TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Thực trạng hoạt động nhƣợng quyền thƣơng
mại trong ngành bán lẻ tại thị trƣờng Việt Nam
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Ánh
Lớp : Anh 6
Khóa : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS Nguyễn Thị Thu Trang
Hà Nội - 11/2010
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠIVÀ
II- Hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại thị trƣờng Việt Nam : 46
1. Tổng quan về hoạt động NQTM tại thị trƣờng Việt Nam 46
2. Thực trạng hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại thị trƣờng Việt
Nam 50
2.1. Các doanh nghiệp trong nước kinh doanh NQTM trong lĩnh vực bán
lẻ tại Việt Nam 50
2.2. Các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh NQTM trong lĩnh vực bán
lẻ tại Việt Nam 70
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NQTM TRONG
LĨNH VỰC BÁN LẺ TẠI THỊ TRƢỜNG VIỆT NAM 76
I. Kiến nghị về phía Nhà nƣớc: 76
1. Xây dựng môi trƣờng pháp luật cho nhƣợng quyền thƣơng mại phát
triển: 76
2. Có các chính sách khuyến khích, ƣu đãi các doanh nghiệp nhƣợng
quyền: 76
3. Quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo về nhƣợng quyền thƣơng mại:
77
4. Xây dựng các chƣơng trình quảng bá thƣơng hiệu quốc gia, hỗ trợ cho
sự phát triển thƣơng hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam: 77
5. Thành lập hiệp hội franchise quốc gia, liên kết với các tổ chức, Hiệp hội
franchise quốc tế: 78
II. Nhóm giải pháp về phía bên nhƣợng quyền 78
1. Xây dựng và phát triển thƣơng hiệu 78
2. Chuẩn bị tốt cho hoạt động nhƣợng quyền bằng các bƣớc: 79
2.1. Giải pháp về chọn lựa đúng đối tác nhận quyền: 79
2.2. Xây dựng chiến lược đào tạo, huấn luyện người nhận quyền: 80
2.3. Xây dựng cẩm nang hoạt động: 80
2.4. Chuẩn bị thông tin cung cấp cho đối tác nhận quyền: 81
3. Xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp về nhƣợng quyền thƣơng mại:
81
Tổ chức kinh tế thế giới
Hội đồng nhượng quyền thế giới
Hiệp hội các doanh nghiệp bán lẻ
Việt Nam
Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu
CB Richard Ellis
Công nghệ thông tin
Công ty cổ phần đầu tư phát triển
Saigon Co.op
Nhượng quyền kinh doanh
Hiệp hội nhượng quyền quốc tế
Nhượng quyền thương mại
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009 (GRDI) 34
Bảng 2: Số lƣợng doanh nghiệp phân phối bán lẻ 2000-2007 35
Bảng 3: Số lao động bình quân trong ngành phân phối bán lẻ 2003-2008
36
Bảng 4 : Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP Việt Nam 2000-2006 40
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Số lƣợng DN phân phối bán lẻ giai đoạn 2000-2007 35
Biểu đồ 2: Số lao động bình quân trong ngành bán lẻ 2003-2008 37
doanh nghiệp cả trong và ngoài nước tham gia và khai thác tiềm năng bán lẻ hiện
đại trên thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó, đây cũng là thách thức không nhỏ đối
với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Việc tìm hướng đi mới trong hoạt động kinh
doanh cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trước sức ép cạnh tranh ngày càng
tăng lên khi mở cửa thị trường bán lẻ càng trở nên vô cùng cấp thiết.
Nhượng quyền thương mại vẫn còn là một hình thức kinh doanh khá mới mẻ
tại Việt Nam nhưng nếu các doanh nghiệp biết cách áp dụng và khai thác mô hình
này thì những lợi ích tiềm năng mà nó đem lại đối với nền kinh tế và các doanh
nghiệp là rất lớn. Nhượng quyền trong ngành bán lẻ chủ yếu tập trung trên các kênh
bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng. Số lượng
2
các doanh nghiệp nhượng quyền bán lẻ còn tương đối hạn chế so với tiềm năng phát
triển của thị trường và tiềm năng của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam. Các
doanh nghiệp Việt Nam tuy đã thấy được những ưu điểm của nhượng quyền thương
mại trong ngành bán lẻ nhưng việc áp dụng hoạt động này trong thực tế vẫn gặp
nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻ
Việt Nam thông qua hình thức này chưa nhiều nhưng đang có chiều hướng gia tăng.
