Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng sản xuất là cơ sở
để cho tất cả các quốc gia trên thế giới tồn tại và phát triển. Hơn nữa quá trình sản xuất
được tiến hành trên những điều kiện thiết yếu như là tư liệu sản xuất và lực lượng sản
xuất, trong đó TSCĐ là một phần cơ bản của tư liệu sản xuất và lực lượng sản xuất.
TSCĐ là một phần cơ bản của tư liệu sản xuất, nó giữ vai trò là tư liệu lao động chủ
yếu tham gia một cách trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. TSCĐ được coi là
một bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân và chúng
chính là nền tảng để thúc đẩy sản xuất phát triển nâng cao năng suất lao động xã hội.
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người đòi hỏi các cuộc cách
mạng công nghiệp phải tập trung giải quyết các vấn đề cơ khí hóa, điện khí hóa, tự
động hóa quá trình sản xuất. Thực chất của vấn đề này là đổi mới, cải tiến hoàn toàn
TSCĐ nhằm phù hợp với điều kiện sản xuất của thời thế. Trong điều kiện đang tiếp
cận với nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất diễn ra gay gắt, ai
cũng muốn có tiếng tăm và chiếm lĩnh thị trường rộng thì việc đổi mới trang thiết bị,
các phương tiện sản xuất hay gọi chung là TSCĐ ở các doanh nghiệp được coi là vấn
đề thời sự cấp bách bởi lẽ sự tăng trưởng hay phát triển của các doanh nghiệp nói riêng
và của toàn nền kinh tế quốc dân nói chung phần lớn dựa trên cơ sở trang bị TSCĐ
phục vụ cho quá trình sản xuất.
Những năm gần đây Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đa phương đa
dạng, điều đó giúp cho nhiều doanh nghiệp tranh thủ được sự đầu tư của các đối tác
nước ngoài. Với việc đầu tư máy móc thiết bị sản xuất tiên tiến và kết quả sản xuất
được những sản phẩm có chất lượng tốt làm tăng sản lượng của nền kinh tế quốc dân,
thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, góp phần tăng trưởng kinh tế, dần đưa Việt Nam hòa nhập vào guồng máy sôi
động của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Đứng trước thực tế trên, bất kỳ một doanh nghiệp công nghiệp nào muốn đứng
vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường đều phải không ngừng đổi mới công
nghiệp sản xuất kinh doanh, đồng thời không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất kinh
doanh, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Nếu như
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ CÔNG TY
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH XÂY
DỰNG HẢI PHÒNG
Địa chỉ: 36 Lý Tự Trọng – Quận Hồng Bàng – TP Hải phòng
Điện thoại: 031 3841877
Fax: 031 3841877
Email:
Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Công trình Xây dựng HP, được chuyển đổi từ
Công ty Tư vấn Thiết kế Công trình Xây dựng HP theo quyết định số 2270/ QĐ -
UBND ngày 29/9/2005 của UBND thành phố HP.
Tiền thân là “Xí nghiệp Thiết kế” được thành lập theo quyết định số 461/ QĐ -
TCCQ ngày 11/5/1984 của UBND thành phố Hải Phòng. Sau gần 2 năm, xí nghiệp
Thiết kế được đổi tên là “Viện Thiết kế Công trình Xây dựng HP”, và sau 14 năm hoạt
động, để phù hợp với cơ chế quản lý và công cuộc đổi mới, Viện Thiết kế Công trình
Xây dựng lại được đổi tên là “Công ty Tư vấn Thiết kế Công trình Xây dựng HP”.
Từ đó, ngày 11/5/1984 là ngày thành lập công ty. Ra đời trong hoàn cảnh khó
khăn của đất nước, cơ sở vật chất của công ty còn nghèo nàn lạc hậu. Nhưng CBCNV
của công ty đã năng động sáng tạo nhanh chóng vượt qua nhiều thử thách khó khăn,
gian khổ để tự khẳng định mình và hoà nhập với công cuộc đổi mới của đất nước.
Trải qua 22 năm hoạt động và phát triển cho đến nay công ty đã trở thành một
công ty tư vấn xây dựng hàng đầu của Hải Phòng và khu vực, có đội ngũ CBCNV
năng động, nhiều kinh nghiệm với 1 tiến sĩ, 6 thạc sĩ, 42 kiến trúc sư, 123 kỹ sư các
chuyên ngành, 11 cử nhân kinh tế, ngoại ngữ và nhiều chuyên viên, kỹ thuật viên và
công nhân lành nghề, có thể thực hiện đầy đủ tất cả các lĩnh vực của công tác tư vấn
xây dựng với chất lượng cao, thoả mãn các chủ đầu tư và các đối tác.
