LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LỜI CẢM ƠN
Để có những kiến thức và kết quả thực tế như ngày hôm nay, trước hết em
xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh
Doanh đã tận tình giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cơ bản, đồng
thời tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập. Em xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến tập thể CBCNV của Công ty Đóng tàu Phà Rừng dặc biệt là các cô
chú trong phòng tài chính – kế toán đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo Th.s Bùi Bá Khiêm đã tạo
mọi điều kiện tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cho em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình làm khóa luận, do thời gian nghiên cứu không dài và còn
thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế nên bài viết của em không tránh khỏi những sai
sót, khiếm khuyết. Em mong các thầy cô chỉ bảo thêm giúp em hoàn thành và
đạt kết quả tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: Ngô Quang Đức 1 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
Bảng 01 : Kết cấu tài sản, nguồn vốn của Công ty 37 4
Tổng giám đốc 32
Bảng 01 : Kết cấu tài sản, nguồn vốn của Công ty 41
Sinh viên: Ngô Quang Đức 2 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VLĐ Vốn lưu động
TSLĐ Tài sản lưu động
SXKD Sản xuất kinh doanh
VCĐ Vốn cố định
TSCĐ Tài sản cố định
tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của DN.
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với
xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng
mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu
cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn.
Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của
doanh nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp
phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên
tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.
Xuất phát từ vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phải
xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối
thiểu, phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình ra sao? Các
biện pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp mình. Sau thời gian thực tập tại Công ty Đóng Tàu Phà Rừng,, em quyết
định lựa chọn đề tài: "Phân tích và hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng
vốn lưu động tại Công ty Đóng Tàu Phà Rừng " làm chuyên đề tốt nghiệp.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích tình hình quản lý và sử
dụng vốn lưu động của công ty Đóng Tàu Phà Rừng từ đó tìm ra những tồn tại
trong việc sử dụng vốn lưu động và trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp nhằm nâng cao hơn nữa tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại
Công ty.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 5 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của công
ty Đóng Tàu Phà Rừng.
Phạm vi nghiên cứu: Phân tích quản lý VLĐ và đề xuất biện pháp nâng cao
hiệu quả quản lý VLĐ tại công ty Đóng tàu Phà Rừng.
và nghiên cứu cần phải bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm cơ bản vốn là gì? vai
trò của vốn đối với doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vốn được hiểu và quan niệm là toàn
bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của doanh nghiệp.
Khái niệm này không những chỉ ra vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào
quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của
vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong
suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh. Có vốn các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm
các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai. Vậy yêu cầu
đặt ra đối với các doanh nghiệp là họ cần phải có sự quản lý và sử dụng có hiệu
quả vốn có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho các doanh
nghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh.
Các đặc trưng cơ bản của vốn:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn phải
được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp.
- Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh.
- Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả
năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh
vực kinh doanh.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 8 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Vốn có giá trị về mặt thờigian. Điều này có thể có vai trò quan trọng khi
bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra
để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận.
- Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ
hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường
đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản.
Vốn huy động của doanh nghiệp:
Ngoài các hình thức vốn do nhà nước cấp thì doanh nghiệp còn một loại
vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó là
vốn huy động. Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một
nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất mà
doanh nghiệp không đủ số vốn còn lại trong doanh nghiệp thì đòi hỏi doanh
nghiệp phải có sự liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các
nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình thức khác.
* Vốn vay: Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các
cá nhân hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn.
Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là rất quan trọng đối với
doanh nghiệp. Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn
hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng tín
dụng giữa Ngân hàng và DN.
Vốn vay trên thị trường chứng khoán. Tại các nền kinh tế có thị trường
chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức
huy động vốn cho doanh nghiệp. Thông qua hình thức này thì doanh nghiệp có
thể phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục
đích vay dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp có thể huy động số vốn nhàn
rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động SXKD của mình.
* Vốn liên doanh liên kết:
Sinh viên: Ngô Quang Đức 10 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp
khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là hình
thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết
gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi
mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm điều này cũng có nghĩa
bảo mọi chi phí vận hành của tài sản như phí bảo trì, bảo hiểm thuế tài sản . .
.cùng với mọi rủi ro vô hình của tài sản.
- Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất
thời vụ và nó đem lại cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài sản
này vào sổ sách kế toán.
