Tiểu luận: Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia - Pdf 13



Tiểu luận

Nét tương đồng và khác biệt giữa
Nho gia và Đạo gia

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 1

Mục lục LỜI MỞ ĐẦU 2
I. Giới thiệu chung về Nho gia và Đạo gia 3

ở Việt Nam và tác động vào đời sống xã hội theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực.
Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu triết học Nho giáo và Đạo giáo là điều cần
thiết để từ đó vận dụng những tinh hoa, những giá trị cốt lỗi nhất vào đời sống
hiện tại đồng thời nhận ra những điểm hạn chế trong từng tư tưởng để rút kinh
nghiệm và cải thiện nó sao cho phù hợp với thời đại.
Mặc dù qua quá trình giảng dạy tận tình của thầy Bùi Văn Mưa, thầy
Hoàng Trung, nhưng đề tài này vẫn còn rất nhiều hạn chế và không tránh khỏi
sai sót. Đề tài tiểu luận này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về Sự tương đồng,
khác biệt giữa Nho gia và đạo gia, từ đó phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của
hai tư tưởng triết học này đến nền dân tộc Việt Nam
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 3

I. GIớI THIệU CHUNG Về NHO GIA VÀ ĐạO GIA
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, hệ thống các quan
điểm chung nhất của con người về thế giới và sự nhận thức thế giới ấy. (Theo:

Cho đến hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Triết học ra
đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian, đó là vào
khoảng thế kỷ VIII – VI trước Công nguyên, tại các trung tâm văn minh lớn của
nhân loại thời cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp…
Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất
của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
Lịch sử Triết học đã phải trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, có
lúc phát triển đến đỉnh cao như giai đoạn Triết học của Arixtốt, Đemôcrit và
Platon nhưng cũng có lúc nó bị biến thành một môn của thần học theo chủ nghĩa
kinh viện trong một xã hội tôn giáo bao trùm mọi lĩnh vực vào thế kỷ thứ X –
XV. Đến những năm 40 của thế kỷ XIX – Triết học Mác ra đời dựa trên những
điều kiện lịch sử về kinh tế xã hội, những tiền đề khoa học tự nhiên và sự kế thừa
những thành tựu trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.

Có thể nói, Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo
đức, triết lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã
hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật
Bản, Triều Tiên (Bắc Hàn),Hàn Quốc (Nam Hàn) và Việt Nam. Những người
thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho
sĩ hay nho sinh. Hiện tại có khoảng 150 triệu người theo Nho giáo tại châu Á.
Một trường phái Triết học lớn nữa của Trung Hoa là Đạo giáo. Đạo giáo
tức là giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Hoa, là tôn giáo
đặc hữu chính thống của nước này. Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo
giáo có thể xuất hiện ở thế kỉ thứ 4 trước công nguyên, khi tác phẩm Đạo đức
kinh của Lão Tử xuất hiện. Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như:
chính trị, kinh tế, văn chương, nghệ thuật, dưỡng sinh, y học, hóa học, vật lý, địa
lý, lịch sử,…
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 5

Hai trường phái Triết Học này đã có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan của
Triết học sau này, không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu
ảnh hưởng của nền Triết học Trung Hoa, trong đó có Việt Nam.

Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 6

II. Sự TƢƠNG ĐồNG GIữA NHO GIA VÀ ĐạO GIA
2.1 Về lịch sử hình thành và phát triển
 Nho gia và Đạo gia là hai trường phái triết học lớn của Trung Hoa, được
hình thành và phát triển trong thời Xuân Thu, Chiến quốc. Đây là thời đại tư
tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập, nhiều học giả đưa ra học thuyết
của mình nhằm góp phần biến đổi xã hội, khắc phục tình trạng loạn lạc bấy
lâu nay.

và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa.
Thứ ba, nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản
đối sự "thái quá" hay"bất cập".
Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy là nhận thức trực giác,
coi trọng tác dụng của cái "Tâm", coi đó là gốc rễ của nhận thức
 Quan niệm về đạo và đức:
 Nho gia: Khổng tử coi đạo đức là nền tảng của xã hội, là công cụ để
giữ gìn trật tự xã hội và hoàn thiện nhân cách cá nhân cho con người.
Xuất phát từ khai thác lý luận âm dương – ngũ hành, Đổng Trọng Thư
là người đã đưa ra thuyết “trời sinh vạn vật” và “thiên nhân cảm ứng”
để hoàn chỉnh thêm Nho gia trong việc giải thích vạn vật, con người và
xã hội
 Đạo gia: Lão tử cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, Đức nuôi nấng, bảo tồn
vạn vật. Vạn vật nhờ Đạo mà được sinh ra, nhờ Đức mà thể hiện và khi
mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo. Đạo sinh ra một (khí thống
nhất), một sinh ra Hai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba (trời, đất,
người), Ba sinh ra vạn vật.
 Quan niệm về âm dương:
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 8

