1 TRƯNG ĐI HC CN THƠ
VIN NGHIÊN CU PHT TRIN ĐBSCL
Chuyên đề
PHÂN TÍCH THỰC TRNG HOT ĐỘNG
CỦA DỊCH VỤ Y TẾ Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG NĂM 2012
GIẢNG VIÊN NHÓM 3
Lê Cảnh Dũng Dương Bé Thạnh
Hồ Vũ Linh Đan
Trần Thị Thơm
Nguyễn Thị Như
Nguyễn Thị Ngọc Mai CN THƠ –2013
i
DANH SCH BẢNG
Tên bảng
Trang
Bảng 1. Số bệnh viện và giường bệnh từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung
ương ở Việt Nam năm 2010
2.1. Thực trạng hệ thống cơ sở y tế 2
2.1.1. Các cơ sở khám chữa bệnh 2
2.1.2. Giường bệnh 4
2.1.3. Nguồn nhân lực y tế 5
2.1.4. Trang thiết bị kỹ thuật và quản lý 7
2.1.5. Mạng lưới y tế cơ sở 8
2.1.6. Thuốc và vắc xin 9
2.2. Những thành tựu đạt được và thuận lợi trong phát triển hệ thống y tế 10
2.2.1 Những thành tựu đạt được 10
2.2.2 Những thuận lợi 11
2.3. Những tồn tại và thách thức trong hệ thống y tế 11
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 14
CHƯƠNG 4 CC GIẢI PHP PHT TRIN DỊCH VỤ Y TẾ 16
4.1. Về tài chính và đầu tư 16
4.2. Đảm bảo nguồn nhân lực y tế 16
4.3. Phát triển khoa học, công nghệ 17
4.4. Đảm bảo cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế 17
4.5. Tăng cường hợp tác quốc tế 18
4.6. Tăng cường năng lực quản lý y tế 18
4.7. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ 18
TÀI LIU THAM KHẢO 19
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIU
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nguồn lực đầu tư và cơ sở hạ tầng còn hạn
chế. Nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân ngày một gia tăng, trình độ dân trí ngày
càng được cải thiện, mô hình bệnh tật thay đổi theo hướng gia tăng các bệnh không lây
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG
2.1. Thực trạng hệ thống cơ sở y tế
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2013) thì cơ cấu tổ chức bộ máy hệ thống y tế hiện nay
từng bước được hoàn thiện và dần ổn định ở cả Trung ương và địa phương. Sau một
thời gian mạng lưới y tế huyện bị phân chia thành 3 đơn vị, nay tổ chức tuyến cơ sở đã
được điều chỉnh và dần ổn định. Trung tâm y tế được thành lập thống nhất trên địa bàn
cấp huyện thực hiện hai chức năng y tế dự phòng, khám chữa bệnh và quản lý các trạm
y tế xã/ phường; nơi có điều kiện tách riêng bệnh viện và trung tâm y tế chỉ thực hiện
chức năng y tế dự phòng và quản lý các trạm y tế xã/phường. Việc triển khai thực hiện
nghị định số 43/2005/NĐ – CP về cơ chế tự chủ dù còn một số hạn chế cần khắc phục
nhưng đã tạo điều kiện để phát triển và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ sở y
tế công lập.
2.1.1. Các cơ sở khám chữa bệnh
Theo số liệu thống kê đến năm 2010, toàn quốc có 13.598 cơ sở với 252.747 giường
bệnh. Có 1.071 bệnh viện từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung ương, cụ thể: tuyến
Trung ương có 44 bệnh viện với 20.610 giường bệnh; tuyến Tỉnh có 376 bệnh viện với
105.803 giường; tuyến Huyện có 615 bệnh viện với 55.190 giường bệnh; các cơ sở
thuộc Bộ, ngành khác có 36 bệnh viện và bệnh viện phục hồi chức năng (không kể Bộ
Quốc phòng và Bộ Công an) với 9.415 giường bệnh.
