bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
*******
******* Đặng Nguyễn Hồng Phơng Nghiên cứu thành phần nhện hại, biện pháp phòng trừ
loài nhện hại chủ yếu hoa hồng vụ Xuân hè - 2006
tại Hà Nội và vùng phụ cận Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp
Hà Nội - 2006
bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
*******
*******
để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn này đã đợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đều đã đợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Đặng Nguyễn Hồng Phơng
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
ii
Lời cảm ơn Nhân dịp hoàn thành luận văn kết thúc khóa học, bằng tất cả tấm
lòng thành kính nhất, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới: Thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Văn Đĩnh - ngời đã trực tiếp hớng dẫn và giúp đỡ tôi
trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.
Qua đây, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tập thể
các Thầy, Cô giáo khoa Nông học, đặc biệt là bộ môn Côn trùng, cùng
khoa Sau Đại học đã hết sức ân cần chỉ bảo, hớng dẫn tận tình, giúp đỡ
và hỗ trợ tôi trong suốt cả khóa học.
Cũng nhân dịp này, cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến Bộ môn Cây ăn
quả và Trung tâm VAC (trờng Đại học Nông nghiệp 1), những hộ gia
đình trồng hoa hồng tại xã Mê Linh (Mê Linh, Vĩnh Phúc), xã Tây Tựu
(Từ Liêm, Hà Nội) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện các thí
chủ yếu trên hoa hồng
9
2.4. Các biện pháp phòng chống nhện hại hoa hồng 11
3. Đối tợng, địa điểm, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tợng, địa điểm nghiên cứu 15
3.2. Nội dung và phơng pháp nghiên cứu 15
3.3. Xử lý số liệu 23
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1. Tình hình trồng và chăm sóc hoa hồng tại địa bàn nghiên cứu 24
4.2. Thành phần nhện hại và nhện bắt mồi trên hoa hồng vụ Xuân hè
2006 (tháng 2/2003 tháng 5/2006)
26
4.3.
Biến động mật độ của Tetranychus urticae trên hoa hồng tại Mê
Linh (Vĩnh Phúc)
33
4.4.
Đặc điểm sinh học của Tetranychus urticae
35
4.5.
Sức tăng quần thể thực tế của Tetranychus urticae
43
4.6. Thử nghiệm các biện pháp phòng chống nhện hai chấm hại hoa
hồng T. urticae
45
4.7.
Khả năng phòng chống T. urticae của một số loại thuốc BVTV
49
5. Kết luận và đề xuất
5.1. Kết luận 52
rất chặt chẽ sao cho những bông hồng xuất khẩu phải to và đẹp, cành hoa
phải chắc khoẻ và lá phải xanh bóng. Hoa hồng là cây không mẫn cảm
với chu kỳ ánh sáng nên có thể sản xuất quanh năm, còn nếu nhiệt độ
quá thấp (<8
0
C) hoặc quá cao (>32
0
C kéo dài liên tục), hoa hồng thờng
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
2
rơi vào trạng thái ngủ nghỉ và bán ngủ nghỉ. Với khí hậu có 4 mùa rõ rệt
nh ở Việt Nam, thực sự là yếu tố thuận lợi giúp cho ngời trồng hoa có
sự lựa chọn thích hợp thời vụ trồng hoa hồng theo từng điều kiện của địa
phơng. Tuy nhiên vấn đề khó khăn là, những thời vụ thích hợp để trồng
hoa hồng mang lại hiệu quả kinh tế cao (hoa hồng a nhiệt độ ban ngày
là 23-28
0
C, ban đêm là 14-18
0
C) lại có điều kiện sinh thái thích hợp cho
nhiều loài nhện nhỏ hại hoa hồng phát sinh gây hại. Chúng chích hút
nhựa cây hoa hồng qua việc chích hút biểu bì lá làm cho lá mất đi màu
xanh bóng, kéo theo hoa phát triển còi cọc, thậm chí không ra hoa nếu
nh nhện hại quá nặng làm rụng hết lá.