Điều này hứa hẹn mang tới những biến động tích cực cho thị trường bán lẻ Việt
Nam.
Do đó, tác giả xin chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương
mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam” làm đề tài khóa luận của mình.
Trong bối cảnh hiện tại, đề tài vừa mang tính nghiên cứu, vừa mang tính thực tiễn
cao.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hình thức nhượng quyền thương
mại.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại của
các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng hình thức
trong thời gian học tập tại trường. 4
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN
THƢƠNG MẠI TRONG NGÀNH BÁN LẺ
I – Cơ sở lý luận về NQTM
1. Định nghĩa về nhƣợng quyền thƣơng mại :
Thuật ngữ tiếng Anh “franchising” được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên
gọi khác nhau : Chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu; cấp phép đặc quyền
kinh doanh; nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, theo Điều 284 Luật Thương mại
2005 của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thuật ngữ “franchising” được
hiểu là “ nhượng quyền thương mại”. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả thống
nhất sử dụng thuật ngữ “nhượng quyền thương mại”. Trên thế giới, hiện có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương mại.
- Theo Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commision
– FTC), Franchise là một hợp đồng hay một thỏa thuận được ký kết giữa ít nhất 2
của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận
quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Định nghĩa về nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại 2005 đã
nêu được những nét chính, đặc trưng của nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên,
định nghĩa đã bỏ qua, không đề cập tới một yếu tố chính đó là phí nhượng quyền.
Tóm lại, có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương
mại vì các định nghĩa đều dựa trên quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau của
người viết hay của các nhà làm luật tại mỗi tổ chức, mỗi quốc gia nhưng từ các định
nghĩa khác nhau này, chúng ta vẫn thấy rõ những đặc điểm của nhượng quyền
thương mại như sau:
2. Các đặc điểm của nhƣợng quyền thƣơng mại :
- Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, hay nói cách khác
nhượng quyền thương mại là hoạt động nhằm phân phối hàng hóa và dịch vụ trong
lĩnh vực thương mại. Việc xác định nhượng quyền thương mại là một hoạt động
thương mại khẳng định mục đích sinh lợi của hoạt động này, giúp các doanh nghiệp
6
xác định được Luật áp dụng, các quy định về thương mại, quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng thương mại và cơ quan tài phán giải quyết khi có tranh chấp
giữa các bên xảy ra khi thực hiện hoạt động này.
- Nhượng quyền thương mại được thực hiện thông qua hợp đồng: theo đó,
bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng thương hiệu hay tên tuổi của
mình trong việc bán hàng hóa, dịch vụ và cửa hàng của bên nhận quyền phải được
dễ dàng biết tới thông qua thương hiệu của bên nhượng quyền.
- Bên nhượng quyền là bên đang sở hữu hay kiểm soát một hệ thống và
phương thức kinh doanh gắn liền với các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến
việc kinh doanh. Phương thức kinh doanh ở đây được hiểu bao gồm tất cả các yếu
tố giúp cho việc kinh doanh như quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ, tiêu chuẩn
sản phẩm. dịch vụ, chiến lược kinh doanh,chính sách quảng cáo, chính sách khách
nghiệp; dịch vụ kỹ thuật; nhà hàng khách sạn; cửa hàng thức ăn nhanh.
3. Các hình thức nhƣợng quyền thƣơng mại
3.1. Căn cứ theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại
Năm 1976, Ủy ban Giám sát Luật Thương mại ( Ủy ban Swanson) của Úc
đã phân loại ba hình thức nhượng quyền thương mại như sau:
- Nhượng quyền thương mại sản phẩm: theo đó, một nhà phân phối đóng
vai trò như một nơi tiêu thụ bán buôn, bán lẻ các sản phẩm, hàng hóa của một nhà
sản xuất tại một thị trường nhất định một cách độc quyền. Hình thức này khá phổ
biến trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ xăng, ô tô.