Bảng 1. Số bệnh viện và giường bệnh từ Huyện, Tỉnh đến Bộ ngành, Trung ương
ở Việt Nam năm 2010
Số bệnh viện
Số giường bệnh
Trung ương
44
20.610
Bộ, ngành
2012
Bệnh viện
155
154
157
157
Phòng Khám Khu vực
113
92
94
102
Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng
2
2
2
3
Trạm Y tế xã, phường, cơ quan, xí nghiệp
1.559
1.562
1.570
1.573
TỔNG
1.829
1.810
1.823
1.835
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
Năm 2012, tổng số cơ sở khám chữa bệnh ở các tỉnh ĐBSCL là 1.837 cơ sở. Trong đó,
Long An là tỉnh có số lượng nhiều nhất với 211 cơ sở (chiếm 11,5%). Các tỉnh có số
lượng cơ sở khám chữa bệnh cao Tiền Giang (193 cơ sở), Bến Tre (185 cơ sở), Đồng
chức năng lại quá ít dẫn đến tình trạng quá tải thường xuyên diễn ra.
5 Hình 3. Tỷ lệ giường bệnh phục vụ ở từng cơ sở
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
2.1.3. Nguồn nhân lực y tế
2.1.3.1. Mạng lưới đào tạo cán bộ y tế
Mạng lưới các trường đào tạo nhân lực y tế đã được mở rộng. Hiện nay, 60/63 tỉnh
thành có cơ sở đào tạo từ bậc Trung học y tế trở lên, cụ thể: 17 cơ sở đạo tạo tiến sĩ
ngành Y dược (10 trường, 07 Viện), 14 trường Đại học Y Dược (chiếm 8% số trường
đại học trong cả nước), 33 trường Cao đẳng y tế (chiếm 14% các trường cao đẳng
trong cả nước). Bậc đào tạo trung cấp y tế có 42 trường.
Nhìn chung, chất lượng nhân lực y tế đã tăng lên. Nhiều cán bộ y tế đã được đào tạo
nâng cao trình độ ở bậc sau đại học như Bác sỹ nội trú, chuyên khoa 1, chuyên khoa 2,
thạc sỹ và tiến sỹ. Đội ngũ khoa học kỹ thuật được tăng cường, thực hiện được nhiều
kỹ thuật hiện đại… Ngành y tế phối hợp với với ngành giáo dục và đào tạo đã cải tiến
chương trình đào tạo, mở thêm nhiều mã ngành mới, ở cả trình độ đại học, cao đẳng và
trung cấp; tăng cường đào tạo sau đại học.
Tuy nhiên vấn đề nguồn nhân lực y tế cũng gặp phải những khó khăn và hạn chế sau:
Có sự mất cân đối về cơ cấu và phân bổ nhân lực y tế, thiếu nhân lực y tế ở một
số chuyên ngành (như y tế dự phòng, giải phẫu bệnh, tâm thần, lao…) và vùng
nông thôn, vùng khó khăn. Nhân lực y tế có trình độ cao chủ yếu tập trung ở
khu vực thành thị và các trung tâm lớn. Tình trạng dịch chuyển nhân lực y tế từ
tuyến dưới lên tuyến trên, về các thành phố lớn, các bệnh viện tuyến trên là báo
6
động, ảnh hưởng đến việc đảm bảo số lượng nhân lực y tế cần thiết ở nông thôn
và cơ sở.
Nhu cầu nhân lực y tế hiện nay chưa đáp ứng đủ về số lượng cũng như về chất
Hình 5. Số cán bộ ngành Y, Bác, Dược sĩ trên 10000 dân ở các tỉnh ĐBSCL
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2013)
So với các nước trong khu vực, Việt Nam có tỷ lệ cán bộ y tế/10.000 dân khá thấp.
Việc phân bổ nhân viên y tế không đồng đều giữa các vùng miền; Khu vực đồng bằng
sông Cửu Long có số nhân viên y tế thấp nhất, với hơn 50.000 cán bộ y tế /17,5 triệu
dân (đạt tỷ lệ 23,1%). Vì vậy trong những năm tới cần ưu tiên tăng cường bổ sung
nhân viên y tế cho vùng đồng bằng Sông Cửu long.