Cả hai trường phái đều đề cập đến khởi nguyên vũ trụ bắt nguồn từ Âm
Dương. Âm và Dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm
có Dương và trong Dương có Âm.
 Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể,
không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật
trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và
dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương
và trong Dương có Âm.
 Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng

(sách Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ,
huynh đệ, bằng hữu". Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Đường
đi lối lại của Nho gia đúng đắn phải theo để xây dựng quan hệ lành
mạnh, tốt đẹp là đạo; noi theo đạo một cách nghiêm chỉnh, đúng đắn
trong cuộc sống thì có được đức trong sáng quý báu ở trong tâm
 Đạo Gia: Đạo là bản nguyên của vũ trụ, sáng tạo ra vạn vật, là phép
tắc của vạn vật, quy luật biến hóa tự thân của vạn vật. Đạo là quy luật
biến hóa tự thân của vạn vật, quy luật ấy gọi là Đức.
 Quan điểm về con ngƣời:
Cả hai đều tập trung chủ yếu vào xã hội và con người, xây dựng, đào tạo
con người, hướng tới sự thống nhất, hài hòa giữa con người và xã hội. Coi
con người là chủ thể của đối tượng nghiên cứu, hướng vào nội tâm - luôn cố
gắng tìm tòi về bản thân con người và mối quan hệ giữa con người và xã hội
xung quanh và ít quan tâm đến khoa học tự nhiên. Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận, là nguyên nhân sâu xa của sự
kém phát triển kinh tế, khoa học so với văn minh Phương Tây (hướng ngoại).
Chằng hạn như Khổng Tử (Nho gia) đề cao vai trò, sức mạnh của dân.
Ông coi dân là gốc nước, gốc có vững thì nước mới yên bình. Vì dân là gốc
nước cho nên nước phải lấy dân làm gốc.
Và Đạo gia cho rằng Con người là sản phẩm cao quý nhất của tự nhiên,
sinh ra từ đạo tự nhiên, cho nên đã sinh ra rồi thì phải bảo tồn sự sống của
mình.
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 10

 Đều theo chủ nghĩa duy tâm:
Nho Gia: Mạnh Tử hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho Gia trên
phương diện thế giới quan và nhận thức luận. Tư tưởng triết học của Tuân tử
thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ.
Đạo Gia: Đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể.

cho mọi sự biến đổi của vạn vật”.
 Quan điểm trong phƣơng châm xử thế
Con người sống và hành động dựa trên các nguyên tắc cơ bản, hợp với
lòng người theo một quan niệm nhân sinh vững chắc. Cả 2 trường phái đều
hướng con người đến cái thiện, khuyên con người sống tốt để có gia đình hạnh
phúc và góp phần cho 1 xã hội ổn định
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 12

III. NÉT KHÁC BIệT ĐặC THÙ CủA HAI DÒNG TƢ TƢởNG NHO GIA
VÀ ĐạO GIA
3.1 Vũ trụ và nhân sinh
Quan niệm về đạo: Nho gia tin vào thiên mệnh và cho rằng thiên mệnh
chi phối vận mệnh của con người. Đạo gia tin vào đạo, cho rằng vạn vật xuất
phát từ đạo và đạo là quy luật chi phối vạn vật.
Sở dĩ hai tư trường phái này khác nhau là do: Đạo theo quan điểm của
Lão Tử là một phạm trù khái quát, nó không chỉ một sự vật, hiện tượng cụ thể
hữu hình mà là tất cả mọi vật từ đó sinh ra, là cái tồn tại vĩnh viễn, bất biến. Vạn
vật dù muôn hình, muôn vẻ cũng chỉ là sự biểu hiện khác nhau của một cái duy
nhất đó là đạo, và đạo không tồn tại ở đâu ngoài các sự vật hữu hình, hữu danh,
đa dạng và phong phú vô cùng tận. Vì thế, đạo vừa là duy nhất, vừa thiên hình,
vạn trạng; vừa biến hóa, vừa bất biến. Căn cứ vào quan điểm ấy, Lão Tử đả kích
quan điểm trời sang tạo ra thế giới và cho rằng, trời không phải là căn cứ của
đạo, trái lại đạo có trước thần linh. (Đạo Đức kinh, chương 30).
3.2 Thế giới quan
Nho gia chủ chương nhập thế (hữu vi), đề cao đạo đức. Đạo gia chủ
chương xuất thế (vô vi), tư tưởng giải trừ.
Hai từ hữu vi và vô vi, về nghĩa đen của từ, chỉ hai trạng thái trái ngược
nhau “có làm” và “không làm”. Hai khái niệm này trong phạm trù tư tưởng triết
học thì chưa hẳn là hoàn toàn trái nghĩa nhau, bởi khái niệm “vô vi” của Đạo gia

rằng đức Khổng Tử là một triết gia về thực nghiệm, thuộc chủ nghĩa nhân văn.
Và còn nói “chủ nghĩa hiện thực trong lý tưởng nhân sinh của Trung Quốc và đặc
tính chú trọng về hiện thế bắt nguồn từ học thuyết Khổng Tử
3.3.5 Quan điểm chính trị - xã hội
Về đường lối trị nước an dân, quan điểm của Nho gia hoàn toàn đối lập
với quan điểm của Đạo gia.
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 14

