Lêi më ®Çu
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập với nền kinh tế khu
vực và thế giới.Để bắt kịp với nền kinh tế thế giới,nước ta thực hiện đường lối đối
ngoại tự chủ,mở rộng đa phương hoá,đa dạng hoá các mối quan hệ,hợp tác song
phương đa phương với các nước trên những nguyên tắc nhất định.
Trên cơ sở đó hoạt động thương mại của nước ta ngày càng phát triển,ở
nước ta việc nhập khẩu đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá.Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì chúng ta
phải nhanh chóng tiếp cận, đi tắt đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của
nước ngoài, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Để thực hiện được điều này
thì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay và trong tương lai đang đổi mới phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng, phát triển
sản xuất, cho nên nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung trong đó nhu cầu về vật
liệu sắt thép nhằm đáp ứng nhu cầu sắt thép trong xây dựng và phục vụ trong các
ngành sản xuất khác là rất lớn. Trong khi ngành sản xuất thép của nước ta chưa đáp
ứng được phôi thép và các loại thép thành phẩm cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
trong nước. Do vậy nhập khẩu thép hiện nay đóng vai cho rất quan trọng đối với
các ngành có nhu cầu sử dụng nguyên liệu thép nói riêng và toàn nền kinh tế nói
chung.Do đó nhóm chúng em chon CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
THÀNH VIÊN LUYỆN THÉP CỬU LONG làm nơi thực tập vào nghề trong quá
trình học của mình
Kết cấu của báo cáogồm 3 chương chính và các giấy tờ kèm theo sau:
Chương 1: Giới thiệu về công ty
Chương 2: Hoạt động kinh doanh của Công ty.
1
Chương 3: Nhận xét và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của
Công ty
Các giấy tờ kèm theo:
1) Giấy đăng ký kinh doanh (bản sao)
2) Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2010 (bản sao)
3
doanh, hoạt động theo điều lệ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng
qui định của pháp luật.
1) Ngành nghề kinh doanh chính của công ty
STT Tên Ngành mã ngành
1
sản xuất sản phẩm khác bằng kim loại chưa phân vào đâu:sản
xuất phôi thép 2599
2 khai thác quặng kim loại 07
3 khai thác quặng sắt 07100
4 bán buôn máy móc thhiết bị và phụ tùng máy 465
5
bán buôn máy móc thhiết bị và phụ tùng máy khai khoáng,
xây dựng 46591
6 bán buôn quặng kim loại 46621
7 vận tải hàng hoá bằng đường bộ 4933
8 hoạt động thăm dò địa chất nguồn nước 71103
9 kiểm tra và phân tích kĩ thuật mẫu khoáng sản 71200
10 sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị 33
11 kho bãi và lưu trữ hàng hoá 5210
Mặc dù công ty kinh doanh rất nhiều mặt hàng nhưng chủ yếu vẫn là nhập khẩu thép
phế liệu, sau đó luyện thành phôi thép,cung cấp cho tổng công ty để làm ra thép thành
phẩm
2) Nhiệm vụ của Công ty
• Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về sản
xuất kinh doanh các mặt hàng mà Công ty có chức năng kinh doanh theo
đúng luật pháp hiện hành của Nhà nước và điều lệ Công ty.
• Xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh và cung cấp các dịch vụ
phát triển theo kế hoạch và mục tiêu của Công ty. Tổ chức nghiên cứu và áp
5
mời các đoàn nước ngoài vào Việt Nam để hội thảo, đàm phán và kí kết hợp
đồng theo quy định của Nhà nước.
• Được quyền chủ động tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới sản xuất kinh
doanh phù hợp với hình thức Công ty Cổ phần và có hiệu quả.
• Được quyền khiếu nại, tố tụng trước cơ quan pháp luật về các vụ việc vi
phạm chế độ chính sách của Nhà nước để bảo vệ lợi ích của Công ty và nhà
nước.