Việc phòng chống dịch hại, đặc biệt là nhện hại nhằm đảm bảo cho
hoa hồng sinh trởng, phát triển với năng suất và phẩm chất cao là vô
cùng quan trọng. Điều đáng nói ở đây là, những nghiên cứu về nhện hại
trên cây trồng nói chung và trên hoa hồng nói riêng không có nhiều
khiến cho những ngời trồng hoa, nhất là ở những địa phơng mới
chuyển đổi sang trồng hoa, gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng các
hoa hồng ngày càng trở nên gắn bó với cuộc sống, và cho đến nay, ở hầu
khắp các nớc trên thế giới đều có trồng hoa hồng. Lẽ tất nhiên khi đã trở
thành một loại cây trồng thì cũng bắt đầu xuất hiện sâu bệnh hại, vì thế
đòi hỏi ngời trồng hoa hồng phải quan tâm đến việc phòng trừ các loài
sâu bệnh hại đó. Những biến đổi của tự nhiên song song với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã có tác động rất lớn đến thành phần
dịch hại cây trồng nói chung và hoa hồng nói riêng. Bên cạnh những loài
sâu hại quen thuộc và phổ biến nh rệp, bọ trĩ, sâu xanh, sâu khoang, sâu
xám..., sự xuất hiện nhóm nhện nhỏ hại hoa hồng không chỉ là mối quan
tâm của các nhà trồng hoa mà còn là đối tợng nghiên cứu của nhiều nhà
côn trùng học trên thế giới và cả ở Việt Nam.
2.1. Thành phần nhện hại cây trồng nói chung và hoa hồng nói riêng
Thành phần nhện nói chung và nhện nhỏ bộ Ve bét nói riêng là khá
đa dạng, chúng phân bố ở khắp nơi trên thế giới, từ trong nhà, ngoài đồng,
trong rừng cho đến các bụi cây và các vùng đồi núi có độ cao thấp khác
nhau, trong đó bao gồm cả có ích và có hại (Ehara, S., 1977) [27]. Tuy
vây, sự phân bố các loài nhện ở các khu vực khác nhau trên thế giới là
khác nhau, có những họ chỉ có ở vùng ôn đới mà không có ở vùng nhiệt
đới, trong khi đó những loài chỉ a khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới...
Ví nh họ Atypidae và họ Paratopidae chỉ có ở vùng đồng bắng sông
Amazon, hai nh họ Migidae chỉ có ở Nam Phi và trên đảo Madagasca,
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
5
Milan [34]. Việc nghiên cứu thành phần nhện hại là cơ sở đầu tiên cho
việc nghiên cứu chuyên sâu về từng đối tợng nhện nhỏ gây hại. Trên thế
giới, nhện nhỏ hại cây trồng là đối tợng gây hại phổ biến nên có rất nhiều
nghiên cứu và những chuyên khảo về nhện hại. Từ năm 1955 đã có công
trình của Prichard & Baker nghiên cứu về thành phần nhện hại thuộc họ
Tetranychidae [43]; tiếp đến là Tuttle & Baker (1968) với những nghiên
cứu về nhện nhỏ hại cây trồng vùng Tây Nam Mỹ [49], đồng thời thống
2.2. Hình thái học và triệu chứng gây hại của một số loài nhện hại
chủ yếu trên hoa hồng
Tổng hợp các tài liệu nớc ngoài cho thấy, loài Tetranychus
urticae là loài nhện hại hoa hồng đợc quan tâm nghiên cứu nhiều nhất.
Không thấy nhiều tài liệu nói về các loài nhện khác hại hoa hồng. Do đó,
phần lớn các tài liệu nghiên cứu về nhện hại hoa hồng chủ yếu là mô tả
đặc điểm hình thái, và triệu chứng gây hại chủ yếu là đối với loài
Tetranychus urticae.
Tetranychus urticae là loài nhện chăng tơ, có phổ ký chủ rộng, có
mặt trên rất nhiều loại cây trồng, đặc biệt là những cây thực phẩm đợc
trồng trong nhà kính nh cà chua, da chuột, tiêu hay hoa cúc, hoa lan;
các cây ăn quả nh táo, đào, nho; cây công nghiệp nh bông, đậu
tơng... Ngoài ra, chúng cũng có thể sống trên các cây không phải là ký
chủ để tích lũy số lợng.
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
7
Tetranychus urticae tấn công gây hại bằng cách dùng miệng kìm
chọc thủng biểu bì lá và hút dịch tế bào. Vết hại để lại trên lá là những
chấm nhỏ li ti màu trắng hoặc tái xanh do bị mất diệp lục. Lá bị hại
năng, các chấm nhỏ li ti kết thành đám màu vàng rồi chuyển dần sang
màu đồng. Gặp thời tiết khô nóng, lá trở nên giòn và dễ bị rụng Trên các
cây ký chủ khác nh bông [21], cà chua [40], táo và đào [39], dâu tây
[45] đều có dấu hiệu tơng tự. Khi nghiên cứu ảnh hởng của mật độ
nhện hai chấm Tetranychus urticae đến phẩm chất hoa hồng trong nhà
kính, Landeros et al (2004) đã khẳng định, sự biến động mật độ nhện hai
chấm làm ảnh hởng đến khả năng đồng hóa CO
2
, sự thoát hơi nớc và
sự đóng mở khí khổng của lá hoa hồng. Đây là những yếu tố ảnh hởng
trực tiếp đến quá trình tích lũy chất dinh dỡng hữu cơ trong cây nên hệ
chết. Nếu gặp ma gió, các mảng lá này bị thủng hoặc cây bị rụng lá.