2.1.4. Trang thiết bị kỹ thuật và quản lý
Trong những năm qua, hệ thống bệnh viện đã được củng cố, nâng cấp và đầu tư phát
triển tương đối đồng đều từ tuyến huyện, tuyến tỉnh đến Trung ương cả về cơ sở hạ
tầng và trang thiết bị kỹ thuật. Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế đến năm 2010
được xây dựng với sự tham gia và đóng góp của các Bộ, ngành và các đơn vị liên
quan, bao gồm các mục tiêu chủ yếu, những giải pháp tổng thể thuộc lĩnh vực quản lý,
sản xuất, kinh doanh, khai thác sử dụng, nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo
nguồn nhân lực chuyên ngành kỹ thuật thiết bị y tế.
Tại các bệnh viện, trang thiết bị thường do chính quyền trung ương mà đại diện là Bộ
y tế cung cấp theo các chương trình mục tiêu. Khi máy móc thiết bị hư hỏng thì bệnh
8
viện tự phải bỏ tiền để sửa chữa – nguồn kinh phí chủ yếu được ứng từ khoán chi cho
bệnh viện, và đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ y tế công. Bởi lẽ, trang thiết bị y tế chi phí rất cao trong khi kinh phí phân cấp
lại quá eo hẹp. Tuy nhiên, tình hình này cũng đã được cải thiện hơn vì trong những
năm vừa qua, bệnh viện đã được trang bị thêm nhiều máy móc thiết bị phục vụ chuyên
môn từ nguồn trái phiếu của Chính phủ.
Về xử lý chất thải y tế, trong những năm vừa qua các bệnh viện không những tăng về
số lượng mà còn được nâng cao cả về chất lượng phục vụ. Tuy nhiên, quá trình hoạt
động của hệ thống bệnh viện còn gặp nhiều bất cập, các bệnh viện tuyến tỉnh và Trung
ương luôn trong tình trạng quá tải, kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng còn hạn hẹp,
Số xã có bác sĩ
67,8
Số xã đạt chuẩn quốc gia y tế xã
73,8
Số xã có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh
96,2
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011)
Thực hiện chủ trương 100% trạm y tế xã có bác sĩ, trong những năm qua, các địa
phương tập trung đào tạo và đưa bác sĩ về tuyến xã. Tính đến 2010, bổ sung 7.244 bác
sĩ về phục vụ tuyến xã, nâng tỷ lệ xã có bác sĩ lên 67,8%. Hiện nay, Bộ Y tế đã phân
tuyến kỹ thuật cho xã nhằm thúc đẩy hoạt động của trạm y tế xã.
2.1.6. Thuốc và vắc xin
Khả năng tiếp cận thuốc ở Việt Nam tương đối tốt do có mạng lưới phân phối thuốc
rộng khắp trên toàn quốc. Đến năm 2010, hệ thống phân phối thuốc Việt Nam bao
gồm các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc và cơ sở bán lẻ thuốc, tương ứng số
lượng là 2.318 doanh nghiệp và 44.084 cơ sở. Năm 2010, giá trị thuốc sản xuất trong
nước đạt khoảng 919,04 triệu USD, đáp ứng được 48,03% nhu cầu sử dụng thuốc
trong nước. Tiền thuốc bình quân đầu người trong năm đạt 22,25 USD. Công nghiệp
bào chế dược phát triển mạnh về số lượng doanh nghiệp và mặt hàng. Đến nay, sản
xuất trong nước đã đáp ứng khoảng 50% tổng nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân.
Các quy định về chất lượng thuốc được rà soát và sửa đổi để dần dần đạt các tiêu
chuẩn khu vực và quốc tế (Bộ Y tế, 2012).
Sử dụng thuốc (đặc biệt kháng sinh) không hợp lý đang dẫn đến kháng thuốc trong
cộng đồng, tăng tác động có hại của thuốc, cũng như tăng chi phí thiết yếu cho mua
thuốc. Tình trạng tự mua thuốc không có đơn của bác sĩ rất phổ biến do quy chế bán
thuốc theo đơn chưa được thực hiện nghiêm túc. Phác đồ điều trị chuẩn chưa được xây
dựng và cập nhật nên thiếu tiêu chuẩn để kiểm soát đơn thuốc do bác sĩ chỉ định. Thiếu
dược sĩ đại học ở tuyến huyện để tư vấn dùng thuốc an toàn hợp lý. Bác sĩ chưa có cơ
sở thống kê về tình hình kháng thuốc để làm căn cứ khi kê đơn thuốc, do xét nghiệm vi
sinh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
chuyên môn kỹ thuật cho các cơ sở y tế ngoài công lập, các cơ sở y tế ngoài công lập
ngày càng phát triển và từng bước phát triển quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động.