4) Mô hình công ty
Giám đốc: điều hành quản lý tất cả các phòng ban và các trung tâm, đơn vị trực
thuộc Công ty quyết định toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty,
chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng công ty và Nhà nước về toàn bộ kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, về bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng hiệu quả
nguồn vốn.
Phòng tổ chức tài chính:Có chức năng nhiệm vụ giúp Giám đốc về tổ chức
quản lý, nhân sự, lao động tiền lương và chế độ, khen thưởng và kỷ luật, bảo
quản hồ sơ cán bộ công nhân viên.
Giám đốc Kế toán
trưởng
Phòng tổ
chức hành
chính
Phòng đầu tư
kinh doanh
Phòng kế toán
tài chính
6
Phòng kế toán tài chính:Có chức năng nhiệm vụ giúp Giám đốc về công tác
kế toán tài chính của Công ty, quản lý nguồn vốn, tài sản của Công ty, thực
hiện các công tác tín dụng, cân đối thu chi, thanh quyết toán đối với khách và
tỷ lệ
(%)
số
lượng
tỷ lệ
(%)
Tổng số lao
động
216 100 204 100 203 100 180 100
Theo giới:
- Nam 148 139 133 120
- Nữ 68 65 70 60
Theo tuổi:
- Tuổi 25- 40 60 55 58 60
- Tuổi 41- 50 100 104 94 70
- Tuổi 51- 55 50 45 51 50
Từ bảng số liệu trên cho thấy về số lượng cán bộ công nhân viên trong Công ty
có sự thay đổi qua các năm cụ thể năm 2007 số cán bộ công nhân viên là 216 người,
năm 2008 là 204 người, năm 2009 là 234 người,năm 2010 là 180 nhưng tỷ lệ giảm
không nhiều,chỉ có năm 2010 số lượng lao động giảm đáng kể hơn.Từ bảng trên cho
thấy với cơ cấu lao động Nam nhiều hơn Nữ hiện nay và với đặc thù của một doanh
nghiệp làm về thép,đó là 1 lợi thế. Độ tuổi lao động tập chung phần lớn ở độ tuổi từ
41 đến 50,có lợi thế về tay nghề và kinh nghiêm
8
Chương II:Hoạt động kinh doanh của công ty
I/Tình hình sản xuất và chính sách nhập khẩu thép (thép phế liệu) của Việt Nam
1. Tình hình sản xuất
• Tổng giá trị - sản lượng
Theo báo cáo của Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC), mỗi năm các doanh
nghiệp trong nước sản xuất và cung cấp cho thị trường khoảng 4 triệu tấn thép xây
Theo sự đánh giá của các chuyên gia, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
thép trong nước ở mức thấp, do không chủ động được nguồn nguyên liệu, giá thành
cao, nhiều loại thép vẫn phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài. Theo Hiệp hội Thép
Việt Nam nguyên nhân chính dẫn đến những yếu kém về năng lực cạnh tranh của
ngành thép là do các doanh nghiệp trong nước không chú trọng đầu tư sản xuất phôi
mà chỉ tập chung đầu tư vào các dây chuyền cán thép nhằm thu hồi vồn và lợi nhuận
nhanh chóng. Trong khi đó công tác giám sát việc thực hiện phát triển ngành thép
theo đúng quy hoạch của các cơ quan chức năng chưa được quan tâm đúng mức.
2. Chính sách nhập khẩu thép và thép phế liệu
Biểu thuế nhập khẩu mặt hàng sắt thép
M· HS Mô tả hàng hoá
Thuế suất
ưu đãi
(%)
Ký
hiệu
Thuế suất CEPT (%)
02 03 04 05 06
72
Chương 72 Sắt và thép
I- Nguyên liệu chưa qua chế biến
7201 Gang thỏi và gang kính dạng thỏi, dạng khối
hoặc dạng thô khác.
