Thị trường vận tải khách hàng của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
oo0oo KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:
THỊ TRƢỜNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CỦA
VIETNAM AIRLINES TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ Họ và tên sinh viên : Vũ Thị Thu Hƣơng
Lớp : Anh 10 – K44C – KT&KDQT
Khóa : 44
Giáo viên hƣớng dẫn: GV. Hoàng Thị Đoan Trang Hà Nội, tháng 05/2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1

3.2. Nhóm các nhân tố chủ quan 22
3.2.1. Nguồn lực của doanh nghiệp: 22
3.2.2. Những hoạt động kinh doanh và xúc tiến hợp tác kinh tế quốc
tế 28
4. Hoạt động vận tải hành khách bằng đƣờng HK của Việt Nam trong thời kỳ
hội nhập kinh tế quốc tế: 30
4.1. Thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: 30
4.2. Sự hội nhập của ngành vận tải hàng không Việt Nam: 32
Chƣơng II: Thực trạng thị trƣờng vận tải hành khách của Vietnam Airlines
trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 35
I. Tổng quan về hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines
(VNA) 35
1. Quá trình hình thành và phát triển: 35
2. Cơ cấu bộ máy tổ chức: 38
3. Cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực: 42
3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật: 42
3.2. Nguồn nhân lực: 45
II. Những kết quả đạt đƣợc về thị trƣờng vận tải hành khách của VNA trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: 46
1. Tình hình kinh doanh nói chung của hãng hàng không quốc gia Việt
Nam: 46
2. Thị trƣờng vận tải hành khách quốc tế: 61
2.1. Dung lượng thị trường: 61
2.2. Tầm quan trọng và đặc điểm của thị trường vận tải hành khách
quốc tế của VNA: 63
2.2.1. Tầm quan trọng: 63
2.2.2. Đặc điểm: 64
2.3. Các thị trường quốc tế tiềm năng: 68
3. Thị trƣờng vận tải hành khách nội địa: 69


2.1. Chiến lược sản phẩm: 97 2.2. Chiến lược giá cả: 98
2.3. Chiến lược phân phối: 99
2.4. Chiến lược xúc tiến, hỗ trợ thương mại: 99
3. Giải pháp tiết kiệm, tăng thu: 98
4. Giải pháp tăng cường quan hệ hợp tác: 99
5. Giải pháp liên minh liên kết: 100
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tên bảng
Trang
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của VNA
39
Bảng 1: Đội máy bay của hãng Vietnam Airlines tính tới thời điểm
01/03/2009
45
Bảng 2: Doanh thu và tổng sản lượng vận chuyển hành khách quốc tế và
nội địa của VNA giai đoạn 2004 – 2008 (dự kiến năm 2009)
48
Bảng 3: Dung lượng và thị phần thị trường vận tải hành khách quốc tế của
hàng không Việt Nam giai đoạn 1995 – 2005
64
Bảng 4: Lượng khách quốc tế vận chuyển và thị phần của VNA giai đoạn
từ 2006 – 2008
64
Bảng 5: Dung lượng và thị phần thị trường vận tải hành khách nội địa của
hàng không Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008
73
Đối tượng Thị trường vận tải hành khách không phải là một đối tượng nghiên
cứu hoàn toàn mới. Đã có một số công trình nghiên cứu được thực hiện, với nội
dung đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động vận tải hành khách nội địa, giải pháp
nâng cao năng lực vận tải của hãng hàng không quốc gia Việt Nam, hay nghiên cứu
tập trung vào biện pháp phát triển hoạt động vận tải hành khách nội địa của

2

Vietnam Airlines, và có thể còn nhiều công trình nghiên cứu khác mà người viết
chưa có điều kiện tiếp cận. Bài khóa luận này được thực hiện dựa trên những thông
tin, nguồn tài liệu được cập nhật gần đây nhất, cùng với những đánh giá, những
công trình nghiên cứu làm tài liệu tham khảo, từ đó đưa ra một vài nhận định của
người viết về đối tượng nghiên cứu. Hy vọng những con số và thông tin mới trong
khóa luận có thể được bổ sung thêm vào nguồn dữ liệu khi người đọc tìm kiếm về
thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines.
3. Đối tƣợng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thị trường vận tải hành khách của hãng
hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế, qua đó làm rõ những biến động, thay đổi của thị trường này nhằm thích ứng
với hoàn cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam; phân tích những điểm mạnh, điểm
yếu, cũng như những cơ hội và thách thức mà thị trường gặp phải.
4. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận này được thực hiện với mục đích cung cấp thêm thông tin, đưa ra
nhận định về thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trước và sau khi
Việt Nam gia nhập WTO, từ đó có những đánh giá khái quát nhất, kết luận đúng
đắn nhất về thị trường, và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển
thị trường.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chú trọng vào đối tượng là thị trường vận
tải hành khách của Vietnam Airlines với các số liệu, các thống kê, bảng biểu, dẫn
chiếu, minh họa từ năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa

khắc phục những khó khăn của hãng.
Người viết xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, những người đã cung cấp những kiến thức quí báu
về lĩnh vực vận tải và giao nhận trong ngoại thương; lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo
Hoàng Thị Đoan Trang, người đã tận tình dẫn dắt, chỉ bảo người viết trong suốt thời
gian thực hiện khóa luận này. Người viết kính mong nhận được sự quan tâm, sửa
chữa và góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc.

Hà Nội, tháng 05 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Vũ Thị Thu Hương

4

CHƢƠNG I: Lý luận chung về thị trƣờng vận tải hành khách
bằng đƣờng hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
I. Cơ sở lý luận về thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế:
Cùng với sự phát triển của cuộc sống, con người đã sáng tạo những cách thức
lao động mới, những phương tiện mới nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển
của mình. Vận tải nói chung ra đời phục vụ cho nhu cầu đi lại và giao lưu kinh tế,
văn hóa, xã hội giữa con người với nhau từ khắp các vùng đất khác nhau trên thế
giới. Trong đó, vận tải hàng không là ngành vận tải tiên tiến nhất gần gũi với cuộc
sống thực tế, thể hiện sự phát triển vượt bậc của con người về trình độ khoa học,
công nghệ và khả năng ứng dụng để đạt được mục đích của mình.
1. Các khái niệm có liên quan:
1.1. Vận tải hàng không và vận tải hành khách bằng đường hàng không:
Theo nghĩa hẹp, vận tải HK được hiểu là sự di chuyển bằng máy bay trên
không trung, nhằm chuyên chở một hay nhiều đối tượng nào đó từ một địa điểm này
đến một địa điểm khác. Các đối tượng đó có thể là hành khách, hàng hóa, hành lý

kỹ thuật, nên hình dạng, kích thước của đối tượng chuyên chở không bị thay đổi;
quá trình sản xuất của ngành vận tải HK không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ
làm thay đổi vị trí của đối tượng chuyên chở (hàng hóa, bưu kiện) trong không gian,
qua đó làm tăng giá trị của chúng. Như vậy, ngành vận tải HK là một ngành thuộc
loại hình dịch vụ tổng hợp, và sản phẩm trong kinh doanh vận tải HK được xác định
thuộc loại hình dịch vụ.
1.2. Thị trường vận tải hành khách bằng đường hàng không:
Thuật ngữ thị trường được các nhà chuyên môn định nghĩa dựa trên nhiều khía
cạnh, tuy nhiên, nói một cách đơn giản, ở đâu hoặc khi nào có sự gặp gỡ trực tiếp
hoặc gián tiếp giữa một số lượng lớn người mua và người bán, nhằm tiến hành
những hoạt động có mục đích của mình, thì ở đó hoặc khi đó thị trường được hình
thành.
Thị trường vận tải hành khách bằng đường HK thuộc loại hình thị trường dịch
vụ. Đó là nơi gặp gỡ giữa hai đối tượng, một bên là hãng cung cấp sản phẩm dịch
vụ HK và một bên là những người có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ HK đó. Sự
gặp gỡ này bao gồm cả hình thức trực tiếp tại một địa điểm nhất định, như sân bay,

6

nhà ga, kho hàng… giữa các bên có nhu cầu, hoặc hình thức gián tiếp như đặt vé,
đăng ký qua hệ thống máy tính kết nối Internet. Đánh giá sự sôi động và phát triển
của thị trường vận tải hành khách bằng đường HK dựa trên một số tiêu chí như
dung lượng khách hàng, đặc điểm của thị trường, mạng đường bay, đội máy bay của
hãng và một yếu tố không thể thiếu là sự cạnh tranh giữa các hãng HK với nhau
nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Đánh giá hiệu quả hoạt động của một hãng kinh
doanh và khai thác vận tải HK dựa theo một số tiêu chí như: hệ số sử dụng ghế, lợi
nhuận, tỷ suất hao phí vốn, thời gian hoàn vốn, doanh thu bình quân trên 01 hành
khách vận chuyển hay 01 kg hàng hóa…[3; 29-35]. Đối tượng của thị trường này là
hành khách có nhu cầu đi lại và vận chuyển hành lý của mình bằng máy bay. Đối
tượng tham gia vào thị trường bao gồm những bên có nhu cầu cung ứng dịch vụ HK