- Nhượng quyền thương mại sản xuất hàng gia công: theo đó, bên nhượng
quyền cung cấp những nguyên liệu chủ yếu, bí quyết kỹ thuật cho người sản xuất
hay người nhận gia công. Áp dụng phổ biến trong công nghiệp nước giải khát.
- Nhượng quyền thương mại hệ thống : theo đó, bên nhượng quyền phát
triển một cách thức kinh doanh riêng kèm theo một hệ thống kinh doanh và cho
phép bên nhận quyền sử dụng cách thức và hệ thống kinh doanh này trong hoạt
động độc lập của bên nhận quyền theo một cách thức có kiểm soát. Hình thức này
phổ biến trong kinh doanh các cửa hàng thức ăn nhanh, cửa hàng dịch vụ giặt là,
khách sạn. Có khi bên nhượng quyền chỉ cung cấp thương hiệu, bán quyền hay công
thức kinh doanh, cũng có khi là cả hàng hóa hay dịch vụ. Nhượng quyền thương
8
mại hệ thống thường được biết tới là hình thức nhượng quyền công thức kinh
doanh.
3.2. Căn cứ theo lĩnh vực nhượng quyền thương mại:
- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối sản phẩm (Product
Distribution Franchise): tức là bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền
phân phối, tiêu thụ sản phẩm theo phương thức kinh doanh và dưới nhãn hiệu hàng
hóa của bên nhượng quyền, ví dụ tiêu thụ ô tô, bán hàng mỹ phẩm, hàng may mặc
của những hãng nổi tiếng thế giới. Bên nhận quyền thường không nhận được sự hỗ
trợ đáng kể nào từ bên nhượng quyền, ngoại trừ được phép sử dụng nhãn hiệu, biểu
một phạm vi khu vực địa lý rộng, có thể là một quốc gia hay một khu vực như Đông
Nam Á. Đại lý franchise độc quyền được chủ động mở thêm nhiều các cửa hàng
kinh doanh đơn lẻ mà không cần phả thông qua sự chấp nhận của chủ thương hiệu.
Đặc biệt, Đại lý franchise độc quyền có quyền nhượng quyền thương mại lại cho
bên thứ ba ( bên nhận quyền thứ cấp – Sub Franchise) nằm trong khu vực mình
kiểm soát dưới hình thức nhượng quyền trực tiếp, riêng lẻ hoặc nhượng quyền phát
triển khu vực nhỏ hơn và trực tiếp ký kết hợp đồng với họ. Đại lý franchise độc
quyền có trách nhiệm và phải cam kết với chủ thương hiệu về số lượng cửa hàng
nhượng quyền tối thiểu được thành lập trong một khoảng thời gian nhất định của
hợp đồng, nếu không sẽ bị mất độc quyền. Để đáp ứng số lượng do chỉ tiêu đặt ra,
bước đầu bên nhận quyền thường tự đứng ra mở thêm các cửa hàng sau đó mới tập
trung tìm kiếm bên nhận quyền thứ cấp. Đại lý franchise độc quyền sẽ đại diện chủ
thương hiệu cung cấp các chương trình đào tạo, dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện
các công đoạn quản lý, giám sát toàn bộ hệ thống nhượng quyền trong phạm vi khu
vực mình quản lý.
- Phí nhượng quyền: Phí nhượng quyền ban đầu cao hơn gấp nhiều lần so
với phí nhượng quyền riêng lẻ, trực tiếp. Về phần phí nhượng quyền thu được từ
bên thứ ba nhận quyền thứ cấp, chủ thương hiệu và đại lý franchise độc quyền ăn
chia theo tỷ lệ đã thỏa thuận trước. Thông thường, đại lý franchise độc quyền được
hưởng phần phí nhiều hơn, do họ phải bỏ ra nhiều chi phí và công sức hơn để tìm
bên thứ ba nhận quyền và hỗ trợ phát triển hệ thống trong khu vực mình quản lý.
10
- Thời gian hợp đồng: thường đủ dài khoảng từ 10 đến 20 năm để cho đại
lý franchise độc quyền có thể phát triển được hệ thống, thu hồi được vốn đầu tư cơ
sở hệ thống ban đầu và kinh doanh có lãi.
