Đề tài:Phân tích thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan
Việt Nam
Lời mở đầu
Hòa mình vào xu thế phát triển chung của quốc tế và thế giới nhất là trong những năm gần
đây như tham gia vào khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA ) , Hiệp định thương mại song
phương Việt –Mỹ , mà đặc biệt là tổ chức thương mai Thế giới (WTO) , Việt Nam đang dần lớn
lên và ngày một trưởng thành hơn trong một hình hài bé nhỏ . Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp
Việt nam phải xây dựng được một tầm vóc phù hợp để có khả năng cạnh tranh , và hợp tác trên
trường quốc tế
Để có những tiến bộ vượt bậc trong phát triển kinh tế , Viêt Nam cũng đã có một số thay
đổi tích cực về các điều luật và các quy định quản lý trong hoạt động huy động vốn , nhất là qua
thị trường chứng khoán . Những thay đổi này đã và sẽ giúp hoạt động huy động vốn có những
bước chuyển mạnh mẽ , góp phần khai thác các nguồn vốn đáng kể nhằm tài trợ cho sự phát triển
thành công của khối doanh nghiệp trong nước
Có thể nói tài trợ vốn qua thị trường chứng khoán có vai trò lớn trong việc tạo một kênh
huy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế , đặc biệt cho các doanh nghiệp , các tổ
chức thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch những dự tính lâu dài ,… giúp cho nền kinh tế sử
dụng vốn một cách hiệu quả nhất , đa dạng hóa được các hình thức đầu tư và phân tán rủi ro. Từ
đó mà nền kinh tế có được những dự án đầu tư mới , những năng lực mới ,góp phần thức đẩy sự
tang trưởng ,phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế
Để có thể hiểu được cách thức để một nguồn vốn qua thị trường chứng khoán có thể đến
được tay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế , cũng như dòng luân chuyển của nó. Qua đó,cho
chúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn về triển vọng tài trợ vốn qua thị trường chứng khoán
trong tương lai để có những chiến lược , giải pháp thích hợp để phát triển thị trường này .
Chúng tôi xin đưa ra đề tài : “Thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị
trường chứng khóan Việt Nam giai đoạn 2008-2013”
Chương I. Lý luận chung về tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan
1.1 Khái niệm và bản chất của tài trợ vốn qua thị trường CK
1.1.1 Tài trợ vốn
Tài trợ vốn là quá trình cung vốn và cầu vốn trên thị trường vốn hay là việc vốn chảy từ
nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Việc tài trợ vốn chính là việc các nhà đầu tư sử dụng vốn dư
NĐT cá nhân ở Việt Nam thường đơn giản, chủ yếu là cổ phiếu. Hơn nữa, việc hoạch định danh
mục đầu tư còn thiếu khoa học và quản lý thụ động. Chứng khoán được lựa chọn còn theo cảm
tính, do vậy chất lượng đầu tư thường không cao.
1.1.3.2 Nhà phát hành
Nhà phát hành lớn nhất trên thị trường là các tổ chức kinh tế, bao gồm Chính phủ và
chính quyền địa phương, DN, ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính khác. Hoạt động
phát hành chứng khoán của các trung gian tài chính làm tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn
trên thị trường. Chính phủ và chính quyền địa phương phát hành trái phiếu và công cụ nợ ngắn
hạn nhằm huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách và chi đầu tư.
Các DN phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ nợ ngắn hạn nhằm huy động vốn
đáp ứng nhu cầu hoạt động. Phần lớn lượng vốn này được dùng để đầu tư mua sắm các tài sản
thực, do vậy làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại có thể phát hành chứng khoán để huy
động vốn. Chứng khoán do đối tượng này phát hành có khối lượng lớn và độ an toàn khá cao, do
vậy thường hấp dẫn công chúng đầu tư.
1.1.3.3 Trung gian tài chính
Các tổ chức trung gian đầu tư bao gồm CTCK, công ty quản lý quỹ, tổ chức bảo hiểm,
ngân hàng và trung gian đầu tư khác. Các CTCK thường thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn
đầu tư, bảo lãnh phát hành, tự doanh…
Khác với CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện hoạt động uỷ thác
đầu tư hoặc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và thực hiện quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán cho khách hàng (những người sở hữu chứng chỉ quỹ).
Công ty bảo hiểm là trung gian đầu tư điển hình. Thông qua hoạt động khai thác bảo
hiểm, các công ty này thu hút lượng vốn lớn trong nền kinh tế và thực hiện hoạt động đầu tư vốn
nhàn rỗi, chủ yếu vào các chứng khoán.