Vì nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus có đặc điểm hình thái
khá giống với Tetranychus urticae nên có rất nhiều nghiên cứu so sánh
và phân biệt hai loài này. Enohara, Armano (1996) thấy sự giống nhau
về màu sắc và đặc điểm hình thái tới mức khó phân biệt giữa 6 loài
Tetranychus ở Nhật Bản, trong đó có Tetranychus cinnabarinus và
Tetranychus urticae. Vì thế, các tác giả này đã lấy mẫu các alloenzyme
của enzym esteraza có trong cơ thể các loài nhện này để phân tích và
nhờ đó có thể phân biệt đợc các loài với nhau [28]. Đến năm 1997,
Goka và Takafuji tiếp tục nghiên cứu sử dụng các enzym PGI và MDH
mã hóa để phân biệt các loài nhện thuộc họ Tetranychidae bằng phơng
pháp điện di [31].
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
9
2.3. Đặc điểm sinh học và sinh thái học của một số loài nhện hại chủ
yếu trên hoa hồng
Trởng thành cái của Tetranychus urticae có thể ở trạng thái ngủ
nghỉ trong những điều kiện môi trờng và thức ăn không thuận lợi (thờng
là vào mùa đông). Khi đó, chúng di chuyển đến các khe, các điểm nứt gãy
trong đất, trong các thân cây, các bờ tờng và ngừng ăn cũng nh ngừng
đẻ trứng. Sang xuân chúng lại phục hồi mọi hoạt động nh bình thờng.
Theo tổng hợp của CAB International (2004), Tetranychus urticae
có tốc độ phát triển rất nhanh, nhất là trong điều kiện nhiệt độ cao. Với
ngỡng nhiệt độ thích hợp là 30-32
0
C, pha trứng kéo dài 3-5 ngày, pha
nhện non cũng chỉ mất 4-5 ngày, pha trởng thành đến khi đẻ trứng chỉ
có 1-2 ngày. Nh vậy, vòng đời của loài nhện này chỉ diễn ra trong vòng
8-12 ngày, và trong suốt một đời (khoảng 30 ngày) mỗi con cái có thể đẻ
trung bình 90-110 quả trứng. Điều này giải thích vì sao mà nhện hai
nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học của loài T. cinnabarinus ở Việt
Nam, nhng không phải gây hại trên hoa hồng mà là gây hại trên sắn và
rau đay đỏ. Chúng có vòng đời ngắn (trung bình trên sắn là 9,8 ngày ;
trên rau đay đỏ là 8,8 ngày), tỷ lệ tăng tự nhiên cao (0,24 và 0,308) [7].
Nguyễn Thị Kim Oanh (2003) ghi nhận Tetranychus cinnabarinus
hại trên hoa hồng vùng Hà Nội, phát sinh gây hại mạnh vào tháng 3 và
tháng 4 [12].
Theo báo cáo của Nguyễn Tùng (2005) [15], loài nhện đỏ hại cam
chanh Panonichus citri cũng xuất hiện gây hại trên hoa hồng. Nhn
trng thnh cỏi cú th t 20 n 56 trng trong 11 n 15 ngy.
Trng thng c mt di ca lỏ. iu kin nhit 25
o
C
m 80% thi gian trng n l khong 6 ngy, nhn non tui 1 hot ng
chm chp sau khong 2,4 ngy lt xỏc chuyn sang tui 2. T tui 2 tr
i nhn non hot ng nhanh nhn, thi gian chuyn tui cng nhanh
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
11
hn (thi gian chuyn t tui 2 sang 3 l 1,5 ngy v t tui 3 chuyn
sang trng thnh l 1,1 ngy).
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và đặc điểm sinh học của
Panonichus citri có rất nhiều. Helle et al (1985) đã quan sát thấy trứng
nhện qua đông ở các vùng lạnh của Nhật Bản [33]. Jeppson et al (1975)
cho biết loài nhện này phát triển gây hại quanh năm ở hầu hết các vùng.