Trong khi Nho gia vốn mang bản chất của một công cụ tổ chức xã hội, nó
thực sự trở thành vũ khí của kẻ thống trị, thì Đạo gia, trên cơ sở thuyết vô vi, lại
mang sẵn trong mình tư tưởng phản kháng giai cấp thống trị.
Về quan điểm nhà nước lý tưởng: Nho gia chủ trương xây dựng nước lớn,
kinh tế vững mạnh. Đạo gia chủ trương xây dựng nước nhỏ, hòa bình.
Khổng Tử mong muốn xây dựng một xã hội đẳng cấp, có tôn ti trật tự, có
trên dưới rõ ràng; các đẳng cấp có trách nhiệm tương trợ, giúp đơc lẫn nhau. Xã
hội lấy gia đình làm cơ sở, trọng hiếu đễ, kính già, yêu trẻ - một xã hội có lễ; xã
hội phải no đủ, lấy nông nghiệp làm nền tảng, coi trọng giáo hoá và công bằng xã
hội; phản đối chiến tranh bạo lực và hình phạt, dung đức trị, nhân trị, thực hiện
chế độ thượng hiền.
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 15

IV. NHữNG ảNH HƢởNG CủA HọC THUYếT NHO GIA VÀ ĐạO GIA
ĐếN XÃ HộI VIệT NAM
4.1 Ảnh hƣởng của Nho gia
4.1.1 Ảnh hƣởng về mặt tích cực
Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo
vệ chủ quyền dân tộc. Công lao của Nho gia là góp phần đạo tạo tầng lớp nho sĩ
Việt Nam trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi,

Ý nghĩa phƣơng pháp luận của Nho gia
Những tư tưởng triết học của Nho gia đã để lại cho đời những tư
tưởng triết học về luân lý, đạo đức và chính trị – xã hội rất sâu sắc và vô
cùng quý giá. Ví dụ điển hình về những tư tưởng về chữ Nhân và việc
giáo dục đạo đức, nhân cách sống …của con người có ý nghĩa rất lớn
trong việc giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ hiện nay. Hay cụ thể hơn là
những quan điểm về gia đình, và các mối quan hệ trong gia đình có ý
nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc. Và thực tế,
đó cũng là những lý tưởng sống, là khát vọng của chúng ta hiện nay.
Trong thị trường kinh tế hiện nay, con người cũng xây dựng những
chuẩn đạo đức kinh doanh cũng dựa vào những tư tưởng của đạo Nho.
Việc đặt chữ “Tín” lên đầu hay “tư tưởng kinh doanh có đạo đức” có ý
nghĩa rất lớn.
Về mối quan hệ trong gia đình, đạo lý giữa cha mẹ và con cái trong
gia đình thì những tư tưởng của Nho gia sống mãi và có giá trị trong mọi
thời đại. Nho gia dạy ta biết hiều thuận với cha, mẹ, kính trên, nhường
dưới. Cha mẹ biết thương yêu, dạy bảo con nên người có đạo đức, có
nhân, lý, trí, dũng… thành người có ích cho xã hội.
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 17

Trong mối quan hệ thầy trò, mối quan hệ giữa người với người
trong xã hội, chữ “lễ”, chữ “nghĩa” vẫn luôn được đề cập trong việc giáo
huấn con người.
Ý nghĩa phƣơng pháp luận của Đạo gia
Tư tưởng của Đạo gia giúp con người tránh lối tư duy gán ghép,
máy móc, siêu hình, áp đặt chủ quan đối với mọi sự vật hiện tượng tự
nhiên… Mà phải nhận thức cái khách quan, cái bản tính tự nhiên thuần
phác, vốn có của nó. Đồng thời, Đạo gia đã cung cấp nhân sinh quan và
nghệ thuật sống mang tính nhân văn sâu sắc, có tác dụng an ủi con người

Chính trị Quốc gia, HN
5. Đồng Văn Quân, Lịch sử triết học, Đại Học Sư phạm Thái Nguyên, 1010
6. Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học. Nxb Chính trị quốc gia, 1998.
7. Bùi Thanh Quất - Vũ Tình, Lịch sử triết học, Nxb Giáo dục, 2000.
8. Lịch sử triết học phương Đông (5 tập). Tác giả Nguyễn Đăng Thục,
9. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
Tài liệu từ Internet
1. o
2.
3. />gory&layout=blog&id=44&Itemid=162
4.
5.
6. />1n343tq83a3q3m3237nvn
Nét tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Nguyễn Ngọc Lan Oanh Trang 19

7.
8. />hoa/2216-tran-phu-hue-quang-so-sanh-khac-biet-hai-dong-tu-tuong-nam-
bac-trung-quoc.html
9. />o_o_Viet_Nam.html


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status