7201.10.00 - Gang thỏi không hợp kim có chứa hàm lượng
phốt pho bằng hoặc dưới 0,5 %
0 I 0 0 0 0 0
7201.20.00 - Gang thỏi không hợp kim có chứa hàm lượng
phốt pho trên 0,5%
0 I 0 0 0 0 0
10
1 I 1 1 1 1 1
- - Có chứa hàm lượng các bon từ 0,6% trở lên
7207.20.11 - - - Phôi dẹt 3 I 3 3 3 3 3
7207.20.19 - - - Loại khác 10 1 1 1 1 1 1
- - Loại khác
7207.20.91 - - - Phôi dẹt 3 I 3 3 3 3 3
7207.20.99 - - Loại khác 10 1 1 1 1 1 1
7208 Các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim
được cán mỏng, có chiều rộng từ 600 mm trở
lên, được cán nóng, chưa phủ, mạ hoặc tráng
7208.25.00 - - Chiều dầy từ 4,75 m m trở lên 0 I 0 0 0 0 0
7208.26.00 - - Chiều dày từ 3 m m đến 4,75 m m 0 I 0 0 0 0 0
7208.27.00 - - Chiều dày dưới 3 m m 0 I 0 0 0 0 0
- Loại khác, ở dạng không cuộn, chưa được gia
công quá mức cán nóng
7208.51.00 - - chiều dày trên 10 m m 0 I 0 0 0 0 0
7208.52.00 - - Chiều dày từ 4,75 m m đến 10 m m 0 I 0 0 0 0 0
7208.53.00 - - Chiều dày từ 3 m m đến 4,75 m m 0 I 0 0 0 0 0
11
7208.54.00 - - Chiều dày dưới 3 m m 5 I 3 3 3 3 3
7208.90.00 - Loại khác 0 I 0 0 0 0 0
7210 Các loại sắt, thép không hợp kim được cán
mỏng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã phủ
mạ, hoặc tráng
- Được phủ hoặc tráng thiếc
7210.11.00 - - Có chiều dày bằng hoặc trên 0,5mm 3 I 3 3 3 3 3
Riêng
+ Loại chưa in chữ, biểu tượng, nhãn hiệu 0 I 0 0 0 0 0
7210.12.00 - - Có chiều dày dưới 0,5% 3 I 3 3 3 3 3
7210.30.10 - - Loại dầy không quá 1,2mm 10 T 10 10 10 5 5
chất khác trước khi sơn, tráng hoặc pha bằng
plastic
0 I 0 0 0 0 0
7210.90 - Loại khác
7210.90.10 - - Loại đã qua công đoạn pha hoặc tráng thiếc,
trì, ô xít crôm
3 I 3 3 3 3 3
12
7210.90.30 - - Loi ó qua cụng on pha hoc trỏng km
bng phng phỏp in phõn, cú chiu dy trờn
1,2mm
5 I 5 5 5 5 5
7210.90.60 - - Loi ó qua cụng on pha hoc trỏng km,
cú chiu dy trờn 1,2mm
10 I 10 5 5 5 5
7210.90.90 - - Loi khỏc 0 I 0 0 0 0 0
-Thép phế liệu là mặt hàng phế liệu, có ảnh hởng tới môi trờng Việt Nam, nên
hoạt động nhập khẩu thép phế liệu vào nớc ta sẽ do Bộ Tài nguyên Môi trờng toàn
quyền quản lý, trên cơ sở đó Bộ ra quyết định số 03/2004/QĐ- BTN-MT ban hành
ngày 02/04/2004 Quyết định của Bộ trởng Bộ tài nguyên môi trờng về việc ban
hành quy định về bảo vệ môi trờng đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản
xuất, theo Quyết định này: Các cơ sở sản xuất thuộc các ngành thép, giấy, thuỷ tinh
và nhựa đều đợc nhập khẩu phế liệu về làm nguyên liệu sản xuất. Quy định này nhằm
giúp các doanh nghiệp chủ động có nguồn ngyên liệu giá rẻ hơn để phục vụ sản xuất
thép làm giảm giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, không thể tiến hành nhập khẩu phế liệu
bừa bãi, phế liệu nhập về phải đảm bảo tiêu chuẩn sau: không lẫn tạp chất nguy hại;
không lẫn chất thải, trừ tạp chất không nguy hại còn bám dính hoặc bị rời ra trong quá
trình vạn chuyển, bốc xếp. Quyết định này cũng quy định một số điều kiện đối với
các doanh nghiệp đợc phép nhập khẩu - chỉ những tổ chức, cá nhân có kho, bãi dành
riêng cho việc tập kết phế liệu nhập khẩu đảm bảo các điều kiện về môi trờng trong
tục nhập khẩu và hưởng phí) và không được uỷ thác nhập khẩu qua các đơn
vị ngoài Tổng Công ty.
