THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 64

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CHO CÁC
DOANH NGHIỆP TẠI PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP
VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Phòng Thương mại và Công
nghiệp
Việt Nam.
Với mục đích bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy hợp tác các quan hệ kinh tế thương mại và
khoa học công nghệ giữa Việt Nam với các nước. Ngày 29/04/1960, Thường
vụ Hội đồng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Phòng Thương mại nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Ngày 14/03/1963, Đại hội đầu tiên của Phòng
thương mại được tổ chức với sự tham gia của đại diện 93 tổ chức hội viên trên
toàn miền Bắc. Đại hội đã thảo luận và nhất trí về bản dự thảo điều lệ, thông
qua phương hướng hoạt động và bầu ban trị sự của Phòng thương mại. Và
đến ngày 27/04/1963, đã đi vào lịch sử của cộng đồng các doanh nghiệp Việt
Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định số 58/CP Phê chuẩn điều lệ
và cho phép Phòng thương mại được chính thức ra đời.
Trải qua hơn ba thập kỷ hoạt động và phát triển, cho đến tháng 4/ 1993.
Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Phòng thương mại đã đánh dấu một bước
ngoặt trong lịch sử phát triển của Phòng thương mại. Đó là Phòng thương mại
được đổi tên thành Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, một tổ chức
độc lập, phi Chính phủ; một người hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp trong
nước và các doanh nghiệp nước ngoài đến tìm kiếm cơ hội kinh doanh ở Việt
Nam.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là một tổ chức độc lập, phi
chính phủ có tư cách pháp nhân và tự chủ về tài chính.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có tên giao dịch bằng tiếng
Anh là Việt Nam Chamber of Commerce and Industry (VCCI).
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam hoạt động theo pháp luật
Việt Nam và theo điều lệ của phòng, được sự hỗ trợ và chịu sự giám sát của

quan hệ, giao dịch buôn bán. Trong giai đoạn này, VCCI đã thiết lập quan hệ
với nhiều tổ chức quốc tế như : Phòng thương mại quốc tế, Phòng thương mại
quốc gia và các Hiệp hội sản xuất kinh doanh, các tập đoàn công ty lớn ở các
nước như Nhật Bản, Australia, ASEAN, Hồng Kông, Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ,...
Giữa năm 1982, VCCI đã tiến hành soạn thảo điều lệ sửa đổi, bổ sung thêm
chức năng, mở rộng phạm vi hoạt động của VCCI. Theo bản điều lệ này, VCCI là
một tổ chức hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự tạo nguồn thu để bù đắp
các chi phí cho hoạt động của mình, không dựa vào ngân sách của Nhà nước.
Do có một số khó khăn nên đại hội VCCI không tổ chức được. Tuy vậy, VCCI vẫn
được Nhà nước chấp thuận từ năm 1993 được thành lập theo bản điều lệ mới.
1.3. Thời kỳ 1986 đến nay.
Hoạt động của Phòng thương mại và công nghiệp trong thời kỳ đổi
mới.Với tình hình chính trị trên thế giới có nhiều biến động, sự kiện Liên Xô,
Đông Âu sụp đổ, Mỹ bao vây cấm vận kinh tế đã tác động không nhỏ đến tình
hình kinh tế nước ta. Là tổ chức đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, xúc tiến
thương mại và đầu tư, VCCI đã sớm nắm bắt được tình hình đề ra những hoạt
động thích hợp, giúp các doanh nghiệp chuyển hướng và thâm nhập vào
những thị trường mới một cách có hiệu quả vượt lên những khó khăn, góp
phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo ra đà tăng trưởng cao,
đồng thời tập hợp ngày càng nhiều các doanh nghiệp và hiệp hội các doanh
nghiệp vào tổ chức của mình, nhằm hướng dẫn, phối hợp, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của các doanh nghiệp trên các quan hệ trong nước và quốc tế, đảm bảo
quyền lợi chung của các cộng đồng, xây dựng và kiến nghị với Đảng và Chính phủ,
có những giải pháp cho các vấn đề cụ thể thiết thực với từng lĩnh vực yếu trong nền
kinh tế, khắc phục những mặt tồn tại của môi trường kinh doanh, phát huy nội lực
của các doanh nghiệp.
2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của Phòng thương mại
và công nghiệp Việt Nam.
2.1. Chức năng của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có những chức năng sau:

