các thuốc tiêm bắp thịt mà người
bệnh dùng bị phản ứng. Thuốc để làm thủy châm là các thuốc có tác dụng tăng
cường dinh dưỡng Vitamin B1, Vitamin B2, VitaminB12, Bécozyme, Terneurine, tinh
chất gan, Campolon, Sirepar, filatov, thuốc có tác dụng trị bệnh như nọc ong,
Atropin, Novocaine, v.v… thuốc trụ sinh để kháng khuẩn như: Pénicilline,
Streptomycine, Ampicilline, Lincocine và cả các loại nước cất, huyết thanh mặn, ngọt
đẳng trương.
Các huyệt làm thủy châm: Không phải tất cả các huyệt trên cơ thể đều làm được
thủy châm. Nơi làm thủy châm nên là ở những huyệt có khối cơ bắp tương đối dầy,
tốt nhất là những du huyệt ở lưng.
Nên tránh thủy châm ở những huyệt đầu ngón chân, ngón tay, hạn chế thủy châm ở
những huyệt đầu mặt. Không nên thủy châm ỡ những huyệt khe khớp như Kiên
ngung, Tất nhãn, Độc tỵ, không nên làm thủy châm ở những huyệt nằm trên đường
đi củ dây thần kinh chính như: Nội quan, Ngoại quan, những huyệt nằm trên những
mạch máu lớn và số huyệt không nên nhiều quá, mỗi lần làm thủy châm chỉ nên từ
1-3 đôi huyệt.
Khối lượng thuốc tiêm vào huyệt cũng căn cứ vào tổ chức phần mềm vùng tiêm
nhiều hay ít, dày hay mỏng. Nếu huyệt nơi tiêm chỉ có lớp da cơ mỏng như các huyệt
vùng đầu, mặt, vành tai chỉ cần tiêm 1 giọt đến vài giọt. Các huyệt nằm trên vùng có
khối cơ bắp dày như huyệt ở lưng có thể tiêm vào mỗi huyệt từ 0,5ml đến 5ml.
Phương pháp tiến hành thủy châm cũng như chích thuốc thông thường phải đảm bảo
hợp vệ sinh, vô trùng.
Thời gian điều trị cũng giống như châm cứu nói chung nên chia từng đợt. Và cũng
cần phòng ngừa các trường hợp choáng do thuốc có thể xảy ra.
6/ Điện châm: Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng chữa bệnh
của châm cứu với kích thích bằng dòng điện: một chiều, cảm ứng xung đột một pha

b/ Tần số:
Là số xung điện trong một giây của dòng điện xung. Cơ thể có khả năng phản ứng
với một tần số rất rộng từ thất tới cao.
Với xung tần số thất ta còn nhận biết được, nhưng với dòng điện xung điện tần số
cao tuy ta không còn cảm giác song cơ thể vẫn phản ừng lại bằng những thay đổi
vận mạch sinh hóa, sinh lý.
Xung 20 Hz cảm giác như một vật gì chạm vô da vận động cơ co từng cái – Thực vật:
Kích thích thần kinh giao cảm.
Xung từ 20 – 50 Hz: Cảm giác xung liên tục trên bề mặt da.
c/ Hình thể:
Hình thể xung có ảnh hưởng tới tác dụng đó là độ dốc và bề mặt của xung.
Độ dốc của xung lớn sẽ gây kích thích mạnh và ngược lại.
Bề mặt của xung rộng có tác dụng nhiều trên chuyển hóa dinh dưỡng và ngược lại.
Xung hình gai nhọn: Độ dốc sường lên xuống gần thẳng đứng nên kích thích mạnh.
Bề mặt xung hẹp nên tác dụng trên chuyển hóa dinh dưỡng yếu.
Xung hình chữ nhật: Độ dốc sườn lên và xuống thẳng đứng kích thích mạnh bề mặt
xung có thể kéo rộng ra nên tùy thời gian xung dài hay ngắn mà tác dụng trên dinh
dưỡng chuyển hóa mạnh hay yếu.
Xung hình lưỡi cày: Sườn lên và xuống thoai thoải phù hợp với tổ chức lành và cả với
tổ chức bị thương tổn. Bề mặt xung rộng nên có tác dụng trên dinh dưỡng, chuyển
hóa mạnh hơn xung hình gai nhọn.
Xung hình sin: Sườn lên và xuống từ từ, diện tích xung rộng có tác dụng như hình
xung hình lưỡi cày.
Chỉ định và chống chỉ định:
Chỉ định:
Giống như chỉ định của châm cứu nhưng thường dùng nhất là cắt đứt chứng đau của
một số bệnh như đau khớp, đau dây thần kinh, cơn đau nội tạng.
-Chữa tê liệt: Liệt nửa người, bạn liệt dây thần kinh ngoại biên.
-Châm tê để tiến hành phãu thuật.
Chống chỉ định;