và trở thành một ngành không thể thiếu với bất cứ quốc gia nào muốn tiến bước trên
con đường phát triển kinh tế. Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành vận tải,
vận tải HK có những ưu điểm nổi bật như sau:
- Tuyến đường trong vận tải HK là không trung và hầu như là đường thẳng,
không tốn kém trong việc đầu tư xây dựng đường xá như vận tải đường bộ, đường
sắt; ít phụ thuộc và vị trí địa lý, địa hình; nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
như khí hậu, thời tiết của từng vùng.
- Tốc độ vận chuyển của vận tải HK cao hơn hẳn các phương tiện khác: gấp
27 lần so với đường biển, 10 lần so với đường sông và 8,3 lần so với đường sắt.
Nhờ có công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, khoảng thời gian di chuyển bằng máy bay
đã được rút ngắn đi rất nhiều so với các loại hình phương tiện khác nếu xét trên
cùng một quãng đường dài. Hơn nữa, việc bay theo những mạng đường bay trên
không trung đã giúp cho vận chuyển bằng đường HK giảm bớt được các thủ tục quá
cảnh khi qua biên giới giữa nhiều nước, thay vì phải làm nhiều lần thủ tục nếu đi
bằng đường bộ hay đường sắt.
- Độ an toàn của vận tải HK được đánh giá là cao nhất trong các loại hình vận
chuyển, bởi yếu tố an toàn luôn được đề cao hàng đầu và là kim chỉ nam thúc đẩy
khoa học kỹ thuật và công nghệ của ngành phát triển không ngừng. Từ đội ngũ phi
công, tiếp viên cho đến việc đảm bảo, giám sát về máy móc, nhiên liệu luôn phải
tuân thủ nghiêm ngặt nhất theo qui định về an toàn bay [1;151-153].
- Là ngành vận tải hiện đại, có khả năng kết nối nhiều vùng trong một quốc gia
và nhiều quốc gia trên thế giới với nhau mà các ngành vận tải khác khó thực hiện

8

được. Nếu việc di chuyển bằng đường bộ, đường sắt hay đường thủy bị hạn chế bởi
điều kiện địa lý tự nhiên, thời gian và khả năng phát triển giao thông của từng vùng
trong một đất nước, hay của mỗi một quốc gia trên thế giới, thì vận chuyển bằng
máy bay sẽ khắc phục được những hạn chế về không gian, thời gian đó.
Ưu điểm là vậy, song vận tải HK không phải không có những nhược điểm:

đường HK đến gần hơn với doanh nghiệp và cuộc sống của người dân.
Mặc dù một số hạn chế trên có ảnh hưởng ít nhiều tới ngành vận tải HK nói
chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng, song nhìn chung, đây vẫn là
loại hình vận tải được lựa chọn ngày càng nhiều trên thế giới bởi những ưu điểm nổi
bật so với các loại hình vận tải khác.
2.2. Vai trò:
2.2.1. Vận tải hàng không trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước:
Kinh tế của một đất nước không thể phát triển nếu không có sự giao lưu và
hợp tác với các quốc gia trên thế giới. Điều đó đặt ra cho các ngành được coi là
“cầu nối” với thế giới một sứ mệnh tối quan trọng, đó là phải tạo mọi điều kiện để
đưa quốc gia mình tiếp cận với thế giới và để thế giới biết đến dân tộc mình. Một
trong những ngành giữ vị trí huyết mạch trong quá trình phát triển kinh tế và quan
hệ hợp tác kinh tế quốc tế là ngành giao thông vận tải nói chung và ngành vận tải
HK nói riêng. Vận tải hành khách bằng đường HK là một phần không thể không
tham gia trong quá trình đó, bởi sự vận chuyển hành khách không chỉ đơn thuần là
đưa du khách quốc tế đến với đất nước Việt Nam mà còn là sự giới thiệu, tạo điều
kiện đi lại cho các doanh nhân, các đối tác làm ăn đến tìm kiếm và khai thác cơ hội
hợp tác kinh tế với doanh nghiệp quốc gia mình.
Vận tải HK được xem là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền kinh
tế của một quốc gia và của toàn cầu, bởi bản thân ngành đã có những ưu thế nhất
định. Thứ nhất, vận tải HK có khả năng kết nối nhiều vùng trong một quốc gia và
nhiều quốc gia, những khu vực trên thế giới. Phạm vi quan hệ kinh tế không chỉ
dừng lại ở quan hệ giữa các trung tâm kinh tế nội tại một đất nước, mà còn được mở
rộng ra các cường quốc kinh tế lớn trên toàn cầu. Hơn nữa, trong khi vận tải HK
thực hiện vai trò trung gian liên kết với thế giới, thì cơ hội hợp tác không chỉ dành
riêng cho bản thân nền kinh tế, mà đồng thời đó cũng là cơ hội hợp tác của chính
hãng HK ấy với các hãng HK khác. Một khi các hãng HK này thực hiện mở rộng
mạng đường bay, tăng số chuyến bay thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc quan hệ