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
3
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trong những TSCĐ mà công ty đang dùng được chia thành các nhóm sau :
Tên TSCĐ Mã TS Nguyên giá GTCL
I . Nhà cửa VKT NCVKT 1.348.576.415 1.287.296.255
II. Máy móc thiết bị MMTB 1.260.597.558 350.272.728
II. Phương tiện Vtải PTVT 921.800.000 716.834.000
III. Thiết bị quản lý TBQL 254.455.147 115.343.589
Tổng cộng : 3.785.429.120 2.469.746.572
1.3.2. Lực lượng lao động
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng số lao động của công ty trong năm 2006 là
244 người, trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt của Công ty bao gồm 6 người. Họ là
những người có trình độ chuyên môn, có kiến thức nghiệp vụ những cán bộ có bằng
cấp. Những cán bộ này họ còn tham gia các lớp học bồi dưỡng để nâng cao trình độ,
luôn cố gắng để bản thân mình không bị tụt hậu so với tất cả những đồng nghiệp của
mình.
Nhân viên của công ty chủ yếu tập trung tại các trung tâm thiết kế, với trình độ
từ cao đẳng trở lên, công việc của họ là tư vấn thiết kế các công trình tên địa bàn thành
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phố. Số nhân viên còn lại là những người làm công tác phục vụ cho công việc của
nhân viên thiết kế.
Tóm lại, đối với công ty tư vấn thiết kế lực lượng lao động như vậy là phù hợp
sẽ đảm bảo cho công ty hoạt động tốt.
1.4. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Để góp phần vào sự phát triển của công ty ngoài các yếu tố nguồn lực và công
sát và kiểm tra toàn bộ trình độ cũng như các kế hoạch cần thực hiện của các xí nghiệp
trực thuộc.
+ Cuối cùng là các xí nghiệp, các trung tâm tư vấn và thiết kế có nhiệm vụ thực
hiện các kế hoạch đã được BGĐ đề ra.
Qua mô hình trên ta thấy, mỗi phòng ban chức năng của công ty đều có nhiệm vụ
tách bạch, không chồng chéo lên nhau để tránh sự ỷ lại. Tuy nhiên, các phòng ban
chức năng đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng làm việc giúp
cho BGĐ công ty hoàn toàn yên tâm tin tưởng vào bộ máy quản ký của mình. Việc tổ
chức tốt bộ máy quản lý của công ty phù hợp là một trong những nhân tố quan trọng
giúp cho công ty hoàn thành kế hoạch đặt ra.
1.5. Những thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển trong tương lai
Công ty CP TV TK CTXD đã qua 24 năm xây dựng và trưởng thành, sự phát
triển của công ty đã trải qua một quá trình rất lâu dài gắn liền với những biến đổi lớn
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
lao của đất nước. Công ty có nhiều thuận lợi như: Công ty được có mối quan hệ tốt,
được bạn hàng tin tưởng, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công việc tư vấn
và thiết kế tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. Bên cạnh đó Công ty còn gặp
phải những khó khăn trước mắt như: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật làm
cho một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa bắt kịp với những sự
thay đổi đó.
Xuất phát từ tình hình thực tế đã diễn ra trong năm qua, từ yêu cầu khách quan
cần mở rộng và phát triển công ty, tăng lợi nhuận, nâng cao thu nhập, nâng cao chất
lượng cuộc sống văn hóa tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong công ty cũng như
sự phát triển chung của đất nước, lãnh đạo công ty đã đề ra phương hướng phát triển
sản xuất kinh doanh cho công ty những năm tới như sau:
+ Tăng cường đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ kỹ sư
+ Tuyển thêm lao động có trình độ tay nghề cao để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tư
quả hoạt động của công ty.
- Tổ chức bảo quản các tài liệu kế toán, giữ bí mật tài liệu sổ sách kế toán
- Kiểm tra việc thanh toán, tính hợp lý hợp lệ của các chứng từ thu chi vay tín
dụng một cách thường xuyên căn cứ trên những số liệu được ghi chép.