1.2 Quy trình thực hiện tài trợ vốn qua TTCK
Như vậy nguồn vốn thông qua TTCK ( ở đây là thị trường sơ cấp) được điều tiết từ nới
thừa vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc nơi sử dụng vốn kém hiệu quả sang nơi có nhu
cầu về vốn ( hay thiếu vốn). Người có nhu cầu về vốn có thể trực tiếp phát hành chứng khóan để
huy động vốn. Còn người dư thừa vốn có thể mua các chứng khóan này như 1 khỏan đầu tư.
phức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng.Nếu định giá chứng khoán quá
cao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá chứng khoán quá thấp thì sẽ
làm thiệt hại cho tổ chức phát hành.Vì thế, việc định giá chứng khoán một cách hợp lý sao cho
người mua và người bán đều chấp nhận được là hết sức quan trọng và cần phải được phối hợp
của tổ chức bảo lãnh, công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn của công ty.
Bước 6: Chính thức thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành và ký hợp đồng bảo lãnh phát hành
với tổ chức phát hành.
Bước 7: Công ty kiểm toán xác nhận các báo cáo tài chính trong hồ sơ xin phép phát hành.
Bước 8: Tổ chức phát hành nộp hồ sơ lên Uỷ ban chứng khoán. Thông thường tổ chức phát
hành sẽ được trả lời về việc cấp hay từ chối cấp giấy phép trong một thời hạn nhất định kể từ
ngày nộp hồ sơ xin phép phát hành đầy đủ và hợp lệ. Trong thời gian chờ Uỷ ban chứng khoán
Nhà nước xem xét hồ sơ, tổ chức phát hành có thể sử dụng nội dung trong bản cáo bạch sơ bộ để
thăm dò thị trường.
Bước 9: Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo phát hành
trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra công chúng bản cáo bạch chính
thức và việc thực hiện việc phân phối chứng khoán trong một thời gian nhất định kể từ khi được
cấp giấy phép. Thời hạn phân phối được qui định khác nhau đối với mỗi nước. ở Việt nam, theo
qui định tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì thời hạn này
là 90 ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý và cần thiết, Uỷ ban chứng khoán nhà nước có thể
gia hạn thêm.
Bước 10: Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán sau khi kết
thúc đợt phân phối chứng khoán.
Bước 11: Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành cùng với tổ
chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho Uỷ ban chứng khoán và tiến
hành đăng ký vốn với cơ quan có thẩm quyền.
Bước 12: Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm đơn xin
niêm yết gửi lên Uỷ ban chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán nơi công ty niêm yết.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài trợ vốn qua TTCK
- Ổn định kinh tế vĩ mô
Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô luôn được coi là điều kiện tiên quyết của mọi ý
- Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư cũng là một trong nhiều nhân tố tác động đến tài trợ vốn qua thị trường
chứng khóan. Nguồn vốn với lớn, tập trung và mang tính chất dài hạn sẽ giúp cho việc tài trợ
vốn càng phát triển ngược lại những nguồn vốn nhỏ lẻ bấp bênh thường gây nên nhiều hậu quả,
khiến thị trường tài trợ vốn trở nên rối loạn và kém hấp dẫn.
1.4 Các tiêu chí đánh giá
1.4.1Chỉ tiêu chi phí huy động vốn/ quy mô vốn huy động.
Quy mô vốn của 1 doanh nghiệp bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn chủ sở
hữu thường chiếm tỉ trọng nhỏ hơn vốn vay. Vôn chủ sở hữu hình thành nên trang thiết bị nhà
xưởng văn phòng cho doanh nghiệpvà có thể sử dụng lâu dài ; đặc biệt nó được dùng để đảm bảo
khả năng thanh toán cho công ty. Vốn vay là nguồn vốn linh hoạt hơn, là nguồn vốn hoạt động
chính cho mỗi công ty.
Chi phí huy động vốn của công ty bao gồm chi phí phải trả ãi và chi phí không phả trả lãi.
