Châm cứu cổ điển và hiện đại (Phần 1) - Vài nét về khoa châm cứu
Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa
Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ
I./ Vài nét về khoa châm cứu.
Nền Y Học Dân Tộc trước đây gọi là Đông Y bao gồm thuốc và
châm cứu thì riêng châm cứu ngày càng có vai trò to lớn: bệnh
nhân rất nhiều người thích trị bệng bằng châm cứu mà cả đến
nhân dân các nước Âu Mỹ tuy có nhiều thuốc nhưng cũng thích
châm cứu.
Vậy châm cứu là gì? Nguồn gốc của nó và quá trình phát triển của
nó ra sao? xin lần lượt trình bày duới đây.
Nguồn gốc khoa châm cứu
Châm cứu bắt nguồn từ Châu Á trên mảnh đất của vùng
châu thổ sông Hoàng Hà, cách đây khoảng 25.000 năm.
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những kim châm đầu tiên
bằng đá gọi là biếm thạch trong một số di chỉ. Đến thời
đại đồ đồng người ta làm ra các cây kim bằng đồng gọi là
đồng châm. Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc ( 770.221 truớc công nguyên ) con
người đã biết dùng sắt để tạo ra các cây kim bằng sắt nhỏ tinh xảo hơn.
Thời ký này xuất hiện bộ sách Y Học đầu tiên có ghi chép về châm cứu là bộ Nội Kinh
hay còn gọi là bộ “Hoàng đế Nội kinh” bao gồm 2 quyển Tố vân và Linh thu tổng kết
tất cả tinh hoa của Y học từ trước.
Riêng về châm cứu có một số cống hiến:
1./ Sáng lập ra học thuyết Kinh lạc: mô tả tương đối kỹ nguồn gốc đường đi, hội
chứng các kinh lạc.
2./ Đề ra 9 loại châm và cách dùng.
3./ Quy định vị trí và tên các huyệt.
4./ Nêu đuợc một số huyệt chính để chữa bệnh:160 huyệt.
5./ Thảo luận những vị trí cấm châm.
Trước năm 1975 có bản dịch của Nguyễn Tử Siêu: Hoàng đế Nội kinh Tố vấn (1954),
Nguyễn Đồng Di: Hoàng đế Nội kinh.
Năm 1026 Vương Duy Nhất đúc mô hình châm cứu bằng đồng trên có ghi các huyệt
và biên soạn cuốn: “Đồng nhân du huyệt châm cứu đồ kinh” bổ sung thêm một số
huyệt lên tới 354 huyệt.
Năm 1220 Vương Chấp Trung biên soạn “Châm cứu tư sinh kinh” tập hợp 3 cuốn
Đồng nhân, Minh đường cứu kinh, Ngoại đài bí yếu. Đặc điểm quyển này là tổng kết
kinh nghiệm châm cứu mà hiện nay không còn nữa, đưa vào rất nhiều kinh nghiệm
lâm sàng về châm cứu. Đưa số huyệt lên 350 huyệt.
Năm 1341 Hoạt Bá Nhân còn gọi là Hoạt Thọ viết quyển “Thập tứ kinh” phát huy
trình bày nguồn gốc, đuờng đi, hội chứng của 14 đường kinh, hệ thống hóa và nâng
cao thêm một mức giá trị của học thuyết kinh lạc.
Quyển sách có giá trị nhất về châm cứu thời xưa phải kể tới quyển “Châm cứu đại
thành” của Duơng Kế Châu hoàn thành năm 1601 tổng kết thêm một bước về châm
cứu, còn ghi chép được một số tâm đắc về châm cứu viết dưới hình thức ca phú như:
Tiên U Phú, Ngọc Long Phú, Thông Huyền Chi yếu Phú v.v tất cả là 12 bài ca phú,
đã bảo tồn phần tinh hoa của châm cứu thời cổ, có ảnh hưởng rất lớn đến ngành
châm cứu.
Hiện nay có bản dịch Châm cứu đại thành của Phạm Tấn Khoa (1987).
Tất cả sách trên đuợc coi là cơ sở nền tảng của ngành châm cứu.
Năm Tác Giả Tác Phẩm Nội dung Huyệt
770-
221Tr.CN
Khuyết danhBiển
Thuớc
Hoàng Đế nội KinhNạn
Kinh
Học thuyết kinh lạc 160
282 Hoàng Phủ Mật Giáp Ất Kinh
Hệ thống châm cứu giải
phẫu, sinh lý, chẩn đoán và
điều trị
ưa thích và bảo vệ.
Đến năm 1949 cách mạng Trung Quốc thành công, châm cứu được nghiên cứu sâu
đem lại nhiều kết quả trong trị bệnh.