* Nhiệm vụ của kế toán viên: chịu trách nhiệm phụ trách kế toán chi tiết. Hàng ngày
cập nhật chứng từ gốc liên quan đến các nghiệp vụ phát sinh, phản ánh tình hình hiện
có và các biến động tăng giảm trong kỳ của các nghiệp vụ kế toán. Đồng thời phụ
trách công viên chi trả lương, mua sắm vật tư khi có yêu cầu.
* Nhiệm vụ của bộ máy kế toán: Thiết lập tổ chức quản lý hoạt động kế toán phù hợp
với tổ chức toàn công ty. Bộ máy kế toán bao gồm:
Kế toán tổng hợp
- Chịu trách nhiệm kiểm tra số liệu do kế toán viên ghi chép
- Thu thập xử lý ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về hoạt động kinh tế tài
chính của công ty
- Lập báo cáo tài chính theo dõi tình hình vay và trả nợ ngân hàng, về vốn góp và
vòng quay của vốn
Kế toán chi tiết tại công ty
+ Kế toán nguồn vốn, doanh thu, thu nhập: Cập nhật chứng từ, hạch toán trên
phiếu kế toán, phản ánh tình hình hiện có và vấn đề tăng giảm trong kỳ của các nguồn
vốn kinh doanh, các khoản chênh lệch giá, chênh lệch tỷ giá các quý Cập nhật
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
chứng từ, hạch toán trên phiếu kế toán phản ánh doanh thu thu nhập và các khoản ghi
giảm doanh thu, thu phát sinh trong doanh nghiệp làm cơ sở xác định doanh thu thuần
và thu nhập thuần từ các hoạt động.
+ Kế toán chi phí giá thành: Phản ánh đầy đủ hạch toán trên phiếu kế toán kịp thời
các khoản chi phí phát sinh trong công ty. Chi phí sản xuất quản lý, chi phí bán hàng
làm cơ sở cho việc xác định tổng chi phí từ các hoạt động của công ty. Tổng hợp số
Hình thức kế toán Công ty áp dụng là hình thức Nhật ký chung. Đặc trưng cơ bản
của hình thức kế toán Nhật ký chung là: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát
sinh đều được ghi vào sổ Nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và định
khoản kế toán của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên sổ Nhật ký chung ghi sổ Cái
theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
Kế toán trưởng
Kế
Toán
Tổng
Hợp
Kế toán
+ nguồn vốn
+Chi phí giá
thành
+ Doanh thu
+ Công nợ
Kế toán
+ tiền lương
+ thuế
Kế toán
+ TSCĐ
11
Chứng từ gốc
Nhật ký chung
Sổ cái
Bảng cân đối PS
Báo cáo tài chính
TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình theo Nguyên giá. Trong bảng cân đối kế toán được
phản ánh theo 3 chỉ tiêu: Nguyên giá, hao mòn lũy kế, giá trị còn lại.
Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ thuê tài chính: Theo chuẩn mực số 06, thông tư
hướng dẫn chuẩn mực số 105/2003/TT_BTC ngày 4/11/2003 Bộ Tài Chính
Phương pháp khấu hao và thời gian sử dụng hữu ích TSCĐ và vô hình trích
khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng và xác định thời gian sử dụng hữu ích
của TSCĐ thực hiện theo QĐ 206/2003/QĐ_BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài Chính.
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KẾT
QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH, TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
I . LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ NÓI CHUNG
VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH NÓI RIÊNG.
1 . Mục đích, ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế và phân tích tài chính.
A. Phân tích hoạt động kinh tế
* Khái niệm:
Phân tích hoạt động kinh tế là việc phân chia, phân giải các hiện tượng, các quá
trình và kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, rồi dùng các phương pháp
liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng vận
động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
* Mục đích:
Phân tích hoạt động kinh tế có mục đích như sau:
- Đánh giá kết quả hoật động kinh doanh, kết quả của việc thực hiện các nghiệp vụ
được giao, đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách quy định của Đảng và Nhà
Nước.
- Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả và hiện tượng kinh tế cần
nghiên cứu, xác định những nguyên nhân dẫn đến sự biến động, các nhân tố làm ảnh
hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của hiện tượng nghiên cứu.
- Phân tích phải thực hiện trong mối liên hệ qua lại giữa các hiện tượng kinh tế. Có
như vậy mới thấy được nguyên nhân phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
- Phân tích phải đảm bảo tính toàn diện, khách quan và triệt để.
* Nội dung của phân tích hoạt động kinh tế:
- Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh.
- Phân tích tình hình sản xuất và kết quả sản xuất trong doanh nghiệp.