10

sách Nhà nước và là nguồn thu ngoại tệ lớn của quốc gia.

11

Như vậy, vận tải HK giữ vai trò là chất xúc tác đặc biệt, thúc đẩy nền kinh tế
quốc gia phát triển và tăng cường các mối quan hệ kinh tế quốc tế, đưa đất nước hòa
chung vào dòng chảy kinh tế thế giới.
2.2.2. Vận tải hàng không với hoạt động chính trị, ngoại giao và quốc phòng của đất nước:
Mỗi một quốc gia đều có những chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế của
riêng mình. Tuy nhiên, nhìn vào xu hướng chung hiện nay, hầu hết các quốc gia đều
tiến tới hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Muốn làm được điều đó,
nhất thiết phải có những buổi gặp gỡ, tiếp xúc và thăm viếng của các phái đoàn
ngoại giao giữa các nước với nhau. Trước nhu cầu này, vận tải HK là một nhân tố
chắc chắn không thể thiếu đối với từng quốc gia.
Sự tối cần thiết của vận tải HK trong hoạt động ngoại giao thể hiện ở chỗ, đây
là hình thức vận tải duy nhất phục vụ việc đưa đón phái đoàn các nước giao lưu gặp
gỡ lẫn nhau. Việc di chuyển qua nhiều quốc gia, nhiều biên giới không thể thực
hiện bằng hình thức vận tải đường sông, đường biển, đường sắt hay chỉ đường bộ
đơn thuần. Phương tiện vận tải được sử dụng dành cho các nguyên thủ quốc gia và
phái đoàn ngoại giao của một đất nước là máy bay và ô tô chuyên dụng của mỗi
nước. Thậm chí, như trong Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
(APEC) lần thứ 14 được tổ chức tại Việt Nam năm 2006, một số quốc gia như Hoa
Kỳ, Trung Quốc, Liên bang Nga không chỉ sử dụng chuyên cơ riêng của mình, mà
còn vận chuyển cả ô tô chuyên dụng cho nguyên thủ nước họ bằng máy bay.
Một ý nghĩa quan trọng không kém nữa là chính trị. Sự tham gia góp mặt
trong hoạt động ngoại giao của ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách
bằng đường HK nói riêng không chỉ dừng lại ở chức năng đưa đón các quan chức
đơn thuần, mà đồng thời hàm chứa ý nghĩa chính trị - khẳng định vị thế và tiềm lực
kinh tế của quốc gia đó. Một đất nước được coi là vững mạnh, bên cạnh những chỉ
số kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp…, còn có

danh lam thắng cảnh của các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới ngày càng
tăng trong xã hội hiện đại. Không chỉ là những kiến thức mới về một vùng đất mới,
về một nền văn hóa mới, mà đó còn là cơ hội học hỏi và tiếp cận những tinh hoa,
những nét đẹp nơi đó. Hiểu biết không bao giờ có giới hạn, và càng biết nhiều bao
nhiêu, chúng ta càng có thể phát triển đất nước mình bấy nhiêu. Trong vai trò ấy,
vận tải HK trở thành một cầu nối hữu hiệu, tiếp cận những vùng đất xa xôi, bị cách
trở về mặt tự nhiên một cách thuận tiện và hiệu quả hơn.

