Phần I. Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Họ bầu bí (cucurbitaceae) chiếm vị trí rất quan trọng trong sản xuất rau của
nhiều nước trên thế giới và ở nước ta.Phần lớn các cây rau trong họ bầu bí có
nguồn gốc từ vùng nhiệt đới khô hạn Châu Phi, Châu Mĩ, Nam Châu Á.
Trong các loại rau, họ bầu bí có thành phần loài đa dạng phong phú: bí xanh,
bí ngô, mướp đắng, dưa chuột, bí đỏ ngoài tác dụng làm thực phẩm, nó còn có
tác dụng làm thuốc (mướp đắng). Đây cũng là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước
trên thế giới.
Các cây họ bầu bí có nguồn gốc nhiệt đới nên trong điều kiện khí hậu nước
ta nó sinh trưởng và phát triển thuận lợi, trồng được nhiều vụ trong năm. Tuy nhiên
với điều kiện khí hậu này cũng thuận lợi cho các loại sâu bệnh phát triển. Một số
bệnh hại như phấn trắng (Erysiphe cichoracearum), giả sương mai
(Pseudoperonospora cubensis), đốm vòng (Alternaria alternata), đốm lá
(Cercospora sp., Cercospora citrullina), thán thư (Collectotrichum lagenarium)…
gây hại nặng ở tất cả các vùng trồng cây bầu bí, làm giảm năng suất, ảnh hưởng
đến chất lượng.
Từ nhiều năm qua, các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã nghiên
cứu một số bệnh do nấm hại trên cây họ bầu bí. Tuy nhiên lại chưa có một nghiên
cứu tổng hợp các bệnh nấm hại trên bầu bí. Xuất phát từ thực tế và sự phân công
của khoa Nông học – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội dưới sự hướng dẫn của
PGS.TS Đỗ Tấn Dũng chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu xác định bệnh
nấm hại cây rau họ bầu bí (Cucurbitaceae) tại Hà Nội và vùng phụ cận”.
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Tìm hiểu tình hình bệnh nấm gây hại trên cây họ bầu bí tại Hà Nội và vùng
phụ cận. Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh, một số đặc điểm về hình
thái, đặc tính sinh học và khảo sát biện pháp phòng trừ bệnh.
1.2.2 Yêu cầu
- Điều tra xác định thành phần và mức độ phổ biến của các bệnh nấm hại cây
trồng họ bầu bí tại Hà Nội và vùng phụ cận vụ năm 2013-2014.
2.1.2 Bệnh sương mai bầu bí
Bệnh sương mai được Berkeley và Curtis phát hiện và nghiên cứu đầu tiên ở
Cuba vào năm 1868. Bệnh có thể được tìm thấy trong các khu vực ôn đới như Mỹ,
Châu Âu, Nhật Bản, Australia và Nam Phi, vùng nhiệt đới và một số khu vực bán
khô hạn như Trung Đông ( Susan J. Colucci, 2010)
Bệnh sương mai là bệnh gây hại quan trọng nhất ở vùng Đông Bắc trên dưa thơm,
bí ngô vào mùa đông. ( Thomas. Zitter, 1992 )
Bệnh sương mai gây hại đến tất cả các bộ phận của cây nhưng lá là bộ phận
bị hại chủ yếu. Ban đầu là những đốm màu xanh lá cây nhạt, sau đó chuyển màu
vàng. Khi điều kiện thuận lợi bệnh gây hiện tượng rụng lá. Cuống lá vẫn còn màu
xanh và thẳng đứng sau khi phiến lá đã chết và rũ xuống (Margaret Tuttle
McGrath,2006).
Bệnh làm cây còi cọc, giảm năng suất đặc biệt là trong dưa chuột. Triệu
chứng nhiễm bệnh trên các cây bầu bí khác nhau là khác nhau. Triệu chứng trên
dưa hấu là lá có màu nâu nhanh chóng. Lá bị nhiễm bệnh có thể cong lên ( Susan J.