- Phân tích tình hình sử dụng lao động.
- Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định.
- Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
- Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận.
- Phân tích tình hình tài chính.
3. Các phương pháp phân tích hoạt động kinh tế.
3.1 Các phương pháp đánh giá kết quả kinh doanh
a. Phương pháp so sánh:
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
So sánh là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh giá
kết quả kinh doanh, xác định vị trí và xu hướng biến động của hiện tượng kinh tế.
Phương pháp so sánh được sử dụng trong các trường hợp sau:
- So sánh giữa trị số chỉ tiêu thực tế với trị số kế hoạch định mức.
- So sánh trị số chỉ tiêu thực tế kỳ này với kỳ trước.
- So sánh giữa các đơn vị với nhau, giữa các đơn vị thành phần.
- So sánh giữa đơn vị nghiên cứu với ngành hoặc nền kinh tế quốc dân.
- So sánh giữa thực tế với nhu cầu, thực tế với khả năng.
a1. So sánh bằng số tuyệt đối: Phản ánh quy mô, khối lượng mà doanh nghiệp đạt,
vượt giữa hai kỳ biểu hiện bằng tiền, hiện vật hoặc giờ công.
So sánh bằng số tuyệt đối được xác định bởi công thức:
: mức độ kỳ kế hoạch.
+ Dạng liên hệ: khi tính cần liên hệ với chỉ tiêu có liên quan để xác định mức biến
động tương đối của chỉ tiêu.
Mức biến động tương đối = y
1 –
y
kh
* chỉ số liên hệ (hệ số tính chuyển)
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
mức độ của chỉ tiêu liên hệ kỳ thực hiện
Hệ số tính chuyển =
mức độ của chỉ tiêu liên hệ kỳ kế hoạch
- Số tương đối động thái: Phản ánh xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện
tượng qua thời gian.
Được xác định bởi công thức:
y
1
t = x 100 (%)
y
0
Trong đó:
t: Số tương động thái
y
1
: Mức độ kỳ nghiên cứu
b1. Phương pháp chi tiết theo thời gian:
- Kết quả sản xuất kinh doanh là kết quả của quá trình do nhiều nguyên nhân khách
quan, chủ quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình trong đơn vị thời gian xác định
không đồng đều, vì vậy ta phải chi tiết theo thời gian, giúp cho việc đánh giá kết quả
của doanh nghiệp được xác đáng và tìm được các giải pháp nâng cao được hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
- Tác dụng:
+ Xác định thời điểm mà hiện tượng kinh tế xảy ra tốt nhất, xấu nhất.
+ Xác định biến đổi phát tiển nhịp điệu với phát triển của hiện tượng kinh tế.
b2. Phương pháp chi tiết theo địa điểm:
- Có những hiện tượng kinh tế xảy ra tại nhiều địa điểm khác nhau với những tính chất
và mức độ khác nhau vì vậy cần phải chi tiết theo địa điểm.
- Tác dụng:
+ Xác định những đơn vị, cá nhân tiên tiến hoặc lạc hậu
+ Xác định sự hợp lý hay không trong việc phân phối nhiệm vụ giữa các đơn vị
sản xuất hoặc cá nhân.
+ Đánh giá kết quả của việc hạch toán kinh doanh nội bộ.
b3. Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành:
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành rút ra được quan hệ cấu thành của các hiện
tượng kinh tế và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh tế , từ
đó giúp cho việc đánh giá kết quả được chính xác và xác định được nguyên nhân cũng
như trọng điểm của công tác quản lý.
3.2 Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân
tích dùng trong phân tích.
a. Phương pháp cân đối:
- Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp khi các nhân tố có mối quan hệ
tổng, hiệu hoặc kết hợp cả tổng và hiệu với các chỉ tiêu nghiên cứu.
- Cụ thể khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đó đến chỉ tiêu nghiên cứu
chính bằng chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu và kỳ gốc của nhân tố đó.
Khái quát nội dung của phương pháp :
1
)
- (a
0
+ b
0
- c
0
)
+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:
*) ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (a) đến y:
ảnh hưởng tuyệt đối : ∆y
a
= a
1
- a
0
ảnh hưởng tương đối : δy
a
= (∆y
a
x 100)/y
0
(%)
*) ảnh hưởng của nhân tố b đến y:
ảnh hưởng tuyệt đối : ∆y
b
= b
1
= ∆y
δy
a
+ δy
b
+ δy
c
= δy =(∆y x 100)/y
0
(%)
b. Phương pháp thay thế liên hoàn
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bằng cánh thay thế lần
lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định chỉ số của
chỉ tiêu khi nhân tố thay đổi. Sau đó so sánh chỉ số của chỉ tiêu khi chưa có sự biến
động của nhân tố cần xác định dược mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó.