- Lợi thế: Có thể nói chủ thương hiệu đã chuyển hầu hết gánh nặng phát
triển thương hiệu và xây dựng hệ thống nhượng quyền sang cho đại lý franchise độc
quyền trong phạm vi lãnh thổ đại lý franchise độc quyền quản lý.
- Hạn chế: Do đại lý franchise độc quyền đã đầu tư một khoản vốn lớn để
cửa hàng theo tiến độ thỏa thuận trong hợp đồng, nếu không sẽ bị mất ưu tiên độc
quyền hoặc phạm vi độc quyền bị thu hẹp (dù vậy hợp đồng nhượng quyền không
vì thế mà mất hiệu lực). Các cửa hàng mở thêm đều phải do họ tự thành lập và quản
lý trực tiếp. Trong trường hợp, sau một thời gian kinh doanh hiệu quả bên nhận
quyền phát triển khu vực có thể xin chuyển hợp đồng thành hợp đồng đại lý
franchise độc quyền.
-Phí nhượng quyền: Phí nhượng quyền ban đầu tương đối cao hơn so với
nhượng quyền trực tiếp nhưng thấp hơn so với phí đại lý franchise độc quyền.
- Thời gian hợp đồng: thường trung bình từ 3 đến 5 năm
- Áp dụng thực tế: tương tự hình thức đại lý franchise độc quyền.
* Nhượng quyền thương mại trực tiếp, riêng lẻ (Single Unit Franchise)
Nhượng quyền thương mại trực tiếp, riêng lẻ là hình thức nhượng quyền,
theo đó, bên nhận quyền ký kết hợp đồng trực tiếp với bên nhượng quyền cho từng
cơ sở nhượng quyền không qua trung gian. Hình thức này phù hợp với bên nhượng
quyền và đối tác tiềm năng có trụ sở và cùng hoạt động trong phạm vi lãnh thổ nhất
định sẽ giúp bên nhượng quyền dễ dàng kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền
với chi phí thấp hơn, hiệu quả cao hơn so với hai hình thức trên.
- Bên nhượng quyền: là chủ thương hiệu hoặc đại lý franchsie độc quyền.
- Bên nhận quyền : thường là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh lâu năm hơn
là các công ty hay tổ chức lớn.
- Đặc điểm: Bên nhận quyền chỉ có thể sở hữu một cửa hàng nhượng quyền
duy nhất, không được phép nhượng quyền cho người khác (sub-franchise) và không
được tự ý mở thêm một cửa hàng nhượng quyền tương tự. Nếu muốn mở thêm cửa
12
hàng mới, họ phải được sự chấp thuận của bên nhượng quyền, ký kết một hợp đồng
riêng và còn tùy thuộc vào hiệu quả kinh doanh cửa hàng hiện tại.
- Lợi thế: Bên nhượng quyền có điều kiện làm việc và kiểm tra cửa hàng
nhượng quyền một cách chặt chẽ, sâu sát. Mối quan hệ giữa hai bên ngày càng gắn
bó. Ngoài ra, phí nhượng quyền thu được không phải chia sẻ cho đối tác trung gian.
trường nước ngoài dễ dàng hơn, tận dụng được nguồn vốn do đối tác đóng góp vào
liên doanh, trong khi vẫn giữ quyền kiểm soát, đặc biệt được ăn chia lợi nhuận
nhiều hơn so với mô hình đại lý franchise độc quyền hay franchise phát triển khu
vực thuần túy.
- Hạn chế: Hình thức này cũng không tránh khỏi những điểm bất lợi vốn có
của một công ty liên doanh nói chung, ví dụ, khó khăn trong việc lựa chọn đúng đối
tác để liên doanh vì nếu chọn nhầm đối tác, cả một thị trường xem như bế tắc; Rủi
ro tài chính mtooj khi liên doanh thất bại; quyền kiểm soát trong liên doanh; Trách
nhiệm và quyền hạn của mỗi bên tham gia liên doanh khi xảy ra tranh chấp thì giải
quyết như thế nào?
- Áp dụng: Hình thức liên doanh thường không được chủ thương hiệu ưu
tiên sử dụng do họ sẽ phải chấp nhận nhiều rủi ro như đề cập ở trên. Hình thức này
chỉ được sử dụng trong trường hợp chủ thương hiệu thực sự mong muốn thâm nhập
vào thị trường nào đó mà không có đối tác nhận quyền phù hợp.