và chứng thực các chứng từ cần thiết khác trong kinh doanh, xác nhận các
trường hợp bất khả kháng.
Giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước giải quyết bất đồng, tranh chấp thông
qua thương lượng, hoà giải hoặc trọng tài; giúp phân bổ tổn thất chung khi có yêu cầu.
Thực hiện những công việc khác mà Nhà nước Việt Nam hoặc các tổ chức khác uỷ
thác.
2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Phòng thương mại và công nghiệp Việt
Nam.
Các cơ quan lãnh đạo của Phòng thương mại bao gồm:
- Đại hội.
- Hội đồng quản trị.
- Ban thường trực.
- Ban kiểm tra.
Bên cạnh đó, còn có hội đồng cố vấn, trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam, ban phân bổ tổn thất chung nhằm giúp Phòng Thương mại và Công
nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Cơ quan Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam có trên 30 đầu mối bao gồm các ban, trung tâm
chuyên môn, các chi nhánh; Văn phòng đại diện của Phòngthương mại và công
nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước; công ty, tổ chức trực thuộc khác.
- Đại hội.
Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Phòng. Đại hội gồm các đại biểu
của hội viên được bầu từ các hiệp hội kinh doanh và các hội viên khác theo tỷ
lệ hội viên ở các khu vực với số lượng và cơ cấu do Hội đồng quản trị quyết
định. Đại hội có 2 loại: Đại hội thường kỳ và Đại hội bất thường. Đại hội
thường kỳ do Hội đồng quản trị triệu tập 5 năm/ lần để giải quyết các vấn đề
+ Quyết định chương trình hoạt động của Phòng thương mại trong thời gian
tới.
+ Quyết định sửa đổi điều lệ chung của Phòng.
+ Thông qua báo cáo của Phòng thương mại trong nhiệm kỳ qua.
+ Bầu Hội đồng quản trị và ban kiểm tra.

- Nghiên cứu và đề ra những công việc và biện pháp cần thiết để thực hiện
nghị quyết của Đại hội.
- Quyết định chương trình công tác và kế hoạch ngân sách hàng năm của
Phòng, xét duyệt các mức phí mà Phòng được thu, quy định hội phí và cách thu
phí.
- Quyết định cơ cấu tổ chức của Phòng, quyết định thành lập các uỷ ban
chuyên ngành, chuyên đề và các tổ chức bên cạnh Phòng.
- Bầu Chủ tịch, các Phó chủ tịch, Tổng thư ký và ban thường trực của
Phòng.
- Giám sát hoạt động của ban thường trực và các tổ chức bên cạnh Phòng.
- Chuẩn bị nội dung và các vấn đề về tổ chức cho đại hội thường kỳ và bất thường.
- Quyết định mời các tổ chức, cá nhân làm hội viên thông tấn và tham gia
các uỷ ban của Phòng và các tổ chức bên cạnh Phòng.
- Công nhận hoặc huỷ bỏ tư cách hội viên.
- Xem xét những ý kiến kiến nghị của hội viên, chuẩn bị các thông tin kiến
nghị gửi các cơ quan Nhà nước và các tổ chức khác.
Hội đồng quản trị họp ít nhất 6 tháng / lần do Chủ tịch Hội đồng quản trị
triệu tập ít nhất 15 ngày, các quyết định của Hội đồng quản trị được lấy biểu
quyết theo đa số phiếu của thành viên có mặt và nhiều hơn 1/2 số thành viên
của Hội đồng quản trị. Nếu số phiếu lấy bằng nhau thì quyết định thuộc về ý
kiến Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Ban thường trực.
Bao gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch và Tổng thư ký và một số thành viên khác
do Hội đồng quản trị cử để lãnh đạo các cơ quan chuyên trách và các tổ chức
trực thuộc Phòng.Ban thường trực có những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức trực hiện những công việc do Hội đồng quản trị đề ra
- Xây dựng và điều hành các cơ quan chuyên trách và các tổ chức trực
thuộc để giải quyết những công viêcj thường xuyên của Phòng. Bổ nhiệm và
bãi nhiệm các phó Tổng thư ký, lãnh đạo các cơ quan chuyên trách và giám đốc
các tổ chức trực thuộc của Phòng .