Dạng tổng quát : Y = A.B.C
- Đối tượng phân tích là giá trị chỉ tiêu ở kỳ gốc : Y
0
= A
0
.B
0
.C
0
- Đối tượng phân tích là giá trị chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu: Y
1
= A
1
.B
1
.B
0
.C
0
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ ảnh hưởng tương đối: : δy
a
= (∆y
a
x 100)/y
0
(%)
Nhân tố B:
+ ảnh hưởng tuyệt đối: ∆y
b
= A
1
.B
1
.C
0
- A
1
.B
0
.C
0
a
+ ∆y
b
+ ∆y
c
= ∆y
δy
a
+ δy
b
+ δy
c
= δy =(∆y x 100)/y
0
(%)
Điều kiện để áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn:
- Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp khi các nhân tố có mối quan hệ
tích, thương hoặc kết hợp cả tích cả thương.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích được sắp xếp và xác định mức độ ảnh
hưởng theo một thứ tự, từ nhân số lượng đến nhân tố chất lượng.
- Mỗi lần chỉ thay thế giá trị của một nhân tố, có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy
nhiêu lần. Giá trị của nhân tố đã thay đổi thay thế giữ nguyên giá trị kỳ phân tích cho
đến khi lần thay thế cuối cùng.
c. Phương pháp số chênh lệch:
Điều kiện áp dụng giống như phương pháp thay thế liên hoàn, chỉ khác ở chỗ khi xác
định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích thì dùng
ngay số chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc của nhân tố đó và nhân
với các nhân tố còn lại.
Dạng tổng quát : Y = A.B.C
- Đối tượng phân tích là giá trị chỉ tiêu ở kỳ gốc : Y
0
Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố:
Nhân tố A
+ ảnh hưởng tuyệt đối: : ∆y
a
= (A
1
-A
0
)*B
0
*C
0
+ ảnh hưởng tương đối: : δy
a
= (∆y
a
x 100)/y
0
(%)
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nhân tố B:
+ ảnh hưởng tuyệt đối: ∆y
b
= A
1
.(B
(%)
Cộng tổng mức độ ảnh hưởng: ∆y
a
+ ∆y
b
+ ∆y
c
= ∆y
δy
a
+ δy
b
+ δy
c
= δy =(∆y x 100)/y
0
(%)
d. Phương pháp liên hệ cân đối:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh hình thành rất nhiếu quan hệ cân đối giữa hai
mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như giữa tổng số vốn và tổng số nguồn,
giữa thu chi và kết quả, giữa mua sắm và sử dụng các loại vật tư, mỗi quan hệ cân đối
về lượng giữa các yếu tố dẫn đến sự cân bằng cả về mức biến động về lượng giữa
chúng. Dựa trên cơ sở đó ta sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ
tiêu phân tích.
e. Phương pháp chỉ số :
Là chỉ tiêu tương đối thể hiện mối quan hệ so sánh mức độ của hai hiện tượng nghiên
cứu, ở đây ta chỉ xét ứng dụng của phương pháp chỉ số trong việc xác định mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu. Từ phương trình kinh tế ta thiết lập
liên hệ thống chỉ số:
F = QI.f
chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm đến doanh nghiệp. Họ có mối quan
hệ với doanh nghiệp và có lợi ích sẽ bị ảnh hưởng từ tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Với mỗi người sẽ quan tâm đến những mặt nhất định của doanh nghiệp nên họ
sẽ tìm hiểu những thông tin cần thiết cho họ vì thế mục đích của việc phân tích tình
hình tài chính của doanh nghiệp đối với mỗi người là khác nhau.
+ Đối với chủ doanh nghiệp:
Chủ doanh nghiệp là người quan tâm nhiều nhất đối với tình hình tài chính của doanh
nghiệp, bởi vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp sẽ thể hiện trong tình hình tài
chính. Vì thế chủ doanh nghiệp phải phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp,
xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Từ cơ sở đó đưa ra các quyết định
cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ tới.
+ Đối với nhà đầu tư:
Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, cần biết lợi tức cổ phần, giá trị
tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm đến khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Đó là
căn cứ để họ quyết định có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không.