4. Lợi ích của hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại
4.1. Đối với bên nhượng quyền
4.1.1. Bên nhượng quyền có thể nhân rộng mạng lưới hoạt động của mình, chiếm
lĩnh thị trường nhanh chóng
Trong kinh doanh, vốn luôn là mối lo ngại lớn nhất khi muốn mở rộng hoạt
động kinh doanh. Nhưng trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng
hoạt động kinh doanh lại chính là bên nhận quyền. Điều này giúp cho bên nhượng
quyền có thể mở rộng hoạt động kinh doanh bằng chính đồng vốn của người khác
và giảm chi phí cho việc thâm nhập thị trường.
Mô hình hoạt động của nhượng quyền thương mại yêu cầu bên nhận
quyền phải bỏ vốn đầu tư cho việc kinh doanh của mình và được bên nhượng quyền
cho quyền sử dụng một phương thức kinh doanh đã thành công và các đối tượng sở
14
hữu trí tuệ do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát. Đồng thời, việc phải bỏ
vốn kinh doanh là động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố gắng hoạt động có
hàng thuận lợi hơn rất nhiều so với các bên mua hàng riêng lẻ. Điều này giúp bên
nhượng quyền tiết kiệm được chi phí đầu vào và nâng vị thế của mình lên trong khi
đàm phán với các nhà cung cấp.Trên cơ sở đó, bên nhượng quyền có thể cung cấp
hàng hóa, dịch vụ cho các bên nhận quyền với giá ưu đãi hơn so với trường hợp bên
nhận quyền tự mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Ngoài ra, các doanh nghiệp nhượng quyền thực hiện nhượng quyền thương
mại đều tiết giảm được chi phí quản lý, vốn dự phòng và phân tán được rủi ro. Các
chi phí về tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm nhờ có thể chia nhỏ ra cho nhiều
cửa hàng trong hệ thống cũng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí
hàng tháng của bên nhận quyền.
4.1.4. Quảng bá thương hiệu cho bên nhượng quyền:
Nhượng quyền thương mại là cách thức quảng bá thương hiệu và làm tăng
giá trị thương hiệu của doanh nghiệp và làm cho khách hàng trung thành với thương
hiệu nhờ vào các hoạt động quảng cáo. Một khi mô hình kinh doanh của doanh
nghiệp được nhân rộng thì giá trị công ty hay thương hiệu cũng lớn mạnh theo. Bên
nhượng quyền có lợi ích lớn về mặt vĩ mô là thực hiện việc nhân bản, quảng bá,
phát triển phương thức kinh doanh của mình. Mỗi cơ sở nhượng quyền là một nơi
quảng cáo hữu hiệu cho phương thức kinh doanh và nhãn hiệu của bên nhượng
quyền. Người ta có thể thấy được nhãn hiệu của bên nhượng quyền ở khắp nơi
thông qua các cơ sở kinh doanh của các bên nhận quyền. Đây là một cách quảng bá
bằng chi phí của người khác. Bên cạnh đó, mỗi bên nhận quyền có nghĩa vụ phải
đóng góp cho bên nhượng quyền phí quảng cáo. Khoản thu được từ nhiều bên nhận
quyền sẽ giúp cho bên nhượng quyền có được một ngân sách quảng cáo lớn, quảng
bá hơn nữa tên tuổi và phương thức kinh doanh của mình. Trong trường hợp này,
bên nhượng quyền sẽ có thuận lợi hơn rất nhiều so với việc quảng cáo của một bên
tự kinh doanh theo các phương thức khác.
Bên nhượng quyền không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành công việc
kinh doanh hàng ngày của các cơ sở nhượng quyền nên họ có cơ hội để quản lý hệ
thống ở tầm cao, tầm chiến lược, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển, tổ
nghiên cứu thị trường ban đầu, xây dựng phương thúc quản lý, xây dựng nhãn hiệu
17
riêng và cũng không cần bộ máy quản lý cồng kềnh nên bên nhận quyền tiết kiệm
được chi phí, không đòi hỏi một khoản đầu tư ban đầu lớn.