Việc huy động vốn của các cơ sở y tế công lập đã và đang từng bước thu hút các
nguồn vốn đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư trang thiết bị, phát triển các dịch
vụ kỹ thuật. Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp ngành y tế
ổn định và đi vào nề nếp (Sở Y tế tỉnh An Giang, 2013).
Công tác thanh kiểm tra được tăng cường, phát hiện xử lý, uốn nắn kịp thời những sai
sót yếu kém trong các lĩnh vực hoạt động của Ngành và hoạt động hành nghề Y, Dược
tư nhân.
11
2.2.2 Những thuận lợi
Đảng, Quốc hội, Chính phủ ngày càng quan tâm đến ngành Y tế, xác định rõ vai trò
quan trọng của sức khỏe trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi
đầu tư cho sức khỏe là đầu tư trực tiếp cho phát triển bền vững. Hệ thống pháp luật
liên quan đến CSSK ngày càng được hoàn thiện; nhiều Luật,Nghị định của Chính phủ,
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ đã được ban
hành, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch cho quá trình xây dựng và phát triển hệ
thống y tế (Bộ Y tế, 2012).
Tổ chức mạng lưới y tế sau một thời gian có thay đổi, nay đã dần ổn định, là điều kiện
để phát triển trong thời gian tới. Nhận thức và sự tham gia của người dân, các cấp ủy
đảng, chính quyền vào công tác CSSK ngày càng sâu rộng; sự phối hợp liên ngành
trong CSSK có những bước chuyển biến tích cực. Năng lực quản lý của đơn vị được
tăng cường; sự nhiệt tình công tác, tận tâm với người bệnh của cán bộ y tế ngày càng
nâng cao.
2.3. Những tồn tại và thách thức trong hệ thống y tế
Theo Bộ Y tế (2013) thì Ngành Y tế ở ĐBSCL vẫn còn nhiều bất cập như sau:
Các cơ sở y tế dự phòng: Mặc dù đạt nhiều thành tựu quan trọng, thay đổi mô hình
bệnh tật, bảo vệ hàng chục triệu người khỏi các bệnh dịch nguy hiểm, công tác y tế dự
phòng ở nước ta vẫn còn có nhiều khó khăn:
giữa các vùng, chưa có nhiều bệnh viện hiện đại ngang tầm các nước trong khu vực.
Nhìn chung mạng lưới bệnh viện đang đứng trước thách thức về yêu cầu phục vụ ngày
càng tăng, đòi hỏi chất lượng ngày càng cao của người dân, nhưng điều kiện phục vụ
còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhiều so với nhu cầu. Cơ chế tài chính và quản
lý bệnh viện còn những vấn đề đáng quan tâm.
Nhân lực y tế: Nguồn nhân lực ngành y tế còn thiếu, mất cân đối về cơ cấu, phân bổ
không đồng đều, một số tỉnh ĐBSCL thiếu cán bộ kỹ thuật chuyên môn giỏi. Nguồn
đào tạo bổ sung thay thế còn chưa đáp ứng nhu cầu. Tuy số cán bộ y tế tăng hàng năm
là khá rõ ràng, nhưng khi so với mức tăng dân số vẫn không theo kịp.
Chất lượng nhân lực y tế còn hạn chế, không tương xứng với nhu cầu nhân lực trình độ
cao để làm chủ các kỹ thuật mới. Năng lực thực hành của sinh viên sau khi ra trường
khá hạn chế do quá trình học không được thực hành nhiều như trước đây, cho dù thầy
giỏi hơn, máy móc thiết bị phục vụ học tập hiện đại hơn cùng với mức sống của sinh
viên khá hơn trước.