13

Như vậy, ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK
nói riêng, nếu chỉ bó hẹp ở thị trường trong nước sẽ là một sự lãng phí vô cùng lớn.
Vươn ra thế giới bằng “đôi cánh” của khoa học kỹ thuật sẽ giúp ngành phát huy tốt
hơn năng lực vốn có của mình, và qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất
nước.
3. Những nhân tố ảnh hƣởng tới thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng HK:
Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào, một hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận
nào cũng đều xuất phát từ nhu cầu và khả năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ của lĩnh
vực đó, hoạt động đó. Kinh doanh và khai thác vận tải HK nói chung và vận tải
hành khách bằng đường HK nói riêng cũng như vậy. Cung - cầu vận tải HK được
hình thành từ sự tác động phức hợp của rất nhiều yếu tố, và tất cả đều ảnh hưởng tới
thị trường này theo nhiều khía cạnh khác nhau. Nhìn chung các yếu tố đó thuộc hai
nhóm: nhóm các nhân tố khách quan và nhóm các nhân tố chủ quan.
3.1. Nhóm các nhân tố khách quan:
3.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị:
Thế giới những năm 90 của thế kỷ XX đã chứng kiến mức tăng trưởng vừa
phải của các cường quốc kinh tế, trong khi khu vực châu Á liên tục đạt mức tăng
trưởng bình quân hàng năm cao, đặc biệt là Trung Quốc với mức tăng trưởng bình
quân 13%/năm trong suốt 8 năm liền từ 2000-2007. Trải qua giai đoạn khủng hoảng
kinh tế năm 1997, nhiều quốc gia đã dần khôi phục nền kinh tế của mình. Từ đó đến

cứ doanh nghiệp hay nhà đầu tư nào. Bởi lẽ, pháp luật Nhà nước điều chỉnh hoạt
động và phạm vi kinh doanh của những đối tượng này. Ngành vận tải HK cũng chịu
ảnh hưởng không nhỏ từ môi trường pháp lý đó. Khi một đất nước gia nhập các tổ
chức kinh tế của khu vực và thế giới, thì hệ thống pháp luật của nước đó cần được
điều chỉnh sao cho phù hợp với nguyên tắc chung của tổ chức. Do đó, việc sản xuất,
kinh doanh hay đầu tư trong các ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành mang tính
quốc tế cao như ngành vận tải HK, chắc chắn sẽ ít nhiều chịu tác động từ sự điều
chỉnh ấy. Một hệ thống pháp luật minh bạch, hoàn thiện sẽ là một điều kiện rất tốt
cho ngành vận tải HK phát triển theo đúng hướng và theo xu thế toàn cầu, đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) cuối năm 2006, toàn bộ hệ thống pháp luật của chúng
ta đang trong quá trình sửa đổi và điều chỉnh cho phù hợp với nguyên tắc chung của

15

thế giới, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngành vận tải HK phát triển và hợp tác
ngày càng sâu rộng với ngành vận tải HK thế giới.
Bên cạnh những điều khoản mang tính bắt buộc và cưỡng chế về mặt pháp lý,
còn có một yếu tố mang tính định hướng và chỉ dẫn của Chính phủ đối với hoạt
động của các đối tượng tham gia vào nền kinh tế, đó là các chính sách cụ thể của
Nhà nước. Những định hướng phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từng
bước được đưa ra, nhằm điều chỉnh một cách hợp lý con đường phát triển đất nước
trước những thay đổi mới, tình hình mới. Những chính sách kinh tế cụ thể áp dụng
cho ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dầu khí, vận tải, nông nghiệp, xuất nhập
cảnh… đều có tác động nhiều chiều đến nền kinh tế nói chung và từng đối tượng
tham gia nền kinh tế nói riêng. Nhà nước có thể hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua
các chính sách như cắt giảm thuế hoặc áp dụng mức thuế ưu đãi dành cho doanh
nghiệp, hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp trong việc đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật, phục vụ sản xuất kinh doanh… Với ngành vận tải HK, các chính sách phát
triển ngành trong tương lai, hay những thay đổi hiện tại mà Chính phủ yêu cầu