6) Thẩm quyền ký kết hợp đồng mua được thực hiện theo điều 10.2 Quyết định
số 1553 QĐ/HĐQT ngày 21/8/1997 của Hội đồng quản trị Tổng công ty
Thép Việt Nam. Những hợp đồng mua có trị giá vượt quá thẩm quyền của
14
các đơn vị chỉ được ký và thực hiện sau khi đã được Tổng Công ty phê
duyệt. Nghiêm cấm đối phó bằng cách chia nhỏ hợp đồng
7) Quy trình nhập khẩu hàng hoá
II/Tình hình kinh doanh của công ty
1) Tình hình những năm gần đây của công ty.Thị trường nhập khẩu của công
ty
Trong những năm gần đây hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép phế liệu
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá của Công ty. Giá
trị nhập khẩu ngày càng tăng, được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây
TT Năm Sản lượng (tấn) Knnk( USD)
1 2006 3750 280000
2 2007 5500 425000
3 2008 6850 529000
15
Nghiên cứu thị trường
Tổ chức thực hiện hợp đồng
ngoại thương
Giao dịch, đàm phán và ký
kết hợp đồng ngoại thương
Xin
giấy
phép
nhập
khẩu
Mua
bảo
hiểm
hàng
hoá
4 2009 8000 620000
5 2010 9000 700000
Từ bảng trên cho thấy, số lợng thép phế liệu Công ty nhập khẩu tăng nhanh
trong giai đoạn 2006 2009, tuy nhiên sự tăng trởng này không đồng đều giữa các
năm: 2006- 2007 tăng 1750 tấn (tăng trên 40%), 2007- 2008 tăng 1350 tấn( tăng
24%), 2008- 2009 tăng 1150 tấn (tăng 15%), 2009- 2010 tăng 10000 tấn (tăng 10%).
Mặc dù, sự tăng sản lợng thép phế nhập khẩu của Công ty trong những năm qua là
không đồng đều cả về số lợng và tỷ lệ tăng trởng giữa các năm, nhng nhìn chung sản l-
ợng thép phế nhập khẩu của Công ty đã tăng khá cao từ năm đầu giai đoạn (năm2006)
cho tới năm kết thúc giai đoạn (năm 2009) từ 3750 tấn lên tới 8000tấn ( tăng 113%).
