dự báo doanh thu thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh và những giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty đóng tàu phà rừng - Pdf 13

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi đảng và nhà nước ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với
nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia sản xuất kinh doanh, đã có nhiều doanh
nghiệp bắt kịp với cơ chế mới làm ăn phát đạt và khẳng định được vị trí của
mình trên thương trường. Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp do không
thích ứng với cơ chế này dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ, gặp
nhiều khó khăn và dẫn đến đào thải.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và một trong những nguyên
nhân quan trọng nhất là họ không tìm được cho mình một con đường đi đúng đó
là họ chưa phân tích được hiệu quả kinh tế đã đạt được, để từ đó có sự đầu tư
quản lý đúng đắn để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai.
Hiệu quả kinh tế đạt được sau mỗi kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh là
thước đo phản ánh trình độ tổ chức, trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực
(lao động, vốn, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ ) của doanh nghiệp.
Điều này đã giải thích lý do một số doanh nghiệp mặc dù có đội ngũ lao động
lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại, nguồn vốn lớn nhưng vẫn không sản xuất
kinh doanh có lãi. Do đó, việc sử dụng các nguồn lực phải được xem là công tác
quan trọng trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất
là trong cơ chế thị trường hiện nay đầu vào và đầu ra thường xuyên biến động,
việc sử dụng thường xuyên các nguồn lực tổ chức sản xuất kinh doanh chính xác
hợp lý mới bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Như vậy, có thể xem trình độ tổ chức, quản lý và sử dụng các nguồn lực
là một trong các yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty Đóng tàu Phà Rừng ra đời
trong cơ chế bao cấp, bước sang cơ chế thị trường trong những năm đầu Công ty
tưởng chừng như không thể đứng vững lâm vào tình trạng khó khăn. Song trong
quá trình đổi mới Công ty dần thay đổi bộ mặt ổn định dần và đến nay đã tạo
được chỗ đứng trên thị trường, quy mô của Công ty ngày càng được mở rộng
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở một
nền sản xuất hàng hoá. Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới nhưng
đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe doạ các doanh nghiệp. Để có thể
đứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi
các doanh nghiệp luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp. Vì vậy
các doanh nghiệp phải quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất
và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự
thành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung và Công ty đóng tàu Phà
Rừng nói riêng. Để khai thác triệt để các nguồn lực khan hiếm nhằm tạo ra
các sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng , các Công ty cần
phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiến hành đánh giá các kết quả đã thực hiện
và đưa ra các giải pháp, biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả. Vấn đề hiệu
quả kinh doanh luôn được ban lãnh đạo Công ty đóng tàu Phà Rừng đặc biệt
quan tâm sâu sắc như một mục tiêu quan trọng trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty .
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hoạt động kinh
doanh,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… để dự báo doanh thu,
phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty đóng tàu Phà
Rừng.
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
PHẦN THỨ HAI:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1- Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với
doanh nghiệp :
2.1.1. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất

tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai
thác , tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực . Để đạt được mục tiêu kinh
doanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại , phát huy
năng lực , hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí .
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt
kết quả tối đa với chi phí tối thiểu , hay chính xác hơn là đạt hiệu quả tối đa với
chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt hiệu quả nhất định vơí chi phí tối thiểu. Chi
phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử
dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá
trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của việc hy sinh công
việc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này. chi phí cơ hội phải
được bổ sung vào chi phí kế toán thực sự. Cách hiều như vậy sẽ khuyến khích
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng có
hiệu quả.
2.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các
doanh nhiệp trong cơ chế thị trường
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị
trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sự
cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnh
tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quả
hơn.
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày
người ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi
các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại
ngàu càng đa dạng. Điều này phản ánh qui luật khan hiếm. Qui luật khan hiếm
bắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sản
xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các nào sản xuất
đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp. Để thấy được sự cần

bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là
nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp là
luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do đó việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp
hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại và phát
triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp phải
không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật
cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ
nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng
trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo
ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,
đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và
có lãi trong qúa trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu
cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu
quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động kinh
doanh như là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mang
tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêu
cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn luôn phải đi kèm với sự
phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích luỹ đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng qui luật phát triển. Như vậy để phát
triển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí
bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹ
đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với qui luật khách quan và một
lần nữa nâng cao hiệu quả kinh doanh được nhấn mạnh.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và