Chon chỉ là chôn vùi một thứ chất đặt nơi huyệt để duy trì kích thích. Chỉ khi nào vật
đó tiêu tan hết thì mới hết kích thích. Người ta dùng loại chỉ Catgut, một loại chỉ
dùng trong phẫu thuật tự tiêu được. Như vậy với chôn chỉ Catgut kích thích được duy
trì nơi huyệt vài ngày, nó lại không phải bận tâm đến thầy thuốc là phải rút ra như
lưu kim.
Các sách gốc về châm cứu chưa đề cập tới chôn chỉ. Tính đến sách châm cứu giảng
nghĩa của Học viện Nam Kinh năm 1964 cũng chưa đề cập đến chôn chỉ. Chôn chỉ có
mạnh như trong thập kỷ 60 của thế kỷ này và đợi tới năm 1974 mới được chính thức
ghi trong sách châm cứu của Học viện châm cứu Thượng Hải và cũng trong giai đoạn
này chôn chỉ nhập vào Hồng Kông và Việt Nam.
Tác dụng của chôn chỉ:
Qua thực nghiệm tại huyệt sau khi chôn chỉ Catgut thấy trong khối cơ thành phần
chuyển hóa được nâng cao, thành phần hóa giáng giảm thấp. Các chất Myoglobin,
chất đường tăng cao, acid lactic creatinine giảm do đó nâng cai được dinh dưỡng và
chuyển hóa nơi cơ bắp. Thông qua quan sát so sánh, sau khi chôn chỉ, thấy gia tăng
mạch máu vùng đó, có mạch máu mới sinh lưu lượng máu tăng, tuần hoàn máu được
cải thiện đồng thời tăng nhiều sợi liên kết làm thành dính kết với nhau, đối với cơ
bắp nhão làm tăng trương lực rồi dưới lớp cơ còn phát hiện nhiều tổ chức thần kinh
mới.
Các hình thức chôn chỉ:
Theo châm cứu học (Thượng Hải năm 1974) có 3 hình thái:
-Xâu chỉ (Xuyên tuyến) làm dùng một kim phẫu thuật xâu chỉ Catgut qua nơi huyệt
cách hai bên huyệt đó vài mm. Khi kim xâu qua và đưa chỉ Catgut vào thì cắt ở hai
đầu trên mặt da.
-Chô chỉ: (Mai Tuyến) dùng 1 mũi dao chích nhỏ, chích mặt da hơi sâu tới bên dưới
rồi vùi chỉ xuống đó. Nếu nơi vạch lớn quá nên khâu lại một mũi cho kín.
(Theo châm cứu học Thượng Hải năm 1974)
-Buộc chỉ: (Kết trái) Thao tác giống như xâu chỉ, ở đây khác là có dùng dao mổ rạch
một chỗ nhỏ cạnh huyệt rồi dùng pince cầm máu mũi cong thọc qua lỗ chích tới dưới
huyệt ấn kích thích tới 40-50 lần rồi sau theo chỗ rạch dùng kim mỗ luồng chỉ Catgut

thấy lài sưng đỏ, đau nhức tăng, có khi phát sốt. Nên đắp nóng tại chỗ hoặc dùng
kháng sinh.
-Xuất huyết: Phần nhiều vì kích thích quá mạnh làm rách mạch máu. Nói chung nên
băng ép cầm máu, nếu vẫn chảy thì nên khâu cầm máu và rút bỏ Catgut.
-Dị ứng: Cá biệt có người dị ứng với thuốc tê hoặc với Catgut. Sau khi điều trị thấy
tại chỗ phản ứng ngứa sưng đỏ hoặc toàn thân sốt. Cá biệt có người nơi vết rạch rỉ
nước vàng rồi chỉ Catgut đùn ra. Đối với người bệnh có điều trị dị ứng.
-Tổn thương thần kinh: Nếu thần kinh cảm giác bị tổn thương thì thấy rối loạn cảm
giác thần kinh đó phân bổ, nếu thần kinh vận động tổn thương thì thấy liệt nhóm cơ
chỉ phối, nguyên nhân là do thao tác không đúng, kích thích quá mạnh làm tổn
thương tới mạch máu, thần kinh nên lưu ý.
* *
*
Lượt qua các phương pháp kể trên: Châm cứu dài, châm xuyên, châm kim ngắn, lưu
kim, thủy châm, điện châm, chôn chỉ. Người thầy thuốc châm cứu chúng ta nên lựa
chọn cách châm cứu nào trong khi hành nghề?
Chúng ta có thể sử dụng tất cả hình thức châm trong khi trị bệnh nhưng chúng ta
nên theo một nguyên tắc:
-Đạt kết quả cao
-Có ích lợi cho người bệnh và tạo được mối thiện cảm của châm cứu đối với người
bệnh.
Cụ thể là
1/ Nếu bệnh nhẹ, dễ chữa, không có gì đặc biệt ta nên dùng kim châm cỡ thông
thường, châm xong rút kim.
2/ Nếu gặp bệnh lâu năm, khó trị như chứng liệt đã lâu: liệt mặt, liệt nửa người, liệt
hai chi dưới, nên dùng kim dài châm sâu, châm xuyên, luồn kim chạy dài dọc theo
đường kính, lưu kim gài để tăng cường kích thích nơi huyệt. Chính đó là tân châm
mục đích để trị những bệnh khó, những bệnh lâu lành.
3/ Nếu bệnh nhân là những trẻ em, những người nhát châm cứu nên dùng kim ngằn
để châm nong và có thể châm rút kim ngay hay lưu kim thời gian ngắn.

trường hợp bệnh.
Như trên tôi đã nêu: Chôn chỉ đau hơn, sau khi chôn chỉ còn có những khó chịu cho
người bệnh về phản ứng tại chỗ và toàn thân. Đây là không kể những trường hợp chỉ
sơ xuất chút ít còn có thể gây viêm tấy, Abces tại chỗ. Vì vậy theo tôi chỉ nên dành
chôn chỉ cho những bệnh thật khó trị, những bệnh nan y. Đó là những loại bệnh đã
trị nhiều biện pháp mà khôn khỏi, những tổn thương khó hồi phục như thấp khớp đã
có biến chứng teo cơ, khớp lệch trục xương, những hen phế quản loại ngoan cố…v…
v…những trường hợp này bệnh nhân vui lòng để chúng ta chon chỉ mặc dù biện pháp
này có đau hơn, khó chịu hơn.
Tóm lại phương pháp châm có nhiều, chúng ta cần lựa họn những biện pháp thích
hợp cho từng bệnh và cho từng loại bệnh nhân thì sẽ thu được những hiệu quả cao.
Còn tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status