Cùng với sự tăng lên về số lợng thì KNNK đối với mặt hàng này cũng tăng với mức
tăng cao hơn. Đặc biệt là trong giai đoạn 2006 2009, KNNK tăng cao (tăng 340000
tơng ứng trên 120%.Tuy ch có năm 2010 tăng không đáng kể.Mặc dù con số này
còn rất nhỏ so với tổng KNNK của Việt Nam nhng nó cũng góp phần bình ổn lại thị
trờng đang trong tình trạng hỗn loạn cung cầu về thép. Nếu tiếp tục duy trì ở mức
tăng trởng nh vậy việc hoàn thành và vợt mức chỉ tiêu năm nay của Công ty sẽ là tất
yếu
Trớc đây, bạn hàng truyền thống của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên luyện thép Cửu Long là các nớc nằm trong khu vực Châu Âu, Công ty chủ yếu
tiến hành các hoạt động kinh doanh ở khu vực thị trờng này, do đó việc thép phế liệu
đợc nhập khẩu 100% từ đây là hoàn toàn phù hợp . Tuy nhiên đó chỉ mang tính tạm
thời và tình thế. Xuất phát từ mục tiêu tăng doanh thu và lợi nhuận, đòi hỏi Công ty
phải chủ động tìm kiếm những khu vực thị trờng mới có giá rẻ hơn, có nhiều lợi thế
đối với công việc kinh doanh của mình. Thị trờng Châu á bao gồm các nớc nằm trong
cùng khu vực địa lý, có cùng chung đờng bờ biển, hoặc là những nớc có đờng biên
cùng là lợi nhuận thì việc xem xét và lựa chọn giá trớc khi kí hợp đồng mua bán là rất
cần thiết. Đặc biệt là trong hoạt động xuất nhập khẩu, giá cả ở một số thị trờng lớn
đóng vai trò quyết định và là cơ sở để ngời mua chấp nhận giá từ phía chào hàng đa ra.
17
Đối với Công ty cũng vậy: Sau khi nhận đợc đơn chào hàng của nớc ngoài chào bán,
cơ sở để tính giá nhập khẩu của Công ty là giá ở một số thị trờng thép phế liệu lớn trên
thế giới. Tuy nhiên, Công ty không thể không tính đến giá đầu ra cho mặt hàng này
nhằm đảm bảo thu lợi nhuận và làm ăn có hiệu quTuỳ từng chủng loại mà Công ty sẽ
nhập khẩu và bán lại với các mức giá khác nhau
Ngoài việc thụ động chờ phía chào hàng đa ra đơn giá, sau đó so sánh và đa ra
quyết định có chấp nhận giá đó hay không, Công ty cũng đẩy mạnh công tác nghiên
cứu, tìm hiểu thị trờng để chuyển mình sang thế chủ động tìm đến những thị trờng mới
có giá thấp và đảm bảo cung cấp ổn định, lâu dài cho Công ty.
* Về chất lợng thép phế liệu nhập khẩu: Chất lợng là một trong những điều
khoản của hợp đồng nhập khẩu. Vì vậy, phải đề cập chi tiết, cụ thể về chất lợng và quy
cách phẩm chất của hàng hoá để tránh xảy ra sự tranh chấp giữa ngời bán và ngời
mua. Mỗi một mặt hàng có những quy định riêng về tiêu chuẩn phẩm chất và ở mỗi n-
ớc lại có những quy định khác nhau về mặt hàng đó, đối với thép phế liệu nhập khẩu
vào Việt Nam cũng vậy. Nhng khi tham gia vào buôn bán ngoại thơng thì phải sử
dụng những tiêu chuẩn mang tính quốc tế.
Đối với việc nhập khẩu thép phế liệu, Nhà nớc ta vẫn cha có văn bản pháp lý cụ
thể quy định về tiêu chuẩn đối với mặt hàng này. Vì vậy khi nhập khẩu thép phế các
doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì họ cha có một tiêu chuẩn nào để dựa vào
đó mà xem xét, xác định thép phế liệu do doanh nghiệp mình nhập khẩu về có đạt tiêu
chuẩn chất lợng hay không. Do đó, đã có nhiều ý kiến kiến nghị về vấn đề này, trong
đó đáng kể nhất là ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Văn Sa - kiến nghị Nhà nớc cần đa ra
các tiêu chuẩn về thép phế và của ông Phạm Chí Cờng- kiến nghị Nhà nớc cần xây
dựng các tiêu chuẩn chất lợng cho sắt thép phế dựa trên tiêu chuẩn quốc tế. Những ý
kiến này đợc đa ra đều nhằm giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc xác định
tiêu chuẩn chất lợng đối với thép phế nhập khẩu, khiến cho hoạt động nhập khẩu đợc
19
không đều giữa các năm.Trong 5 năm qua chức năng này đợc Công ty thực hiện và
phát huy tơng đối tốt, dựa trên các lợi thế sau:
Đội ngũ cán bộ công nhân viên đợc đào tạo và sát hạch với tình hình thực
tế nhiều,đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với
ngành nghề kinh doanh của Công ty, hớng dẫn cho công nhân viên xuống
thị trờng để tìm hiểu và bám sát thị trờng từ đó nâng cao hiệu quả công
việc
Uy tín với ngân hàng và các khách hàng trong và ngoài nớc: Uy tín với
ngân hàng và khách hàng nớc ngoài tạo điều kiện thuận lợi trong khâu
nhập khẩu của Công ty.Tạo lập đợc uy tín với khách hàng trong nứơc giúp
Công ty có đợc thêm nhiều hợp đồng bán sản phẩm của mình và ngày càng
mở rộng thị trờng.