Đối với doanh nghiệp ,hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là thước đo
chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống
còn, quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã thực sự chủ động trong kinh
doanh , nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp phát
triển và mở rộng thị trường, qua đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường ,
thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ , giảm được các chi phí về nhân
lực và tài lực. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với phát triển
doanh nghiệp theo chiều sâu , nâng cao đời sống người lao động , góp phần vào
sự phát triển của xã hội và đất nước .
Tóm lại cơ chế thị trường và đặc trưng của nó đã khiến việc nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
nếu không doanh nghiệp sẽ bị đào thải . Do vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế.
2.2.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế lấy thu bù chi , cạnh tranh
trong kinh doanh ngày càng tăng , các doanh nghiệp phải chịu sức ép từ nhiều
phía . Đặc biệt đối với doanh nghiệp của nước ta khi bước vào cơ chế thị trường
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đã gặp không ít những khó khăn , sản xuất kinh doanh bị đình trệ , hoạt động
kém hiệu quả là do chịu tác động của nhiều nhân tố . Song nhìn một cách tổng
quát có 2 nhân tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp :
2.2.1- Nhóm nhân tố chủ quan:
Mỗi biến động của một nhân tố thuộc về nội tai doanh nghiệp đều có thể
ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh , làm cho mức độ hiệu qủa của quá
trình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng của nhân tố đó .
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ta thấy nổi lên tám

Tuy nhiên, Doanh nghiệp cũng cần áp dụng các hình thức trách nhiệm vật
chất, sử dụng các đòn bẩy kinh tế thưởng phạt nghiêm minh để tạo động lực
thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo ra
được sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh .
b- Công tác tổ chức quản lý:
Đây là nhân tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vị thành
viên trong Doanh nghiệp. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanh
thì nhất thiếu yêu cầu mỗi Doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chức quản lý phù
hợp với chức năng cũng như quy mô của Doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Qua
đó nhằm phát huy tính năng động tự chủ trong sản xuất kinh doanh và nâng cao
chế độ trách niệm đối với nhiệm vụ được giao của từng bộ phận, từng đơn vị
thành viên trong Doanh nghiệp.
Công tác quản lý phải đi sát thực tế sản xuất kinh doanh , nhằm tránh tình
trạng “khập khiễng”, không nhất quán giữa quản lý (kế hoạch) và thực hiện.
Hơn nữa, sự gọn nhẹ và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng
quyết định đến hiệu quả của qúa trình sản xuất kinh doanh .
c- Quản lý và sử dụng nguyên liệu :
Nếu dự trữ nguyên liệu, hàng hoá quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởng
không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh . Vấn đề đặt ra là phải dự trữ một
lượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
đoạn. Bởi vì, khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hoá sẽ gây ứ
đọng vốn và thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trong kinh doanh. Còn dự
trữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của qúa trình sản xuất và thích ứng với
nhu cầu của thị trường. Điều này dĩ nhiên ảnh hưởng không tốt đến qúa trình sản
xuất cũng như công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp.
Hơn nữa, về bản chất thì nguyên liệu là một bộ phận của tài sản lưu động,
vậy nên tính năng động và tính linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao.