Từ 1949 – 1959 các nhà châm cứu Trung Quốc cho rằng phải khoa học hóa châm
cứu, tây y hóa châm cứu, trường phái này có Chu Liễn, Lý Thiến Hiệp, Vương Tuyết
Đài.
Họ đã giải thích cơ chế tác dụng của châm cứu là cơ chế phản xạ thần kinh thể dịch,
lấy cơ sở giải phẫu làm chính trong việc xác định và sắp sếp các huyệt. Về điều trị thì
nguyên nhân triệu chứng lấy tây y, y học dân tộc chỉ dùng huyệt để châm hoặc cứu.
Nhưng do nhu cầu nhân dân ngày càng tăng, ngày càng nhiều người đòi hỏi trị bệnh
bằng y học dân tộc, thấy sự khó khăn trong sự phối hợp Đông tây y, hạn chế sự đào
sâu nghiên cứu y học dân tộc nên dần dần có một sự chuyển hướng trong việc
nghiên cứu, đó là hướng phát triển y học dân tộc trên toàn bộ lý luận và thực tiễn
của nó.
Mở đầu cho hướng này là một loạt bài nghiên cứu của Học Viện Trung Y Giang Tô
như:” Tìm hiểu về nguồn gốc kinh lạc” đăng trên Trung y tạp chí năm 1957.Kế đó là
chứng minh sự tồn tại của đường Kinh và Huyệt bằng điện sinh vật của Nakatani
Yoshi (Nhật) ( Trung cốc nghĩa hùng).
Nên tới năm 1950 Y học dân tộc nói chung, châm cứu nói riêng có sự chuyển hướng
to lớn: Phê phán hướng Tây y hóa, Y học dân tộc đi sang hướng phát triển Y học dân
tộc trên toàn bộ lý luận và thực tiển của nó.
Công trình tiêu biểu cho hướng này là bộ Trung y học khái luận và một loạt sách giáo
khoa Y học dân tộc của Học Viện Trung Y Giang Tô tập bài giảng của 5 Học viện
Trung y Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Châu, Thành Đô và Thượng Hải.
Riêng về châm cứu có hướng đi sâu vào nghiên cứu Kinh lạc ở các học viện, biên
soạn ra những tài liệu nghiên cứu về Kinh lạc.
Về huyệt trình bày theo hệ thống Kinh lạc, tuy vậy có nêu được phần giải phẫu từng
huyệt, là phần cần thiết để hiểu rõ thêm vị trí của huyệt và là cơ sở cho việc liên hệ
Đông Tây Y.
Và điều trị tôn trọng phép biện chứng luận trị của Y học dân tộc trình bày những
điện trở da của những đường kinh trên cơ thể mà ông gọi là lương đạo lạc và ở trên
những huyệt gọi là lương đạo điểm, đó là những máy dó kinh lạc đầu tiên.
Hiện nay châm cứu tại Nhật đang phát triển.Ngoài các hội châm cứu nói chung còn
có những hội như: Nhật Bản Kinh Huyệt, Ủy viên hội Nhật Bản kinh lạc học hội, Nhật
Bản châm cứu lương đạo lạc y học hội, Nhật Bản châm cứu trị liệu học hội, Nhật Bản
châm cứu bì điện học hội v.v
Các Nước Phương tây
Pháp: Châm cứu đuợc truyền sang các nước Phương Tây từ thế kỷ thứ XVII.
Năm 1683 Ten Rbyne, nhà phẫu thuật Hà Lan xuất bản tại LonDon cuốn luận về thấp
khớp trong đó có bàn về cách điều trị bằng châm cứu rồi đến:
1712 Kaemfer
1816 Berlioz
1825 Sarlandiere
Nhưng có thể nói người đóng góp nhiều cho phong trào châm cứu của Châu Âu và
đạt kết quả nhất là G.Soulie’ do Morant.
Từ những năm 30 của thế kỷ này, Morant hoạt động cho châm cứu.Tác phẩm tiêu
biểu là Traite’ d’ Acupuncture (Đại luận về châm cứu). Quyển này đuợc tái bản nhiều
lần, được các nhà châm cứu ở Pháp cho là sách gốc về châm cứu của Phương tây và
đến nay vẫn còn giá trị.
Khoảng nhhững năm 40 của thế kỷ này được thành lập các cơ sở nghiên cứu về
châm cứu: Hội châm cứu Pháp, Hội châm cứu Quốc tế có xuất bản một số sách và
tạp chí.