Thông tin y tế: Hệ thống thông tin y tế chưa được quan tâm đúng mức, số liệu thống
kê còn chậm chưa cập nhật thường xuyên, chất lượng thông tin chưa tốt, khả năng tổng
hợp, phân tích và sử dụng số liệu thống kê trong lập kế hoạch, phân tích chính sách,
theo dõi và đánh giá còn yếu. Một số chỉ số để theo dõi các mục tiêu thiên niên kỷ liên
quan đến y tế, giới, còn thiếu hoặc thiếu tính so sánh quốc tế. Đối với hệ thống y tế tư
nhân, y tế các Bộ, ngành chưa cặp nhật dẫn đến tình trạng thiếu số liệu phân tích đánh
giá.
13
Thuốc, vắc xin, sinh phẩm: Đội ngũ cán bộ dược vẫn còn rất thiếu và yếu cả trong
lĩnh vực quản lý cũng như hoạt động chuyên môn, đặc biệt ở các xã, huyện kém phát
triển. Hiện nay tính chung trên phạm vi cả nước không chỉ thiếu cán bộ dược trình độ
cao mà còn thiếu cả dược tá ở các trạm y tế. Trong khi đó vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực cho công tác dược còn gặp nhiều khó khăn, cơ chế điều động và sử dụng cán bộ
chưa phù hợp, chưa có chính sách thu hút cán bộ dược vào làm việc trong các cơ quan
nhà nước.
KẾT LUẬN
Từ năm 2009 đến 2012 đã có sự tăng lên về số cơ sở khám chữa bệnh như bệnh viện,
bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, trạm Y tế ở các xã phường, cơ quan, xí
nghiệp ở ĐBSCL; ngoại trừ các Phòng Khám Khu vực đang giảm xuống về số lượng.
Tuy có sự tăng lên nhưng các cơ sở khám chữa bệnh ở các tỉnh ĐBSCL không đồng
điều, những nơi tập trung nhu cầu cở người dân cao thì số lượng cơ sở khám chữa
bệnh lại rất thấp điển hình là Cần Thơ (102 cơ sở khám chữa bệnh) và Hậu Giang (92
cơ sở khám chữa bệnh). Gây ra hiện tượng quá tải ở các bệnh viện nơi đây.
Số lượng giường bệnh phục vụ trong năm 2012 ở các tỉnh ĐBSCL chênh lệch nhau
khá cao cao nhất là 5054 giường bênh, thấp nhất là 1934 giường bệnh. Một điểm đáng
nói là các tỉnh như Long An, Tiền Giang, Bến Tre, có số lượng cơ sở khám chữa
bệnh rất nhiều nhưng số giường bệnh phục vụ rất ít do người dân ở các tỉnh này
thường khám chữa bệnh ở TP. Hồ Chí Minh. Điều này gây ra việc thừa giường bệnh
không đáng có. Bênh cạnh đó việc bệnh viên nhận 74,9% số giường bệnh phục vụ,
bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng thì chỉ nhận 0,6% số giường bệnh để
phục vụ.
Mạng lưới đào tạo cán bộ y tế từng bước được mở rộng, chất lượng nguồn nhân lực
cũng được nâng cao nhờ có sự phối hợp giữa ngành y tế và ngành giáo dục trong đào
tạo. Tuy nhiên, vấn đề nguồn nhân lực y tế cũng gặp phải những khó khăn như: mất
cân đối về cơ cấu và phân bổ nhân lực, chưa đáp ứng đủ số lượng, chất lượng, thiếu
nhân lực ở ngành y dự phòng.
Tổng số cán bộ ngành y, dược năm 2012 của ĐBSCL là 53.896 so với các vùng miền
khác thì ĐBSCL có tỷ lệ cán bộ y tế/10.000 dân khá thấp. Có sự tăng trưởng về số
lượng cán bộ ngành Y và Dược từ năm 2009 đến năm 2012. Có sự chênh lệch rất lớn
trong phân bố cán bộ ngành Y, Dược ở các tỉnh ĐBSCL, Cần Thơ có 6.037 cán bộ,
thấp nhất là Hậu Giang với 2.513 cán bộ.
Trang thiết bị kỹ thuật ở bệnh viện những năm qua đã được cũng cố, nâng cấp và đầu
tư phát triển tương đối. Nhưng vẫn nhận thụ động từ phía bộ và nguồn trái phiếu chính
phủ. Hệ thống xử lý chất thải y tế ở các bệnh viện tuy phát triển về số lượng nhưng
khuyến khích thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển dịch vụ y tế
dưới sự giám sát của nhà nước.