Ngoài ra, thị trờng đầu ra của chủng loại hàng hoá này là rất lớn( cầu luôn
lớn hơn cung), nh đã đợc phân tích ở trên đối với nhu cầu này là rất lớn,
cầu luôn lớn hơn cung
Việc đổi mới, cải tiến hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu theo h-
ớng ngày càng nâng cao năng lực và chất lợng kinh doanh góp phần làm tăng doanh
thu và lợi nhuận , từng bớc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. Tuy nhiên, bên
cạnh những thành quả đạt đợc, hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép phế liệu còn một
số vấn đề từ phía Nhà nớc và cả phía công ty:
Trớc hết cần phải kể đến sự cạnh tranh của các đơn vị ngoài ngànhtham gia
nhập khẩu thép phế liệu: Trong cơ chế thị trờng, hệ thống các công ty t
nhân rất phát triển. Do cơ chế thoáng, họ đã nhập ủy thác, nhập trực tiếp,
lậu thuế tạo thành sự cạnh tranh gay gắt về giá và một sự cạnh tranh gay
gắt đáng sợ hơn cả là cơ chế thởng, gửi giá bất chấp mọi quy chế tài
chính mà Công ty phải chấp hành đầy đủ.
Nhà nớc cha có văn bản pháp lý cụ thể quy định chi tiết về quy cách phẩm
chất đối với thép phế liệu nhập khẩu.
20
ợc 80.000tấn, phần còn lại là nhập khẩu. Hiệp hội thép Việt Nam cho biết: mỗi năm
ngành thép cần 1,5- 2triệu tấn thép phế liệu phục vụ cho sản xuất và lợng thép phế này
chủ yếu có đợc từ nguồn nhập khẩu. Từ phân tích nhu cầu đối với thép phế liệu ở trên
cho ta thấy đợc tầm quan trọng của nhập khẩu thép phế đối với ngành thép nói riêng
và nền kinh tế quốc dân của Việt Nam nói chung.
Xuất phát từ lợi ích của Công ty:
Hoạt động nhập khẩu thép phế liệu suy cho cùng cũng là nhằm mục đích tăng
doanh thu và lợi nhuận cho Công ty. Trong đó doanh thu từ hoạt động kinh doanh thép
phế liệu nhập khẩu đóng góp một phần đáng kể cho sự tăng trởng đó. Để có đợc kết
quả đó, tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung và kinh doanh thép
phế liệu nói riêng phải đạt đợc hiểu quả. Ngoài chức năng thu lợi nhuận cho Công ty,
việc nhập khẩu thép phế còn có một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam,
đó là góp phần bình ổn lại thị trờng thép ở trong nớc- nhập khẩu thép phế liệu giúp các
doanh nghiệp sản xuất thép ổn định về nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, từ đó
giúp giảm bớt sự biến động của thị trờng thép trong nớc do nhu cầu đối với mặt hàng
này đang tăng mạnh.
22
Nh vậy, việc nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu là rất cần thiết đối với
Công ty, cũng nh đối với nền kinh tế nớc ta.
II. Kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu thép phế liệu
1. Kiến nghị đối với nhà nớc
Vn còn khá nhiều vấn đề tồn tại trong công tác quản lý Nhà nớc đối với hoạt
động nhập khẩu thép phế liệu gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Trong
khi đó, công tác quản lý nhập khẩu của nhà nớc đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao chất lợng nhập khẩu thép phế liệu. Vì vậy, trên cơ sở phân tích những tồn tại
ở trên, để nâng cao chất lợng nhập khẩu thép phế liệu,chỳng ta cú th cú 1 s bin
phỏp sau:
+ Hiện nay, nớc ta đã có thể sản xuất ra một số mặt hàng thép để phục vụ nhu
cầu trong nớc. Đối với những mặt hàng này, Nhà nớc nên áp dụng các biện pháp là rất
cần thiết, nh: chính sách thuế nhập khẩu và chính sách quản lý nhập khẩu. Thực chất,
chức năng thực hiện tốt các quyết định, thông t đó
+Nớc ta nên tiến hành cải tiến lại bộ máy quản lý theo hớng ngày càng nâng cao năng
lực cán bộ quản lý và tinh giản hoá các thủ tục pháp lý, giảm bớt sự cồng kềnh trong
các khâu pháp lý.
+ Tỷ giá ngoại tệ ảnh hởng rất lớn tới hoạt động nhập khẩu, việc tăng giá đồng ngoại
tệ sẽ gây thiệt hại cho các đơn vị nhập khẩu. Trong khi đó, ở Việt Nam giá ngoại tệ th-
ờng xuyên biến động là vấn đề đáng lo ngại cho các doanh nghiệp nhập khẩu. Chính
vì vậy, Nhà nớc ta cần phải có chính sách quản lý ngoại tệ để hạn chế sự biến động về
giá ngoại tệ, giúp các doanh nghiệp an tâm nhập khẩu và từng bớc nâng cao chất lợng
nhập khẩu của đơn vị mình, trong đó bao gồm cả đơn vị nhập khẩu thép phế liệu.
2. Kiến nghị đối với Công ty
Mặc dù, hiện nay Công đã là một trong những đơn vị hạch toán độc lập của
tổng công ty VINASHIN, nhng Công ty vẫn cha thực sự chủ động về nguồn vốn kinh
doanh của mình, vốn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn cấp của Tổng công ty (Tổng
công ty cấp vốn dựa trên quyết định của Thủ tớng Chính phủ, vì đây là Tổng công ty
của nhà nớc), do vậy hoạt động kinh doanh của Công ty kém hiệu quả. Vì vậy, muốn
24
Công ty làm ăn có hiệu quả hơn thì Công ty cần chủ động về vốn và chủ động trong
kinh doanh. Để làm đợc điều này, cổ phần hoá Công ty là vô cùng cần thiết, Nhà nớc
nên giữ ở vai trò điều tiết vĩ mô mà thôi. Tiến hành cổ phần hoá sẽ giúp Công ty làm
ăn có hiệu quả hơn, do có thể huy động tối đa mọi nguồn lực trong Công ty (đặc biệt
là huy động vốn từ các thành viên trong Công ty) các thành viên sẽ tự ý thức, tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của chính mình. Hơn nữa, cổ phần hoá
còn góp phần tăng khả năng sáng tạo, kích thích t duy của tất cả công nhân viên trong
Công ty.
+ Ngày càng nâng cao chất lợng cán bộ, công nhân viên làm việc cho Công ty.
Đặc biệt là đối với hoạt động nhập khẩu, Công ty đã biết tận dụng và sử dụng nhiều
cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ cao về nhập khẩu để hoạt động này đạt hiệu quả cao.
Việc tuyển công nhân viên đợc tiến hành hàng năm theo định kì nhằm giúp Công ty
ngày càng đổi mới đội ngũ cán bộ nhân viên theo hớng nâng cao chất lợng. Ngoài ra,