* Thuê tài chính:
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng thưong mại trung hạn
và dài hạn theo hợp đồng. Theo phương thức này, người cho thuê thường mua
tài sản, thiết bị mà người cần thuê và đã thương lượng từ truớc các điều kiện
mua tài sản từ người cho thuê và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua tài
sản từ người cho thuê. Thuê tài chính có hai đặc trưng sau:
Thời hạn thuê tài sản của bên phải chiếm phần lớn hữu ích của tài sản và
hiện giá thuần của toàn bộ của các khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi
phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
Ngoài khoản tiền thuê tài sản phải trả cho bên thuê, các loại chi phí bảo
dưỡng vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản, cũng như các rủi ro khác đối với tài
sản do bên thuê phải chịu cũng tương tự như tài sản của Công ty.
1.1.2.2. Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển
Vốn cố định:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của nguồn vốn cố định
được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là TSCĐ. Vì vậy, việc
nghiên cứu về nguồn vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về
TSCĐ.
* Tài sản cố định:
Sinh viên: Ngô Quang Đức 12 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Căn cứ vào tính chất và tác dụng trong khi tham gia vào quá trình sản
xuất, tư liệu sản xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và tư
liệu lao động. Đặc điểm cơ bản của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào chu kỳ sản xuất. Trong qúa trình đó, mặc
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng
+ TSCĐ mà doanh nghiệp bảo quản và cất giữ hộ Nhà nước
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được vị trí quan trọng của
tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua đó doanh
nghiệp đưa ra những chính sách hợp lý nhằm đầu tư vào tài sản một cách hợp lý.
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp mà chúng
được chia ra thành:
- Tài sản cố định đang sử dụng
- Tài sản cố định chưa cần dùng
- Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý
Cách phân loại này phần nào giúp cho doanh nghiệp có thể hiểu và kiểm
soát dễ dàng các tài sản cuả mình.
* Vốn cố định của doanh nghiệp:
Việc đầu tư thành lập một doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành
như; xây dựng nhà phân xưởng, nhà làm việc và nhà quản lý, lắp đặt hệ thống
máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm Doanh nghiệp chỉ có thể đưa vào hoạt động
sản xuất kinh doanh khi mà nó đã hoàn thành các công đoạn trên. Thì lúc này
vốn đầu tư đã được chuyển sang VCĐ của doanh nghiệp.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 14 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Như vậy, vốn đầu tư của doanh nghiệp là một bộ phận vốn đầu tư ứng
trước của tài sản của doanh nghiệp; đặc điểm của nó được luân chuyển từng
phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và một vòng
tuần hoàn của TSCĐ chỉ kết thúc khi mà nó hết thời hạn sử dụng đồng thời nó sẽ
mang lại một phần lợi nhuận nhất định cho DN.Việc đầu tư để mang lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp phần nào phụ thuộc vào quyết định đầu tư của doanh
nghiệp, đồng nó cũng mang lại một thế mạnh cho sản phẩm của doanh nghiệp
trên thị trường.
Vốn lưu động.
* Tài sản lưu động:
Có rất nhiều hình thái mà vốn lưu động có thể chuyển đổi như:
T-H-T
/
, H-T-H
/
.
Tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó nó trở về trạng
thái ban đầu sau khi đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó nó sẽ
mang lại cho doanh nghiệp số lãi hay không có lời thì điều này còn phụ thuộc
vào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp.Vậy thì, vốn của
doanh nghiệp có thể hiểu là số tiền ứng trước về TSLĐ của doanh nghiệp nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn.
Vậy vốn cần được quản lý và sử dụng tốt điều này sẽ mang lại cho doanh
nghiệp nhiều điều kiện trên thị trường. Một doanh nghiệp được đánh giá là quản
lý vốn lưu động tốt, có hiệu quả khi mà doang nghiệp biết phân phối vốn một
cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của mình và qua đó thì nó sẽ mang lại
hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Nhưng để quản lý vốn đạt hiệu quả thì doanh
nghiệp phải có sự nhận biết các bộ phận cấu thành của vốn lưu động, trên cơ sở
đó ra các biện pháp quản lý phù hợp với từng loại.
Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh vốn lưu động bao gồm:
Sinh viên: Ngô Quang Đức 16 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho
quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm
tự gia công chế biến.
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua
nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dùng cho hoạt động sản
xuất.