và công nghiệp Việt Nam là thành viên.
- Tổ chức các buổi toạ đàm, hội nghị, hội thảo về thương mại đầu tư và
giao dịch với khách nước ngoài, các thông tin nhận được qua nghiên cứu tiếp
khách, tổng hợp báo cáo với ban thường trực và thông báo cho các bộ phận có
liên quan để phối hợp trong công tác.Nghiên cứu thị trường, lập hồ sơ theo dõi
thị trường nước ngoài nhằm cung cấp những thông tin chính xác cho phòng
thương mại và công nghiệp Việt Nam.
Ban hội viên và đào tạo:
Ban hội viên và đào tạo có chức năng giúp chủ tịch nghiên cứu các vấn đề
liên quan đến từng khu vực kinh tế, từng mặt hàng xuất khẩu, tổ chức các
khoá đào tạo cho các hội viên của phòng thương mại Việt Nam.
Nhiệm vụ của ban hội viên và đào tạo:
- Lập hồ sơ các khu vực kinh tế, các mặt hàng xuất khẩu, các loại hình
dịch vụ trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam và đầu tư Việt Nam ra nước ngoài.
- Tổ chức các khoá đào tạo trong nước và nước ngoài về lĩnh vực mà các
hội viên quan tâm.
- Nghiên cứu, đề xuất tổ chức thành lập, tham gia hiệp hội các nhà xuất
khẩu, nhập khẩu từng mặt hàng, từng nhóm hàng.
Ban pháp chế trọng tài:
Ban pháp chế trọng tài có chức năng giúp chủ tịch làm công tác pháp chế
của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Ban có nhiệm vụ:
- Cung cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho các lô hàng xuất nhập khẩu của
Việt Nam.
- Cung cấp các giấy tờ thông dụng khác trong thương mại quốc tế như
giấy chứng nhận hoàn cảnh bất khả kháng.
- Làm các nhiệm vụ có liên quan đến các vụ kiện của phòng thương mại và
công nghiệp Việt Nam.
Ban hội chợ, triển lãm.
Ban hội chợ triển lãm có chức năng giúp chủ tịch tổ chức các doanh
nghiệp Việt Nam tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế và phối hợp tổ chức