Ngoài gây hại trên cam chanh, chúng cũng có nhiều ký chủ khác, trong
đó có hoa hồng. Thời tiết nóng trên 40
0
C hay một số ngày nóng trên
32
0
kiếm vật mồi và khả năng sống sót cao khi nguồn thức ăn bị hạn chế, có
các điều kiện về ký chủ và sinh thái tơng ứng với vật mồi, có khả năng
chống chịu với các loại thuốc trừ dịch hại. Phytoseiulus persimilis thuộc
họ Phytoseiidae là loài đạt đợc tơng đối đầy đủ các tiêu chuẩn trên, có
tính chuyên hóa cao [24] nên có khả năng khống chế thành công nhên
hại trong nhà kính. Vì vậy, loài này đã đợc nhân thả rộng rãi ngoài sản
xuất với số lợng lớn. Ngoài ra còn có 6 loài khác thuộc họ này (đều là
giống Amblyseius) cũng có khả năng kìm hãm nhện hại rất tốt, ngay cả
khi mật độ nhện bắt mồi chỉ có 1-3 con/lá.
Bên cạnh nhóm nhện bắt mồi, còn có rất nhiều kẻ thù tự nhiên
khác trong các bộ côn trùng nh bọ rùa Stethorus sp., loài cánh cộc
Oligota, ...
Các tài liệu nghiên cứu về nhện bắt mồi trong nớc hiện nay có rất
ít, chủ yếu là những nghiên cứu của Nguyễn Văn Đĩnh [2, 3, 4]. Theo
các nghiên cứu này, Amblyseius sp. là kẻ thù tự nhiên khá lý tởng với
khả năng thích nghi cao, sức tấn công và sức ăn vật mồi khỏe. Mỗi ngày
nó có thể ăn tới 18 quả trứng nhện hại. Giai đoạn trởng thành, nhện bắt
mồi có sức ăn khỏe nhất. Phytoseiulus persimilis đã đợc nhập nội và
nhân thả thành công tại Việt Nam. Nuôi tại trờng Đại học Nông nghiệp
I - Hà Nội, loài này có tỷ lệ tăng tự nhiên khá cao (r > 0,3) và khống chế
nhện hại rất tốt [14].
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
13
Năm 2005, Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Kim Oanh còn mở ra
hớng mới về nhân nuôi nhện bắt mồi trên các môi trờng thức ăn khác
nhau, và thấy rằng nuôi trên T. cinnabarinus là thích hợp nhất. Khi đó,
vòng đời của Amblyseius sp. rất ngắn (6,32 ngày), tỷ lệ sống cao và di
chuyển nhanh nhẹn. Từ đó, các tác giả đã kết luận Amblyseius sp. là một
loài kẻ thù tự nhiên có triển vọng ở nớc ta [13].
Ngoài các biện pháp phòng chống bằng đấu tranh sinh học, biện
vào mặt dới lá khi mật độ nhện hai chấm còn thấp [20].
Xu hớng sử dụng cây kháng nhện hại cũng đang đợc quan tâm
và là một hớng đi mới trong tơng lai. Từ năm 1996, Aguliar et al đã
nghiên cứu tạo tính kháng Tetranychus urticae bằng cách kết hợp các
thành phần trong hạt đậu và hạt thóc theo một tỷ lệ nhất định, sau đó
nuôi Tetranychus urticae trên đĩa lá để đánh giá. Kết quả nuôi trong một
số kết hợp có sự giảm tỷ lệ sinh sản và khả năng sinh sản của
Tetranychus urticae so với khi nuôi ở điều kiện thờng. Từ đó, các tác
giả đã kết luận tăng cờng tính kháng đối với loài nhện Tetranychus
urtcae của cây trồng là một phơng hớng có khả thi.
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
15
3.
Đối tợng, địa điểm, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Đối tợng, địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Đối tợng nghiên cứu
- Thành phần nhện hại hoa hồng và thiên địch của chúng.