Colucci, 2010)
Thời tiết ẩm ướt và nhiệt độ ấm áp từ 15°C và 21°C là điều kiện thuận lợi
cho bệnh phát sinh phát triển. Bệnh dừng phát sinh phát triển dưới 5°C và trên
30°C. Bào tử được phát tán nhờ gió, và chủ yếu phát triển vào ban đêm. (Graham,
K.M., 1971 )
2.1.3 Bệnh đốm lá
Có rất nhiều tác nhân gây bệnh đốm lá trên cây họ bầu bí. Trên cây dưa
chuột, bí đỏ bệnh đốm lá do các tác nhân Alternaria alternata, Cercospora sp. Trên
cây bí xanh tác nhân gây bệnh là nấm Cercospora sp. Còn trên cây dưa hấu tác
nhân gây bệnh lại là nấm Cercospora citrullina.
Theo Thomas A. Zitter, 1992 Bệnh đốm lá đã xảy ra từ đầu những năm 1980
tại các địa phương gần Ithaca ở New York. Bệnh do nấm Alternaria alternata gây ra.
Đầu tiên trên bề mặt lá xuất hiện những đốm nhỏ sau đó vết bệnh phát triển lớn
hơn. Các vết bệnh này có thể có vòng tròn đồng tâm .( Primef ACT 832, 7.2009 )
Các vết bệnh dần dần mở rộng và kết hợp lại thành lớn, gần như tròn, hoặc
qua mưa, con người, động vật, máy móc và qua di chuyển các cây trồng trong điều
kiện ẩm ướt. ( Primef ACT 832, 7.2009 )
2.1.5 Bệnh lở cổ rễ
Năm 1858, Julius Kuhn quan sát thấy một loại nấm trên củ khoai tây bị bệnh
và đặt tên nó là Rhizoctonia solani. Đây là một tác nhân gây bệnh cây trồng rất phổ
biến. Nấm xảy ra ở tất cả các nơi trên thế giới, và có khả năng tấn công nhiều cây
trồng khác nhau. (Parmeter, JR, 1970 )
Sợi nấm của Rhizoctonia solani có màu vàng sau chuyển sang vàng nâu, sợi
nấm nhiều nhân thường 4-8 nhân mỗi tế bào. Những nấm với các đặc tính tương tự
như sợi nấm Rhizoctonia solani, nhưng chỉ với 2 nhân mỗi tế bào, được gọi là các
loại binucleate và nói chung là không gây bệnh. (Janice Y. Uchida, ĐH Hawaii)
Hạch nấm Rhizoctonia solani có màu nâu với các hình dạng, với các kích
cỡ khác nhau. Đường kính hạch nhỏ 1µm hoặc lớn hơn 5 µm. Hạch thường hình
thành trên bề mặt kí chủ, các mô thực vật hay trên các bộ phận của cây trồng.
(Baruch Sneh, 1998)
Điều kiện môi trường khác nhau cây trồng có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh
do Rhizoctonia, khí hậu ẩm ướt ấm áp thuận lợi hơn cho các tác nhân gây bệnh và
tăng trưởng.Giai đoạn cây con là giai đoạn dễ bị nhiễm bệnh nhất. (Cubeta, MA,
và R. Vilgalys, 10.2011 )
Rhizoctonia solani có thể tồn tại trong đất trong nhiều năm dưới dạng hạch
nấm. Hạch nấm của Rhizoctonia có lớp ngoài dày để cho phép cho sự sống còn.
(Ceresini, Paulo, 11.2011)
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Bệnh phấn trắng bầu bí
Bệnh phấn trắng hại bầu bí, dưa được gây ra do nấm Erysiphe
cichoracearum. Bệnh thường xảy ra ở lá. Mặt trên lá có lớp bột màu trắng xám phủ
đầy; sau đó, có những hạt nhỏ màu đen xuất hiện, đó là các quả thể dạng bao nang
có miệng (perithecia). ( Nguồn: Chi cục BVTV An Giang)
Trên bí xanh, bệnh xuất hiện suốt thời gian sinh trưởng của cây hại cả thân,
lá và thường gây hại nặng trên bí xanh vụ xuân hè sau đó đến thu đông sớm.
Trên dưa chuột: ở giai đoạn cây con, hai lá mầm sẽ bị tấn công.Ở cây lớn
hơn, lá già cũng bị tấn công trước. Đốm bệnh nhỏ, có hình hơi tròn hay bất dạng,
màu trắng hơi vàng; sau đó, đốm rộng thêm ra (khoảng 1 - 3 cm), màu nâu hơi
xám. (Trần Thị Ba, ĐH Cần Thơ).