Nhiệm vụ:
Ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời các số liệu hiện có và tình hình biến
động về vật tư, tiền vốn của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, theo
dõi các chế độ hiện hành của Nhà nước.
- Phụ trách công tác quỹ, lương, chi tiêu theo chính sách chế độ quy định.
- Lập kế hoạch báo cáo theo định kỳ Hội đồng quản trị và các cơ quan có
liên quan.
Trung tâm thông tin dữ liệu:
Giúp chủ tích đưa ra các ấn phẩm của Phòng Thương mại và Công nghệ
Việt Nam để cung cấp các thông tin về kinh tế, thương mại, pháp luật, kỹ thuật
của Việt Nam và của các thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp là hội viên
của phòng hoặc các tổ chức khác có liên quan ở Việt Nam và ở nước ngoài.
Nhiệm vụ:
- Phối hợp chặt chẽ với các bộ phận trong Phòng thương mại và công nghệp
Việt Nam cùng các cơ quan hữu quan, công tác viên phát hành tuần báo Diến đàn
doanh nghiệp để cung cấp cho hội viên của phòng có thông tin về kinh tế, thương
mại, pháp luật, kỹ thuật của Việt Nam và các thị trường quốc tế khác, đảm bảo
đúng chính xác và kip thời theo đường lối chính sách của đảng, pháp luật của nhà
nước.
- Phụ trách xuất bản tin phục vụ hội viên, thương nhân nước ngoài và các
ấn phẩm khác khi cần thiết.
- Phát hành rộng rãi, đúng thời hạn các ấn phẩm của phòng tới hội viên
và các cơ quan tổ chức, thương nhân có quan hệ với phòng.
- Hợp tác trao đổi thông tin kể cả thông tin điện tử với các cá nhân, tổ
chức trong và ngoài nước.
- Tuyên truyền các phương tiện thông tin đại chúng về các hoạt động của
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng như cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam.
Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEPC):
Là cơ quan tham mưu cho Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

hợp và bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam trong các tổ chức kinh tế
quốc tế. Hiện nay Phòng đã gia nhập và thiết lập hợp tác với trên 70 tổ chức đại
diện và xúc tiến thương mại đầu tư ở nước ngoài như Phòng Thương mại quốc tế
(ICC), liên đoàn Phòng thương mại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (CACCI),
Phòng thương mại các nước ASEAN (ASEAN CCI), Hội đồng hợp tác kinh tế Thái
Bình Dương (PECC), Hội đồng kinh tế vùng lòng chảo Thái Bình Dương, tiểu vùng
sông Mê Kông mở rộng, các uỷ ban kinh tế hỗn hợp với các nước, Hiệp hội doanh
nghiệp vừa và nhỏ thế giới (WASME),... Phòng Thương mại cũng bước đầu tham
gia các hoạt động trong bảo vệ môi trường và đại diện cho giới sử dụng lao động
trong khuôn khổ của tổ chức lao động quốc tế (ITO)v.v...
Ngoài việc đại diện bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, tham mưu tư vấn
cho Chính phủ trong lĩnh vực hoạch định chiến lược, chính sách pháp luật và
thể chế kinh tế hành chính nói chung, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam còn được Chính phủ uỷ quyền và đóng góp một phần công việc thiết lập
và phát triển quan hệ với một số nước và vùng lãnh thổ khi nước ta chưa có
quan hệ chính thức. Việc thực hiện phương án ngoại giao nhân dân thông qua
hoạt động của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã hỗ trợ hữu
hiệu và mở đường cho các quan hệ kinh tế và ngoại giao sau này
Là tổ chức hướng dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh thời
gian qua, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tiến hành một
chương trình công tác xúc tiến rộng khắp và toàn diện bao gồm: Đào tạo hội
viên, cung cấp thông tin, hướng dẫn , tư vấn, chắp mối quan hệ bạn hàng, tổ
chức nghiên cứu khảo sát thị trường, hội chợ triễn lãm, hội thảo, hội nghị,
chuyên đề về các vấn đề kinh tế, quản lý mà Nhà nước quan tâm, cấp giấy
chứng nhận xuất xứ cho hàng xuất khẩu, giúp doanh nghiệp giải quyết tranh
chấp thông qua thương lượng, hoà giải hoặc trọng tài làm đại diện bảo hộ sở
hữu Công nghiệp cho doanh nghiệp.v.v ...
Trong các hoạt động xúc tiến thương mại của Phòng, tỷ trọng các dịch vụ
có hàm lượng trí tuệ cao tăng dần, các dịch vụ đơn giản một cách tương đối.
Từ năm 1998-2001, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tổ chức

tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Uy tín của Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam được nâng lên rõ rệt. Bên cạnh đó Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam đã tăng thêm một bước cơ sở vật chất tài chính và nhân lực
phục vụ nhu cầu công việc Đến nay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam đã có 8 chi nhánh và văn phòng đại diện trong nước, hai đại diện ở nước
ngoài (Nhật Bản và Singapore). Số lượng cán bộ công nhân viên lên tới hơn
250 người trong cả nước. Và Phòng Thương mại và Công nghiệp còn đảm bảo
các khoản trang trải các chi phí hoạt động, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách
Nhà nước hàng tỷ đồng.
Sau đây là bảng báo cáo kết quả tình hình hoạt động của Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam từ năm (1998- 2001)
Bảng 1: Kết quả hoạt động chung của Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (1998-2001)
Đơn vị :1.000.000 đồng.
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu Chi phí Lãi (lỗ) Tốc độ tăng
theo năm
(%)
1998
1999
2000
2001
22834
30000
36600
46116
22228
29240
35673

cán bộ của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã cố gắng rất tích
cực và điều đó được thể hiện qua các thành tích hoạt động và các số liệu tăng
trưởng hàng năm không ngừng tăng trưởng hàng năm với một tốc độ khá cao.
Theo số liệu trên cho thấy doanh thu năm 1999 so với năm 1998 tăng 25%. Sở
dĩ có sự tăng trưởng cao như vậy là do xu thế hoạt động xuất khẩu ngày càng
được mở rộng và được Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp rất tích cực
trong việc đẩy nhanh hoạt động xuất khẩu. Nắm được nhu cầu đó Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã thực hiện kinh doanh những dịch vụ
trên nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và tạo được nguồn thu cho
Phòng. Đến năm 2000 và 2001 Phòng tăng cường mở các cuộc hội chợ triển
lãm, đặc biệt là các cuộc triển lãm nước ngoài, bên cạnh mở các lớp đào tạo tư
vấn cho doanh nghiệp ... cùng một số hoạt động kinh doanh khác.
Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh (1998-2001)
Đơn vị: 1.000.000 đồng
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu Chi phí Lãi (lỗ ) Tỷ lệ tăng
theo năm(%)
1998
1999
2000
2001
10520
13676
17095
22223
9871
12846
16058
20979

1176
25
19
20
Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính hàng năm
Từ số liệu trên ta thấy Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
đã tích cực thúc đẩy hoạt động kinh doanh như: Hội chợ triển lãm, cấp
giấy chứng nhận xuất xứ, khai thuê hải quan,tư vấn kinh doanh, các dịch
vụ khác. Và các hoạt động đã đem lại cho Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam một khoản thu hàng năm khá lớn với tốc độ tăng trưởng
khá cao. Bên cạnh đó hoạt động xúc tiến thương mại cũng được Phòng chú
trọng và đẩy mạnh như: phục vụ hội viên, trung tâm trọng tài, thông tin
báo chí, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động ASEAN, và các hoạt
động khác.Và doanh thu của các hoạt động không ngừng tăng trưởng với
tốc độ cao nhưng nó cũng chỉ bù đắp được khoản chi phí cho hoạt động xúc
tiến thương mại. Đây là một sự cố gắng rất lớn mà Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam làm được trong thời gian qua. Mặc dù vậy thì
khoản thu do hoạt động kinh doanh của Phòng và trợ cấp của chính phủ
vẫn còn bé nhỏ để Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện
tốt nhiệm vụ là đại diện để thúc đẩy bảo vệ quyền lợi và hỗ trợ xúc tiến
thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước. Và đây
cũng là một trong những hạn chế lớn mà Phòng phải đối mặt.
III. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI CHO CÁC DOANH
NGHIỆP TẠI PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là một tổ chức hướng
dẫn và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh. Trong thời gian qua
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tiến hành một chương
trình công tác xúc tiến rộng lớn và toàn diện bao gồm: Đào tạo, cung cấp
thông tin, hướng dẫn, tư vấn, chắp mối bạn hàng, tổ chức nghiên cứu
khảo sát thị trường, tổ chức hội chợ triển lãm, hội thảo, hội nghị, chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status