Các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị sự nghiệp y tế có trách nhiệm đảm bảo cân
đối, bố trí kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên, kinh phí duy tu, bảo dưỡng cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị cho các cơ sở y tế trực thuộc. Bảo đảm cho các đối tượng chính
sách xã hội và người nghèo được tiếp cận và hưởng các dịch vụ y tế cơ bản thiết yếu
với chất lượng cao hơn.
4.2. Đảm bảo nguồn nhân lực y tế
Phát triển nguồn nhân lực y tế với chất lượng ngày càng cao, ưu tiên nguồn nhân lực
cho hệ thống y tế dự phòng, đào tạo cán bộ chuyên khoa. Đầu tư nâng cấp các cơ sở
đào tạo, thực hành của các trường y dược, nâng cấp thư viện điện tử, ứng dụng công
nghệ thông tin vào công tác quản lý đào tạo giảng dạy. Huy động nguồn lực xã hội để
đa dạng hoá các loại hình đào tạo và mở rộng quy mô đào tạo nhân lực y tế. Nâng cao
năng lực chuyên môn, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chuyên khoa cho nhân dân và
hỗ trợ giảm tải các bệnh viện của Trung ương.
Xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý để huy động cán bộ y tế làm việc ở các tuyến
huyện, xã và các vùng khó khăn như vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ y tế, từng
bước hiện đại hoá kỹ thuật y tế như chẩn đoán hình ảnh, chẩn đoán hoá sinh, lý sinh,
17
miễn dịch, di truyền, sinh học phân tử, công nghệ gen… Đào tạo ngắn hạn, trung hạn
về công tác quản lý cho cán bộ y tế, đặc biệt là quản lý bệnh viện và coi đây là một
tiêu chí để xem xét bố trí cán bộ quản lý trong ngành y tế.
4.3. Phát triển khoa học, công nghệ
Chú trọng phát triển nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới nhằm
giải quyết được hầu hết các bệnh, tật đòi hỏi phải có kỹ thuật cao trong chẩn đoán và
điều trị.
Xây dựng một số cơ sở kiểm chuẩn về trang thiết bị y tế tại một số vùng trọng điểm,
đồng thời tổ chức đánh giá công nghệ y tế để xác định các can thiệp y tế có hiệu lực,
Tăng cường công tác hội nhập quốc tế theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá thông
qua việc mở rộng các hợp tác đa phương;
Hoàn thiện các dự án xây dựng các Trung tâm y tế chuyên sâu, y tế vùng, y tế tỉnh và
huyện, kêu gọi các nhà đầu tư, hảo tâm, các tổ chức quốc tế và cá nhân.
4.6. Tăng cường năng lực quản lý y tế
Từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật y tế, hệ thống quy chuẩn, tiêu
chuẩn chuyên môn và danh mục tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các
lĩnh vực chuyên ngành y tế.
Cải thiện năng lực và chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch y tế các tuyến. Xây
dựng và triển khai thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân
dân.
Thiết lập hệ thống chi tiêu và thường xuyên theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả
hoạt động lập và thực hiện kế hoạch.
Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước và pháp luật cho cán bộ trong
ngành y tế, thực hiện tốt quy chế dân chủ tại tất cả các cơ sở y tế.
Xây dựng và kiện toàn hệ thống Thanh tra y tế, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng,
đủ năng lực để thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định.
4.7. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ
Phát triển các mô hình truyền thông hiệu quả tại cộng đồng; mở rộng và đa dạng hóa
các hoạt động truyền thông.
Tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cho nhân dân về lối sống, hành vi ảnh
hưởng đến sức khỏe.
Xây dựng chương trình truyền thông có hiệu quả và phù hợp với nhóm đối tượng theo
vùng miền, địa phương, đáp ứng các yếu tố về văn hóa, giới, lứa tuổi và dân tộc.
19
TÀI LIU THAM KHẢO
Bộ Y tế, 2013. Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012, nhiệm vụ và các giải pháp
thực hiện trong năm 2013.
Bộ Y tế, 2012. Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2012, nâng cao chất lượng