Thời tiết vụ hè thu( ấm nóng và thường kèm mưa to) là điều kiện thích hợp
cho nấm phát sinh phát triển và gây hại rau màu. Mặt khác, nấm lại có khả năng
kháng thuốc cao. Vì vậy, khi phát triển các cây rau màu vụ hè thu, nông dân cần
chú ý phòng ngừa và chữa trị cho tốt loại bệnh hại này.( Trần Thị Liên, Trạm
khuyến nông Nam Sách).
Nấm bệnh tồn tại trong đất trồng, hạt giống và tàn dư cây bệnh. Bệnh phát
tán nhờ gió, mưa và côn trùng.
2.2.4 Bệnh lở cổ rễ
Bệnh lở cổ rễ do loài Rhizoctonia solani (R. solani) phát sinh gây hại phổ
biến trên nhiều chủng loại cây trồng khác nhau thuộc họ cà, họ đậu, họ bầu bí
Kết quả điều tra bệnh lở cổ rễ trên các loài cây trồng vùng Hà Nội năm 2011 –
2012 cho thấy bệnh phát sinh phát triển và gây hại trên các cây ký chủ là khác
nhau và tỷ lệ bệnh cao nhất trên cây cà chua (2,80%), lạc (4,55%), đậu tương
(6,17%), dưa chuột (7,61%) và đậu đũa (7,46%). (Đỗ Tấn Dũng, 2013).
Bệnh hại vào thời kì cây con mới mọc gây héo và chết cây con. Vết bệnh lúc
đầu là chỉ là một chấm nhỏ màu đen ở phần gốc sau đó lan nhanh bao bọc xung
quanh cổ rễ làm cổ rễ khô tóp lại, cây gục xuống nhưng thân lá vẫn còn màu xanh.
Trên vết bệnh có lớp nấm màu trắng. Nấm Rhizoctonia solani có sợi nấm kí sinh
màu vàng, khi già chuyển sang nâu. Sợi nấm mảnh dài 4-12 µm. Sợi nấm phân
nhánh góc phải và có ngăn ngang ở đốt cuối cùng. Hạch nấm dạng hạt dẻ, màu
nâu, sau chuyển sang nâu đen.
Nấm gây bệnh có phạm vi ký chủ rộng, nguồn bệnh tồn tại chủ yếu trong
đất, trên tàn dư cây bệnh, cây ký chủ, cỏ dại, vật liệu giống nhiễm bệnh.
Phần III. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại: Các vùng trồng cây rau họ bầu bí tại Hà Nội,
* Phương pháp chế tạo môi trường: Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử
dụng các loại môi trường nhân tạo: PGA, PCA.
- Môi trường PGA (Potato Glucose Agar):
+ khoai tây 200 gam
+ Glucose 20 gam
+ Agar 20 gam
+ Nước cất 1000ml.
- Cách điều chế: Khoai tây rửa sạch, thái nhỏ kích thước 1 x 2 x 1 cm cho
vào nồi chứa 1000ml nước cất đun sôi, sau khi đun sôi được 30 phút thì lọc lấy
phần nước, bổ sung thêm nước cho đủ 1000ml. Cho từ từ 20g đường glucose và
20g agar vào dung dịch nước trên. Môi trường được cho vào bình tam giác sau đó
hấp khử trùng ở 121
0
C trong thời gian 45 phút, để nguội 55-60
0
C trước khi rót vào
đĩa peptri đã được khử trùng.
- Môi trường PCA: ( Potato Carrot Agar)
+ Khoai tây: 100g
+ Agar: 20g
+ Cà rốt: 100g
+ nước cất: 1000ml
Cách điều chế tương tự như môi trường PGA
* Phương pháp phân lập nấm gây bệnh.
Áp dụng đối với các bệnh : đốm lá, thán thư, lở cổ rễ.
- Mẫu bệnh thu ngoài đồng là những mẫu bệnh điển hình còn mới, còn tươi.
Rửa sạch mẫu bệnh để loại bỏ cát bụi và các tạp chất khác.
- Lau sạch buồng cấy bằng cồn etylen 70%.
- Nhúng panh và dao mổ trong cồn etylen 70% và hơ trên ngọn lửa đèn cồn.