sở (thời điểm gốc) được chọn. Còn khi ta xét về mặt kinh tế, tức là bảo đảm khả
năng hoạt động của Doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lý
thì là bảo đam tư cách kinh doanh của Doanh nghiệp.
Từ việc huy động sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn được thực hiện có
hiệu quả sẽ góp phần tăng khả năng và sức mạnh tài chính của Doanh nghiệp,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế của Doanh
nghiệp.
e- Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật:
Thực tế cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bản đảm
bảo cho sự hoạt động của Doanh nghiệp. Đó là toàn bộ nhà xưởng, kho tàng,
phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị nhằm phục cụ cho qúa trình
sản xuất kinh doanh tại Doanh nghiệp. Nhân tố này cũng có ảnh hưởng đến hiệu
quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh , vì nó là yếu tố vật chất ban đầu của qúa
trình sản xuất kinh doanh . Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để
cơ sở vật chất đã có, còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu bổ, sữa chữa
và tiến tới hiện đại hoá, đổi mới công nghệ của máy móc thiết bị. Từ đó nâng
cao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả kinh tế ngày càng được
nâng cao.
g- Hiểu biết về thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hàng
hoá của mình thông qua thị trường. Thị trường thừa nhận hàng hoá đó chính là
người mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội. Còn nếu người mua
không chấp nhận tức là sản phẩm của Doanh nghiệp chưa đáp ứng đúng nhu cầu
của người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả và như vậy tất nhiên Doanh
nghiệp sẽ bị lỗ. Bởi vậy để hoạt động tốt hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hoá,
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tăng lợi nhuận thì các Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hoá bắt buộc
phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khả năng cung của thị trường, cầu của
thị trường về hàng hoá bao gồm cơ cấu, chất lượng, chủng loại. Tác dụng của

a- Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành:
Đây là một nhân tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế.
Mỗi Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế. Do vậy doanh nghiệp muốn
tồn tại, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao thì nhất thiết phải có một môi
trường kinh doanh lành mạnh .
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công và
hiệp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi Doanh nghiệp chỉ là một mắt xích
trong một hệ thống nhất. Nên khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳ
mắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắt
xích khác, đó là sự ảnh hưởng giữa các ngành, các Doanh nghiệp có liên quan
đến hiệu quả kinh tế chung. Thực chất một Doanh nghiệp, một ngành muốn phát
triển và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình là một điều không tưởng. Bởi vì,
quá trình sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư - sản xuất - tiêu thụ là liên tục và
có mối quan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượng
lao động và các ngành tiêu thụ sản phẩm. Do vậy để đạt hiệu quả cao cần gắn
với sự phát triển của nền kinh tế, của các ngành và các ngành có liên quan.
b- Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng.
Thực chất, nhân tố này xét về một khía cạnh nào đó cũng thể hiện sự phát
triển và tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên do mức độ quan trọng và tính
đặc thù của nhân tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn. Đó là, sản
phẩm hay dịch vụ tạo ra phải được tiêu thụ, từ đó Doanh nghiệp mới có thu nhập
và tịch luỹ. Nếu như thu nhập tình hình tài chính của khách hàng cao thì có thể
tốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện dịch vụ của Doanh nghiệp là cao và
ngược lại.
Đây là một mối quan hệ tỉ lệ thuận, tuy nhiên mối quan hệ này lại phụ
thuộc vào ý muốn tự thân của khách hàng, hay giá cả cũng như chính sách tiêu
thụ cụ thể của Doanh nghiệp. Hơn nữa, việc tiêu thụ sản phẩm và thực hiện dịch
vụ là công đoạn cuối cùng của qúa trình sản xuất kinh doanh nó mang lại thu
nhập cho các Doanh nghiệp và trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh
15