vận tải HK cũng có điều kiện để phát huy vai trò thiết yếu trong nền kinh tế. Tuy
nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, đây là những nhân tố mà mỗi ngành, mỗi doanh
nghiệp không thể thay đổi chúng, mà chỉ có thể tự thay đổi mình cho phù hợp, thích
ứng với chúng, để việc hoạt động kinh doanh của mình không bị ảnh hưởng nhiều
do những điều kiện bất lợi.
Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương nhìn ra
biển Đông, có diện tích 331.212 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn
4.200 km² biển nội thủy và một vùng biển với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn
nhỏ, gần và xa bờ [34], trong đó có vùng thềm lục địa rộng lớn và những quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa cùng nhiều đảo khác ở Vịnh Bắc Bộ, ven Trung Bộ và Vịnh
Thái Lan, có đường biên giới đất liền dài 3.730km (phía Bắc giáp Trung Quốc, phía
Tây giáp Lào và Campuchia) và bờ biển dài 3.444km [34]. Những điều kiện tự
nhiên này là một yếu tố rất thuận lợi cho việc thúc đẩy một ngành du lịch phát triển
ở một đất nước hứa hẹn thu hút nhiều du khách đến tham quan và tìm hiểu môi
trường kinh doanh.
Về mặt địa lý, Việt Nam kéo dài theo trục Bắc-Nam, với hai trung tâm là Hà
Nội và tp. HCM. Giữa hai điểm này có các điểm Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn,
Nha Trang là các đầu mối theo hướng Đông Tây của Việt Nam và đường ra biển

17

của Lào và Đông Bắc Thái Lan. Thêm vào đó, vị trí của nước ta nằm ngày trung
tâm của khu vực Châu Á và là cửa ngõ thuận lợi cho việc ra/vào khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương, phù hợp để phát triển hoạt động kinh doanh vận tải HK. Địa lý
kinh tế là lợi thế phát triển vận tải HK ở Việt Nam theo nghĩa là điểm trung chuyển
hành khách, hàng hóa của các khu vực tam giác (Việt Nam-Lào-Camphuchia), tứ
giác, ngũ giác (Việt Nam-Lào-Campuchia-Myanmar-và Nam Thái Lan). Đó là vị
thế đầy hứa hẹn phát triển thị trường HK cho Việt Nam. Do đó, về mặt môi trường
địa lý, Việt Nam có tiềm năng phát triển ngành vận tải, đặc biệt là vận tải HK, trong
tương lai ngành vận tải HK có khả năng tăng trưởng nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu

hướng tới hiện nay là phát triển mô hình bán vé qua mạng, nhằm nâng cao hiệu quả
khai thác, hiệu quả hệ số sử dụng ghế/tải cung ứng, trên cơ sở quy hoạch mạng
đường bay theo mô hình “trục-nan”. Bán vé qua mạng Internet là hình thức mới và
đang nổi lên như một yếu tố được nhiều hãng HK trên thế giới quan tâm. Hành
khách có thể dễ dàng tham khảo lịch bay, giá cước, tiện nghi, thời gian bay trên
website của mỗi hãng, và họ có thể tự đặt chỗ, lực chọn số ghế ngồi, đặt đồ ăn, đồ
uống trước trực tiếp ở nhà hoặc ở văn phòng làm việc, hay bất cứ nơi nào có kết nối
Internet, thay vì phải liên hệ trực tiếp với hãng HK hay đại lý bán vé du lịch như
trước đây. Việc giảm giá vé bán qua mạng là một yếu tố rất cần thiết cho quá trình
thu lợi nhuận cho hãng, đặc biệt sự có mặt của Internet càng tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình hiện thực hóa những ý tưởng này. Tính toán của ICAO cách đây 10
năm, khi các hãng HK áp dụng hình thức bán vé qua mạng, có tới 600 triệu USD
tiết kiệm được từ khoản tiền hoa hồng phải chi cho các đại lý mà các hãng HK có
thể dành được thông qua việc sử dụng hệ thống bán vé trực tuyến trên mạng
Internet, bởi một điều rất đơn giản là chi phí hoa hồng sẽ thấp hơn khi sử dụng
mạng internet cho việc khách hàng đặt, giữ chỗ.
3.1.5. Môi trường cạnh tranh:
Môi trường cạnh tranh được xem là “dung môi” không thể thiếu đối với bất cứ
một ngành nghề nào, bất cứ một lĩnh vực nào, và đặc biệt quan trọng đối với doanh
nghiệp. Cạnh tranh trong ngành vận tải HK không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh
giữa các hãng HK với nhau, mà còn có cả sự cạnh tranh với các hình thức vận tải
khác thuộc ngành vận tải nói chung. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh quốc tế và khu vực,
vận tải HK vẫn giữ vị trí cao hơn hẳn các ngành vận tải khác. Sự cạnh tranh nội bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status