- Vốn lưu động dùng cho quá trình lưu thông: là bộ phận dùng cho quá
rộng quy mô sản xuất trong thời gian ngắn. Nó mang lại cho doanh nghiệp
được nhiều lợi thế như; cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm
được sức lao động cho nhân công mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản
phẩm và nhu cầu của thị trường điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn.
Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao
uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các
nhà đầu tư.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý và hiệu quả sử
dụng vốn lưu động
* Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý vốn lưu động.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và
nợ phải trả. Do đó việc tổ chức quản lý vốn lưu động cũng chịu ảnh hưởng của
hai nguồn này.
- Nguồn vốn chủ sở hữu: là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Nguồn
vốn này có lợi thế rất lớn vì doanh nghiệp được quyền chủ động sử dụng một
cách linh hoạt và không chịu chi phí sử dụng vốn. Vì thế, nếu doanh nghiệp tổ
chức khai thác triệt để nguồn vốn này sẽ vừa tạo ra được một lượng vốn cung
ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, lại vừa giảm được một khoản chi phí sử
dụng vốn không cần thiết do phải đi vay từ bên ngoài, đồng thời nâng cao được
hiệu quả đồng vốn hiện có.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 18 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
- Nợ phải trả: là các khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái
phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Trong nền kinh tế thị trường,
ngoài vốn chủ sở hữu doanh nghiệp còn huy động các khoản nợ phải trả để đáp
ứng nhu cầu vốn lưu động của mình. Việc huy động các khoản nợ phải trả không
những đáp ứng kịp thời VLĐ cho sản xuất kinh doanh mà còn tạo cho doanh
nghiệp một cơ cấu vốn linh hoạt. Tuy nhiên, việc cân nhắc lựa chọn hình thức
* Các nhân tố chủ quan:
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan của
chính bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ cũng
như toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động: do xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính
xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh, điều này
sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản
xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được
quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử
dụng VLĐ và ngược lại.
+ Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ
dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí VLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách gây
thất thoát VLĐ, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và
sử dụng VLĐ của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không
tốt tới hiệu quả tổ chức và sử dung VLĐ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu xem
Sinh viên: Ngô Quang Đức 20 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của
những mặt tồn tại trong việc tổ chức sử dụng VLĐ, nhằm đưa ra những biện
pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn lưu động mang lại là cao nhất.
1.2. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động ở các doanh nghiệp.
1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động
* Tốc độ luân chuyển VLĐ.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc
độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu động
luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược
lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân
chuyển(số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn(số ngày của một vòng quay
vốn). Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong
thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm. Công thức tính như sau:
M
VLĐ
Trong đó:
L: số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
* Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
Công thức được xác định như sau:
360 (VLĐ x 360)
L M
Trong đó:
K: Kỳ luân chuyển VLĐ.
M,VLĐ: Như công thức trên.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 22 Lớp: QTKDB – K8
L =
K = Hay K =
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn
và chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả.
* Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển.
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu
1
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
Điều kiện để có VLĐ tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển vốn kỳ
kế hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và vốn lưu
động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo.
- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm
hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ.
Công thức xác định số VLĐ tiết kiệm tương đối như sau:
M
1
V
tktgđ
= x (K
1
– K
0
)
360
Trong đó:
Sinh viên: Ngô Quang Đức 23 Lớp: QTKDB – K8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
V
tktgđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối.
M
1
: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch.
K
0
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
LN trước thuế và lãi vay
Tỷ suất VLĐ trước thuế và lãi vay = x 100%
VLĐ
Trong đó:
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động tính với lợi nhuận trước thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của thuế
TNDN.
Công thức tính như sau:
LN trước thuế
Tỷ suất VLĐ trước thuế = x 100%
VLĐ
- Tỷ suất lợi nhuận thuần: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ,
một đồng vốn lưu động có thể đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ
tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ đã chịu sự tác động của cả thuế TNDN
và lãi vay.
Công thức tính như sau:
LN sau thuế
Tỷ suất VLĐ sau thuế = x 100%
VLĐ
Trên đây là một số chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả tổ chức và sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp giúp cho nhà quản lý tài chính đánh giá đúng đắn
tình hình của kỳ trước, từ đó có nhận xét và nêu ra những biện pháp nâng cao
hiệu quả tổ chức quản lý vốn cho kỳ tiếp theo.
1.2.3. Vai trò của việc nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu
động trong doanh nghiệp.
Sinh viên: Ngô Quang Đức 25 Lớp: QTKDB – K8