nghiệp.
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
e- Môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh là rất gay gắt và quyết
liệt. Nó mang tích chắt lọc và đào thải cao. Do vậy nó đòi hỏi mỗi Doanh nghiệp
phải không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh ,
qua đó nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp mình và đứng vững
trên thương trường. Điều này buộc các Doanh nghiệp phải tìm mọi phương án
nhằm giảm bớt chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn đi
đến bờ vực của sự phá sản và giải thể. Dù muốn hay không, mỗi Doanh nghiệp
đều bị cuốn vào sự vận động của môi trường kinh doanh. Do vậy, để không bị
cuốn trôi thì nhất định các Doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế của sản
xuất kinh doanh .
Bên cạnh đó mối quan hệ cung cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởng không
nhỏ đối với cả “đầu vào” và “đầu ra” của qúa trình sản xuất kinh doanh tại
Doanh nghiệp, mà cụ thể là giá cả trên thị trường. Nếu sự lên xuống của giá cả
nguyên liệu đầu vào không đồng nhất với sản phẩm bán ra sẽ gây lên nhiều bất
lợi cho Doanh nghiệp. Khi đó thu nhập của Doanh nghiệp không được đảm bảo,
tương ứng sẽ làm giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh . Dù đây là những nhân
tố khách quan nhưng Doanh nghiệp cũng cần phải theo dõi và nghiên cứu kỹ
lưỡng để có những sách lược phù hợp.
2.3- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.3.1- Yêu cầu cơ bản trong phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Để phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
một cách cụ thể và có hiệu quả thì ta phải:
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.

doanh nghiệp theo chỉ tiêu sau:
Doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận
Vốn sản xuất bình quân năm
18
H =
K
C
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trong đó: Vốn sản xuất bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Đây là chỉ
tiêu phán ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất. Thông qua các chỉ tiêu này thấy
được một đồng vốn bỏ vào sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng tổng thu nhập,
thu nhập thuần tuỳ. Nó cho ta thấy được hiệu quả kinh tế không chỉ đối với lao
động vật hoá mà còn cả lao động sống. Nó còn phản ánh trình độ tổ chức sản
xuất và quản lý của ngành cũng như của các doanh nghiệp. Mục tiêu sản xuất
của ngành cũng như của doanh nghiệp và toàn xã hội không phải chỉ quan tâm
tạo ra nhiều sản phẩm bằng mọi chi phí mà điều quan trọng hơn là sản phẩm
được tạo ra trên mỗi đồng vốn bỏ ra nhiều hay ít.
Chỉ tiêu doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận, tiền vốn là các chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển sản xuất, trình độ sử dụng nguồn vốn vật tư, lao
động, tài chính. Khối lượng sản phẩm tạo ra trên từng đồng vốn cũng lớn cũng
tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và mở rộng hơn nữa qui
mô sản xuất.
b - Các chỉ tiêu về doanh lợi:
Doanh lợi là phạm trù kinh tế quan trọng nhất vốn có của tất cả các đơn vị, hoạt
động trên cơ sở hạch toán kinh tế. Nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng yếu tố
sản xuất, phản ánh chất lượng sản phẩm tiêu thụ.
* Mức doanh lợi theo vốn:
Đây là chỉ tiêu thông dụng và quan trọng nhất phản ánh hiệu quả của các hoạt
động kinh doanh một cách tổng quát, thể hiện đúng mục đích của các doanh
nghiệp.

Tổng vốn kinh doanh
Trong đó:
SV - Tốc độ chịu chuyển vốn.
ý nghĩa chỉ tiêu: Bình quân trong kỳ vốn kinh doanh quay được mấy vòng.
* Mức doanh lợi chi phí:
Mức doanh lợi chi phí phản ánh các hoạt động kinh doanh trên 2 phạm vi toàn
doanh nghiệp và cho 1 chủng loại sản phẩm.
Mức doanh lợi tính cho tổng chi phí của doanh nghiệp được xác định theo công
thức sau:
%100x
Z
TT
DL
rong
DN
CF
=
Trong đó: DL: Doanh lợi theo giá thành sản phẩm.
Z: Giá thành sản phẩm tiêu thụ.
TT
ròng
DN
: Lợi nhuận sau thuế.
c - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận:
20
(2)
SV =
(3)
(4)
DL