Sau Morant phải kể tới R. de La Fuye viết Traite’ d’ Acupuncture 1947, L’
Acupuncture: Moderne pratique (Châm cứu hiện đại và thực hành – 1952).
Rồi lần lượt có những nhà nghiên cứu có tiếng khác như: Chamfrault, Niboyet,
Nguyễn Văn Nghị, Darras, Bossy và nhất là Nogier có sáng kiến lớn về Nhĩ châm,
chính Nogier là người sáng lập ra Nhĩ châm hiện đại.
Nhưng thật ra nền châm cứu của Pháp cho đến trước năm 1969 mới chỉ biết 14
đường kinh điều trị chú trọng nhiều đến các huyệt Du, Mộ, huyệt Khích và huyệt Ngũ
du chưa biện luận theo Y học dân tộc và còn gắn liền với vi lượng dòng căn
rộng ra nhiều nước ở các châu vì nó đã đáp được một yêu cầu là trị bệnh.
Tình hình châm cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam trị bệnh bằng châm cứu đã được áp dụng từ rất lâu.
Thế kỷ thứ II trước CN đời Thục An Dương Vương một thầy thuốc tên là Thôi Vỹ đã
dùng phương pháp cứu chữa bệng lao hạch cho Ưng Huyền.
Thế kỷ XIV, một thầy thuốc Châu Canh đã dùng kim châm cứu sống Hoàng Tử Hạo,
con Vua Trần Minh Tôn bị đuổi ở Hồ Tây.
Nhưng những sách chuyên đề về châm cứu Việt Nam cho đến nay mới phát hiện 3
quyển, đó là:
-Châm cứu tiệp hiệu diễn ca của Nguyễn Đại Năng.
-Châm cứu thủ huyệt đồ và châm cứu tiệp hiệu pháp của Lý Công Tuân.
-Châm cứu tiệp hiệu của vị thái y họ Vũ.
Châm cứu tiệp hiệu diễn ca:
Năm 1962 cụ Đoàn Quang Võ sưu tầm được ở Hải Hưng 1 tài liệu chép tay về châm
cứu, qua giám định văn bản đã xác định đuợc đây là cuốn Châm cứu tiệp hiệu diễn
ca do Nguyễn Đại năng đời Hồ (1400 – 1446) biên soạn và Thái y viện đời Lê bổ
sung. Cuốn sách đã được cụ Lê Trần Đức chuyên viên viện đông y biên dịch và Nhà
xuất bản y học Hà Nội xuất bản năm 1981. Vì vậy nhiều nhà châm cứu Việt Nam
chưa biết đến quyển này.
Sách chia làm 5 phần:
Phần 1: Nói về việc dùng Ngải để châm cứu, tác dụng của phép cứu, kiêng kỵ, cách
chia tấc đo lấy huyệt, các huyệt cấm châm, cấm cứu trừ quỷ.Bàn về các huyệt Cao
Hoang, Tứ Hoa, Hoan Môn, Trúc Mã, Mỗ Tự.
Phần 2: Nói về dùng huyệt điều trị 20 loại bệnh bằng châm cứu.
Phần 3: Bàn chung các huyệt để trị bệnh (103 loại)
Phần 4: Nói về kinh mạch và các huyệt vị.
Phần 5: Phụ lục của Thái y viện đời hậu Lê.
Đặc điểm là có nêu một số huyệt đặc biệt khác.
Châm cứu thủ huyệt đồ và châm cứu tiệp hiệu pháp của Lý Công Tuân soạn năm
1695 trình bày cách lấy huyệt và trị bệnh theo lối diễn ca.
Nguyễn Tài Thu.
Chính từ cở sở của viện đông y này châm cứu được truyền bá rộng rãi, đã lập được
nhiều thành tích trong phòng bệnh và trị bệnh.
Tính từ năm 1958 đến nay Viện đã cùng hội đông y Việt Nam mở nhiều lớp châm cứu
cho các y bác sĩ lương y và từ năm 1960 đã đưa châm cứu vào chương trình y khoa
cấp đại học, trung học và sơ cấp. Viện còn giảng dạy châm cứu cho nhiều bác sĩ giáo
sư ở nước ngoài tới học. Tính từ thời BS Nguyễn Bá Cư đến nay đã có những thầy
thuốc ở các nước Lào, Campuchia, Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hung, ý, Cu Ba v.v
và gần đây cả Pháp và việt kiều tại Pháp về học. Cảm tưởng của họ sau khi học
châm cứu tại Việt Nam đều cảm thấy hiểu rõ hơn.