+ Người cho vay:
Người cho vay thì phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp để cho biết khả năng
vay trả nợ của doanh nghiệp. Họ muốn biết doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay
không và khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào, ngoài ra phân tích tài chính
rất cần thiết đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp.
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Đối với khách hàng, bạn hàng, đối với cán bộ thuế thanh tra mặc dù họ công tác ở
các lĩnh vực khác nhưng công việc của họ có liên quan đến doanh nghiệp.
Nói chung mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là khả năng thanh
toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động và khả năng sinh lãi của doanh
nghiệp.
* Ý nghĩa:
loại tài sản chiếm trong tổng số và sự biến động của chúng để thấy được mức độ hợp
lý của việc phân bổ. Việc đánh giá phải dựa trên tổ chức kinh doanh, tình hình biến
động của từng bộ phận để có thể rút ra nhận xét xác đáng cần liên hệ với tình hình
thực tế như là nguồn cung cấp vật tư, phương thức thanh toán Đồng thời với việc
phân tích cơ cấu cần xem xét tình hình biến động của từng khoản mục, qua đó đánh
giá tính hợp lý của sự biến động.
* Phân tích tình hình và cơ cấu nguồn vốn:
Cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến động
của chúng. Nếu những nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao thì đánh giá là doanh
nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh
nghiệp đối với chủ nợ là cao, ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm phần lớn trong
tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính là thấp. Nếu tình hình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thuận lợi, lãi nhiều thì nên tăng nguồn vốn chủ sở
hữu và ngược lại nếu tình hình sản xuất của doanh nghiệp thường xuyên biến động lúc
cần nhiều vốn, lúc cần ít vốn thì nên dùng nguồn nợ phải trả.
Cuối cùng ta phải đi đến kết luận là cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp như vậy là
đã hợp lý hay chưa và cần thay đổi như thế nào.
* Phân tích hiệu qủa sinh lời của hoạt động kinh doanh
Phân tích BCTC của doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến khả năng sử dụng
một cách có hiệu quả tài sản để mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp.
Các tỷ suất doanh lợi luôn được các nhà quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư,
các nhà phân tích tài chính quan tâm vì chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá hoạt
động kinh doanh cũng như để so sánh hiệu quả sử dụng vốn và lãi của doanh nghiệp.
Ta hãy nghiên cứu một số tỷ suất doanh lợi dưới đây:
- Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt động kinh
doanh, phản ánh lợi nhuận do doanh thu tiêu thụ sản phẩm mang lại.
Công thức xác định:
Sinh viên: Đặng Hoàng Huy
Lớp QKT 46 – ĐH1
VLĐ bình quân =
VLĐ đầu kỳ + VLĐ ckỳ
2
24
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
không đòi hỏi sự chi trả trong thời gian ngắn. Để đánh giá khả năng thanh toán của
vốn luân chuyển ở một doanh nghiệp, ngoài việc phải căn cứ trên quy mô tài sản, vì
doanh nghiệp có quy mô vốn hoạt động khác nhau, thì vốn luân chuyển cần cho việc
thanh toán sẽ không giống nhau. Người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu hệ số thanh toán
để đánh giá khả năng thanh toán vốn luân chuyển của một doanh nghiệp.
- Hệ số thanh toán tổng quát.
Hệ số thanh toán tổng quát là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán tổng
quát của doanh nghiệp trong kì báo cáo. Nếu doanh nghiệp có chỉ số này lớn hơn hoặc
bằng 1 thì doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán và ngược lại.
- Hệ số thanh toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán ngắn hạn biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa tài sản lưu động với các
khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này phản ánh mức độ đảm bảo của TSLĐ đối với nợ ngắn
hạn. Công thức xác định là:
Hệ số K càng lớn thì khă năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn càng cao
và ngược lại.
- Hệ số thanh toán tức thời.
Hệ số thanh toán tức thời (nhanh) thể hiện khả năng về tiền mặt và các loại tài sản
có thể chuyển ngay (tức thời) thành tiền để thanh toán cho các khoản nợ đến hạn thanh
toán. Công thức xác định như sau:
Nói chung nếu hệ số này thường biến động từ 0.5 đến 1 là đảm bảo được khả
năng thanh toán. Tuy nhiên để có kết luận giá trị K
N
như thế nào là tốt hay xấu cần
phải xem thêm điều kiện và bản chất kinh doanh nữa. Nếu K
N