Đồng thời nhúng nhanh mẫu bệnh vào cồn etylen 70%, rửa lại trong nước vô trùng
3.3.4 Nghiên cứu lây bệnh trong nhà lưới.
Nguồn nấm: nấm phấn trắng, sương mai, thán thư, đốm lá, lở cổ rễ hại trên
dưa chuột, bí đỏ.
Kí chủ: dưa chuột, bí đỏ, mướp đắng.
+ Đối với nấm phấn trắng, sương mai, thán thư, đốm lá:
Thí nghiệm được bố trí với 3 công thức, mỗi công thức 5 cây nhắc lại 3 lần,
mỗi cây lây 2 lá, mỗi lá lây 5 vết. Công thức 1: đối chứng; Công thức 2: có sát
thương; Công thức 3: không sát thương. Các chỉ tiêu theo dõi: quan sát triệu chứng
biểu hiện trên lá; nhận xét khả năng lây bệnh của nấm phấn trắng, sương mai, thán
thư, đốm lá trong nhà lưới so với ngoài đồng ruộng.
+ Đối với nấm lở cổ rễ: từ các nấm R. solani thuần đã phân ly nuôi cấy
được, tiến hành lây nhiễm trên các mẫu hạt giống của cây dưa chuột (lây nhiễm
trên hạt khỏe); thí nghiệm được nhắc lại 3 lần, mỗi lần 30 hạt, 10 hạt trên mỗi
chậu, mỗi chậu dùng 1 hộp peptri nuôi cấy nấm R. solani thuần. Theo dõi số cây bị
bệnh sau lây nhiễm 7 –14 ngày. Từ đó tính tỷ lệ bệnh (%).
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và xử lý số liệu
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
* Tỷ lệ bệnh (%)
Số lá (cây) bị bệnh
TLB(%) = x 100%
Tổng số lá (cây) điều tra
*Chỉ số bệnh (%):
Σ (a x b)
CSB(%) = x 100
N x T
a: Số lá bị bệnh ở mỗi cấp
b: Cấp bệnh tương ứng
T: Cấp bệnh cao nhất (cấp 5)
N: Tổng số điều tra
+ Bảng phân cấp bệnh hại trên lá:
Hà Nôil năm 2011 – 2012.
8. Viện Bảo vệthực vật (1997). Phương pháp nghiên cứu Bảo vệthực vật tập I,
NXB Nông nghiệp Hà Nội.
9. Cục Bảo vệthực vật (1995). Phương pháp điều tra phát hiện sâu, bệnh, cỏdại
hại cây trồng, NXB Nông nghiệp Hà Nội.
*Tài liệu nước ngoài
1. Kirkbride JH, 1993. Biosystematicmonograph of the genus Cucumis
(Cucurbitaceae). Parkway Publishers, Boone (NC, USA). P. 159
2 . Jeffrey C, 1980. A review of the Cucurbitaceae. Bot J Linn Soc 81: pp. 233-
247.
3. Andy Wyenandt, Ph.D, Diagnosing and Managing Important Pumookin
Diseases in the Home Garden – Part 2.
4. The cucurbit downy mildew pathogen Pseudoperonospora cubensis.
5. Alternaria alternata - Phadia - Setting the Standard - Phadia.com
6. http://translate.google.com.vn
7. Graham, K.M., 1971, Plant Diseases of Fiji HMSO p 99
8. Kranz, J., et al (eds), 1977, Diseases, Pests & Weeds in Tropical Crops
Verlag Paul Parey p 90
9. Graham, K.M., 1971, Plant Diseases of Fiji HMSO p 102
10. Graham, K.M., 1971, Plant Diseases of Fiji HMSO p 105
11. Colucci, SJ và GJ Holmes. 2010. Nấm sương mai của cây họ bầu bí.
12. Doubrava, N, et al. 2007. Cucumber, Squash, Melon & Other Cucurbit
Diseases.
13. McGrath, M.T., 1997. Powdery Mildew of Cucurbits Nấm bột của cây họ
bầu bí.
14. Thomas A. Zitter, 7.1992, Assorted Foliar Diseases of Cucurbits.
15. Thomas A. Zitter, 12-1987, Anthracnose of Cucurbits
16.http://translate.google.com.vn/translate?
hl=vi&sl=en&u=http://www.agroatlas.ru/en/content/diseases/Cucurbitae/Cuc
urbitae_Colletotrichum_lagenarium/&prev=/search%3Fq%3DColletotrichum