Về biên soạn dịch thuật trong vòng 30 năm qua sách châm cứu đã xuất bản nhiều
trong đó có một số có giá trị như:
Về dịch có:
-Trung y học khái luận
-Châm tê
-Châm cứu tốc hành
-Châm cứu tiệp hiệu diễn ca
Về biên soạn có:
-Châm cứu sơ bộ thực hành của Nguyễn Tử Siêu
-Châm cứu đơn giản của BS Lê Khánh Đồng
-Sổ tay châm cứu của BS Nguyễn Mạnh Phát
-Châm cứu vấn đáp - Tại sao châm cứu khỏi bệnh của Vũ Xuân Quang
-Thuốc nam châm cứu của Lương y Lê Bá Cư, Lương y Đào Việt Hà, BS Quan Đông
Hoa
-Nhĩ châm, Thủy châm, Mai hoa châm của BS Phùng Huy Uyển, Nguyễn Tài Thu, Lê
Nguyên Khánh.
-Châm cứu thực hành của Nguyễn Hữu Hách
-Tân châm và Châm tê của BS Nguyễn Tài Thu
-Phát huy truyền thống châm cứu của Nguyễn Đại Năng, Lương y Lê Trần Đức.
-Châm cứu học của khoa châm cứu Viên đông y
bằng châm cứu.
Các bậnh về khớp như thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp đã giải quyết được
một số hết sưng đau ở các khớp bằng châm cứu. Năm 1963 Viện nghiên cứu dông y
có áp dụng phương pháp chích lễ của Lương y Nguyễn Thế Đuốc trị ổn định một số
trường hợp viêm đa khớp dạng thấp và viêm cột sống cứng khớp đã có teo cứng
khớp.
Về tâm thần kinh việc dùng châm cứu cũng thu được nhiều kết quả. Với các phương
pháp châm cứu thông thường, Mai hoa châm, Nhĩ châm, Thủy châm đã giải quyết
được nhiều trường hợp:Suy nhược thần kinh, Hystérie mất ngủ nhức đầu chữa khỏi
được nhiều trường hợp liệt nửa người, liệt mặt, đau dây thần kinh tọa, đau lưng,
những di chứng mới về viêm não, viêm màng não. Trong những năm chiến tranh
chống Mỹ, những trường hợp chấn thương tủy sống như bị chạm thương, đụng dập,
đứt tủy gây liệt 2 chi dưới, một bệnh không còn hy vọng, với việc tích cực áp dụng
châm cứu như châm kim dài tức Tân châm BS Nguyễn Tài Thu đã phục hồi lại được
một phần chức năng vận động của một số thương bệnh binh.
Thuộc trong hệ Nội khoa còn phải kể tới dùng châm cứu để cai ma túy của nhóm
thầy thuốc tại Thành Phố Hồ Chí Minh do BS Trương Thìn phụ trách từ sau ngày Việt
Nam hoàn toàn giải phóng.Những người bệnh hay nói đúng hơn là những nạn nhân
của xã hội cũ sau khi được trị khỏi đã trở về với gia đình, với cuộc sống lành mạnh
học tập lao động và sản xuất.
Về Ngoại khoa: Châm cứu giải quyết được những trường hợp bí đái, trướng hơi sau
khi mỗ. Nhưng kết quả lớn nhất châm cứu trong Ngoại khoa là dùng cây kim gây tê
để mổ mà gọi là châm tê.
Từ năm 1968 BS Hoàng Đình Cầu nay là Giáo sư Thứ trưởng Bộ y tế chủ trì công
trình nghiên cứu châm tê để tiến hành phẫu thuật lồng ngực.
Từ đó đến nay, châm tê đã được áp dụng để mỗ hàng nghìn ca với các loại phẫu
thuật thuộc nhiều khoa từ đầu cổ ngực bụng đến chân tay.Châm tê đã tỏ ra rất tốt
trong việc giải quyết các chấn thương.Từ cơ sở Viện đông y, Hội đồng y trung ương,
châm tê đang được nhày càng áp dụng rộng rãi tới các tỉnh, các địa phương cả miến
Bắc lẫn miền Nam.Châm tê Việt Nam còn làm vẻ vang cho ta ở nước ngoài, như
một nền Y học Việt Nam mới.
-Nếu trong một thời gian tương đối ngắn nền Y học Việt Nam làm thế nào đuổi kịp
nền Y học thế giới thì việc nghiên cứu và thực hành châm cứu của chúng ta có khả
năng tiến kịp và còn có thể là một trong những nước đứng đầu về nền châm cứu trên
thế giới.
Còn tiếp
Giáo sư-Bác sĩ Quan Đông Hoa
Nguồn: Nguyên chủ nhiệm khoa Đông Y Đại Học Cần Thơ