4.2.3. Bên nhận quyền có thể dễ dàng vay tiền từ các nhà tài trợ để kinh doanh
Một khi các nhà tài trợ thấy rằng bên vay vay tiền để thực hiện một phương
thức kinh doanh đã được chứng minh là thành công thì họ dễ quyết định cho vay
hơn là cho một doanh nghiệp mới thành lập, chưa có tên tuổi trên thương trường
vay tiền. Ngoài ra, bên nhận quyền cũng có thể được bên nhượng quyền giới thiệu
hoặc đứng ra bảo lãnh để vay tiền. Việc các sơ sở nhận quyền mới nhận được sự
giúp đỡ trong vấn đề tài chính thông qua bên nhượng quyền là điều có thể, người
nhượng quyền thường tạo ra những sắp xếp với những nơi cho vay để cho một cơ
sở nhận quyền vay tiền. Người chủ cơ sở chịu trách nhiệm về khoản vay này nhưng
những cam kết hỗ trợ từ phía người nhượng quyền kinh doanh luôn tăng các khả
năng mà một khoản nợ sẽ được phê chuẩn.
4.2.4. Được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền:
Ngày nay, trên thị trường có hàng ngàn sản phẩm và dịch vụ có cùng giá trị
sử dụng nhưng được cung cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau. Do đó, việc cố gắng
tạo dựng một thương hiệu nổi tiếng, được khách hàng tin cậy và nhớ đến là vấn đề
sống còn của mỗi doanh nghiệp. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương
mại, bên nhận quyền được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền – là thương
hiệu đã có tiếng trên thị trường và hoạt động khá hiệu quả. Bên nhận quyền kinh
doanh sẽ có lợi thế hơn rất nhiều so với những người mới bắt đầu kinh doanh. Do
vậy, khả năng thành công là rất cao.
4.2.5. Tận dụng các nguồn lực, học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ bên nhượng
quyền
Bên nhận quyền chỉ tập trung vào việc điều hành hoạt động kinh doanh,
phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy trình vận hành, chiến lược kinh
doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách và chuyển giao.
vậy tạo khả năng thành công lớn khi thực hiện. Cả hai bên có thể khai thác những
lợi thế của nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh kể cả những lợi thế vô hình
như uy tín của bên nhượng quyền, vị trí cửa hàng của bên kia. Hai bên cùng thực
hiện quản lý và bàn bạc, trao đổi những kinh nghiệm, những sáng kiến trong hoạt
động marketing nhằm thích ứng các hoạt động kinh doanh của mình với những thay
đổi trên thị trường 19
4.3. Đối với nền kinh tế, xã hội
Thông qua hệ thống các cửa hàng nhượng quyền hiên nay, người tiêu dùng
đã có cái nhìn khác về chất lượng cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nước ngày
càng được nâng lên và ổn định hơn. Nhượng quyền thương mại với những hệ thống
kinh doanh đồng nhất sẽ giúp cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm, dịch
vụ đồng nhất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ được đảm bảo bởi uy tín của chủ
thương hiệu và toàn bộ chuỗi cửa hàng. Do đó,khi bước vào những cơ sở nhượng
quyền thương mại khác nhau của cùng một hệ thống, người tiêu dùng biết trước
chắc chắn về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mà mình sẽ được cung cấp.
Với số tiền quảng cáo lớn từ các bên nhận quyền, bên nhượng quyền sẽ có
ngân sách lớn để thực hiện các chương trình quảng bá cũng như các chương trình
nghệ thuật, chương trình xã hội.Ngoài ra, có thể sử dụng để tham gia đóng góp các
chương trình phát triển vì cộng đồng, vừa nâng cao uy tín, hình ảnh của thương
hiệu, vừa đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Điều này cũng thể hiện trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp.
Một nghiên cứu tại Mỹ cách đây vài năm đã cho thấy rơ hiệu quả của kiểu
kinh doanh này: sau 10 năm vận hành, 92% franchise vẫn hoạt động trong khi 82%
doanh nghiệp độc lập đã phải đóng cửa
1
.Với tỷ lệ các doanh nghiệp thành công cao
theo phương thức này đã tiết kiệm được tiền của rất lớn cho xã hội, tạo ra nhiều