- Các biện pháp phòng chống loài nhện hại hoa hồng chủ yếu.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Điều tra thành phần nhện hại hoa hồng và thiên địch của chúng tại:
Trờng Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội; Xã Tây Tựu - Huyện Từ Liêm - Hà
Nội; và Xã Mê Linh - Huyện Mê Linh - Tỉnh Vĩnh Phúc
- Điều tra diễn biến mật độ của loài nhện hại chủ yếu, kết hợp với điều tra
tình hình sản xuất đợc thực hiện tại Xã Mê Linh - Huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc
- Tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và
một số biện pháp phòng trừ loài nhện hại chủ yếu đợc thực hiện tại Trờng
Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
3.2. Nội dung và phơng pháp nghiên cứu
- A > 50% : nhiều ( +++ )
* Điều tra diễn biến mật độ loài nhện hại chủ yếu, 1 tuần/lần, theo phơng
pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 3 cây, điều tra 3 tầng, mỗi tầng 3 lá. Các
mẫu lá đợc cho vào các túi nilon đã đợc đánh số tơng ứng với các điểm
điều tra. Tính mật độ theo công thức:
Tổng số nhện điều tra
Mật độ nhện (con/lá kép) = ---------------------------------
Tổng số lá điều tra
Quá trình điều tra diễn biến mật độ loài nhện hại chủ yếu đợc thực
hiện trên các giống hồng khác nhau, các tuổi cây khác nhau của cùng một
giống, và các tuổi lá khác nhau trên cùng một cây. Từ đó, so sánh đợc:
- Mức độ gây hại của nhện hại trên các giống hoa hồng khác nhau
- Mức độ gây hại của nhện hại theo tuổi cây
- Mật độ nhện hại ở các tuổi lá khác nhau trên cùng một cây
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
17
3.2.3. Nuôi sinh học đối với loài nhện hại hoa hồng chủ yếu
Tiến hành nuôi cá thể đối với loài nhện hại chủ yếu trong điều kiện
nhiệt độ bình thờng của phòng thí nghiệm, theo dõi vòng đời và đặc điểm
sinh học của chúng. Các bớc nh sau:
- Thiết kế khay nuôi nhện gồm 1 khay nhựa có thành cao khoảng 5
cm, bên trên đặt một miếng xốp có kích thớc vừa với khay nhựa,
miếng xốp này đợc khoét các lỗ thông hai mặt có đờng kính khoảng
5 mm, đặt vào các lỗ thông đó những ống nhựa có kích thớc tơng
ứng để cắm lá hoa hồng. Mục đích của việc làm này là giữ ẩm cho lá
hoa hồng để nhện hại có thể sống và hoàn thành vòng đời trên lá.
- Lá hoa hồng đợc sử dụng là lá đơn, đợc tỉa nhỏ bớt (đờng kính
lá tỉa khoảng 2,5 cm). Dùng bút lông chuyển 10 nhện cái trởng
thành lên mỗi lá, chờ nhện đẻ trứng khoảng 3 giờ, sau đó chuyển
toàn bộ các giai đoạn của nhện ra ngoài, chỉ giữ lại mỗi lá một quả
tiêu sinh thái học gọi là chỉ số hoặc tỷ lệ tăng tự nhiên (là thế năng sinh học
tổng hợp của tốc độ sinh sản, tốc độ phát triển, tỷ lệ giới tính và tỷ lệ sống tự
nhiên). Chỉ số này còn đợc gọi là tiềm năng sinh học hay chỉ số môi trờng,
ký hiệu là r trong phơng trình:
rN
dt
dN
=
Trong đó: dN - số lợng chủng quần gia tăng trong thời gian dt
N - số lợng chủng quần ban đầu
Tỷ lệ tăng tự nhiên cũng chính là tỷ lệ sinh trừ tỷ lệ chết:
r = b d (1)
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
19
Hoặc dới dạng tích phân: Nt = N
0
. e
-rt
(2)
Với e - là cơ số logarit tự nhiên.
Nt - số lợng chủng quần ở thời điểm t
N
0
- số lợng chủng quần ở thời điểm ban đầu
Hay lx.mx.e
-rx
= 1 (3)
(Theo Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)
Để tính đợc công thức này cần xác định một số chỉ tiêu gồm : tỷ lệ
=
rx
emxlxT ..
(6)
Từ (3) tính đợc tỷ lệ tăng tự nhiên r, bằng cách nhân cả 2 vế với trị số
e
7
,
ta có:
e
7-rx
. lx.mx = e
7
= 1096,7 (7)
Luận văn Thạc sỹ Đặng Nguyễn Hồng Phơng
20
Do vế trái ít khi đúng với e
7
, vì thế cần phải tìm 2 giá trị gần đúng trên
và dới của r, rồi bằng phơng pháp đồ thị có thể tìm đợc r đúng.
Ngoài ra, lấy logarit nghịch cơ số e của r ta tính đợc giá trị G (chỉ số
giới hạn tăng tự nhiên), nó cho biết số lần chủng quần tăng lên trong một đơn
vị thời gian :
G = e
r
(Baddi và McMurtry, 1984; Laing, 1968)
3.2.6. Sự phát triển quần thể của loài nhện hại chủ yếu trên hoa hồng.
Thí nghiệm đợc bố trí với 3 công thức và 3 lần nhắc lại, mỗi công thức
có kích thớc 1 m