điểm của loại vốn này là luân chuyển không ngừng, luôn luôn thay đổi hình thái
biểu hiện giá trị toàn bộ ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn trong 1 chu
kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động thường bao gồm vốn dự trữ sản xuất
(nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ
tùng thay thế, công cụ lao động thuộc TCLĐ), vốn trong quá trình trực tiếp sản
xuất (sản phẩm đang chế tạo, phí tổn đợi phân bổ và vốn trong quá trình thông
tin), vốn thành phầm, vốn thanh toán. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (ký hiệu
21
TSCĐ
Kết quả
Kết quả
TSCĐ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
là H
VLĐ
)

cũng được xác định bằng cách lấy kết quả kinh doanh (KQ) chia cho
vốn lưu động bình quân trong năm (ký hiệu là VLĐ).
H
VLĐ
= (8)
Nếu kết quả kinh doanh tính bằng lợi nhuận, thì ta có:
H
VLĐ
= (9)
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lưu động làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trong kỳ.
Hiệu quả sử dụng VLĐ còn được phản ánh gián tiếp qua chỉ tiêu số vòng luân
chuyển của VLĐ trong năm (kỳ hiệu là SV

Vốn lưu động bình quân
cuối tháng
Vốn lưu động bình quân
đầu tháng
+
Cộng 12 mức VLĐ bq của
12 tháng
12
VLĐ
KQ
LN
VLĐ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất, góp phần
quan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao
động được biểu hiện ở năng suất lao động hoặc hiệu suất tiền lương.
Năng suất lao động được xác định bằng cách chia kết quả kinh doanh
trong kỳ cho số lựơng lao động bình quân trong kỳ.
Do kết quả kinh doanh được phản ánh bằng 3 chỉ tiêu: Tổng giá trị kinh
doanh, giá trị gia tăng và lợi nhuận nên có 3 cách biểu hiệu của NSLĐ tính bình
quân cho 1 người (lao động). Trong kỳ (thường tính theo năm). Gọi số lượng
lao động bình quân trong năm là lao động và năng suất lao động bình quân năm
là NSLĐ, ta có:
NSLĐ =
Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sử
dụng thời gian cụ thể là nó phụ thuộc vào số ngày bình quân làm việc trong
năm, số giờ bình quân làm việc mỗi ngày của 1 lao động trong doanh nghiệp và
NSLĐ bình quân mỗi giờ điều đó được thể trong công thức sau:
NSLD = n x g x NSg
Trong đó: n - Số ngày làm việc bình quân trong năm.

đầu tư quá đáng vốn của mình vào tài sản lưu động, số vốn đó sẽ không được sử
dụng có hiệu quả.
Hệ số thanh toán ngăn hạn được các chủ nợ chấp nhận là K ≥2. Nhưng để đánh
gí hệ số thanh toán ngắn hạn của một doanh nghiệp tốt hay xấu thì ngoài việc
dựa vào hệ số k còn phải xem xét ba yếu tố sau:
- Bản chất ngành kinh doanh.
- Cơ cấu tài sản lưu động.
24
Hệ số thanh
toán ngắn hạn
(lần)
=
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Hệ số quay vòng của một số loại tài sản lưu động như hệ số quay vòng các
khoản phải thu của khác hàng, hệ số quay vòng hàng tồn kho, hệ số quay vòng
vốn lưu động.
+ Hệ số thanh toán nhanh (tức thời) (Kn).
Hệ số thanh toán nhanh thể hiện quan hệ giữa các loại tài sản lưu động có khả
năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn
trả. Các loại tài sản lưu động được xếp vào loại chuyển nhanh thành tiền là tiền,
CK ngắn hạn, các khoản phải thu của khách hàng. Công thức tính hệ số thanh
toán nhanh như sau:
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn đối với khả
năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn so với hệ số thanh toán ngắn hạn. Kn càng
lớn ,khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao.
* Các tỷ số kết cấu của nguồn vốn:
Nếu ta chia các nguồn vốn thành 2 nhóm: Nguồn vốn từ chủ nợ và nguồn vốn từ
chủ sở hữu đóng góp ta sẽ tính được các tỷ số kết cấu theo đối tượng cung cấp
vốn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status