Trong đó chi phí trả lãi chiếm phần lớn chi phí huy đông vốn. Khi huy động vốn bằng
hình thức trái phiếu, công ty đã làm tăng khoản nợ của mình, đồng thời phải trả lãi cho trái chủ
theo 1 mức quy định trước. Mức lãi suất này phụ thuộc vào kỳ hạn, mục tiêu chiến lược của công
ty, mức lãi suất ngân hàng trong thời kỳ phát hành. Còn phát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp. Mỗi cổ tức mỗi cổ đông nhận được sẽ phụ thuộc vào kết quả kinh
doanh của từng kỳ và được chia trong phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, công ty còn phải chịu 1 loại chi phí khác đó là chi phí khác khi huy động
vốn. chi phí phát hành, chi phí quảng cáo, marketing để thu hút đầu tư, chi phí bảo hiểm, chi phí
quản lí dự trữ, và các chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn.
Hiệu quả huy động vốn =chi phí huy động vốn/tổng nguồn vốn huy động
Tóm lại chỉ tiêu này được dùng để đánh giá xem 1 đồng vốn huy động được cần mất bao
nhiêu chi phí, như vậy khi huy động vốn cần cân nhắc tới chi phí cho 1 đồng vốn, đảm bảo các
khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và mang lại lợi nhuận cho công ty.
Chỉ tiêu này càng thấp thì mức đôh huy đong vốn càng có hiệu quả. Muốn giảm chi phí
sử dụng vốn cần giảm lãi suất trái phiếu và có chiến lược chia cổ tức hợp lí,
1.4.2 Chỉ tiêu sự ổn định của hình thức huy động vốn
Việc huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu trái phiếu rất khó xác định được
Trong đó: CSF là tổng giá trị theo mệnh giá của cổ phiếu phổ thông
CS là thặng dư vốn
RE là thu hập giữ lại
Chương II. Thực trạng tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam
giai đoạn 2008 – 2013
2.1 Tổng quan thị trường
Nguồn :Tổng cục thống kê
Trong giai đoạn 5 năm 2008 - 2012, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một giai đoạn vô cùng
khó khăn. Bên cạnh những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nền
kinh tế trong nước cũng dần bộc lộ những điểm yếu kém.
Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam từ 2008 đến 2012 đã trải qua một giai đoạn vô cùng
khó khăn. Nếu như từ năm 2000 đến 2007, nền kinh tế luôn đạt tốc độ tăng trưởng tốt với mức
tăng bình quân (CAGR) là 6,7%/năm thì trong 5 năm gần đây, mức tăng trưởng này chỉ
đạt 4,5%. GDP năm 2012 chỉ đạt mức tăng trưởng 5,03%, mức thấp nhất kể từ năm 1999.
Nếu như trong giai đoạn trước, nền kinh tế có những bước tiến đột phá với tốc độ tăng
trưởng tốt thì trong 5 năm vừa qua, nó lại cho thấy những hạn chế của việc phát triển theo chiều
rộng, dựa chủ yếu vào tăng nguồn vốn và lao động. Điều này đã dẫn đến một loạt những khó
khăn trong những năm gần đây như diễn biến lạm phát thất thường, thị trường bất động sản vỡ
bong bóng và đóng băng, thanh khoản hệ thống ngân hàng trong nhiều giai đoạn căng thẳng,
thị trường chứng khoán liên tục tạo kỷ lục về các mức đáy.
Trong bối cảnh đó, TTCK cũng bộc lộ nhiều hạn chế cố hữu cần khắc phục. Quy mô
thị trường còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Chất lượng hàng hóa
trên thị trường không được cải thiện nhiều. Nhà đầu tư các nhân vẫn chiếm tỷ trọng cao trong
giao dịch trên thị trường dẫn đến các biến động thất thường do ảnh hưởng tâm lý. Những sai
phạm trong hoạt động của các thành viên trên thị trường còn phổ biến, hiện tượng đầu cơ
trục lợi diễn ra tràn lan gây thiệt hại lớn cho cả nhà đầu tư và các CTCK
2.2 Thực trạng tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013
2.2.1 Nhu cầu vốn thị trường
Tiếp cận vốn đang là rào cản phổ biến, được nhắc đến hàng ngày trong suốt mấy
năm qua.Trên thực tế, hơn 42% số doanh nghiệp không vay vốn trong hoạt động kinh
lược. Điển hình cho xu hướng này là: Techcombank phát hành 20.895.459 cổ phiếu cho Ngân
hàng Hồng Kông Thượng Hải HSBC
Năm 2009, trái ngược với sự sôi động của thị trường chứng khoán, hoạt động chào bán cổ
phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) lại lâm vào cảnh "chợ chiều". Theo Sở Giao dịch chứng
khoán TP HCM (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), hai đơn vị này tiến hành
IPO cho 27 doanh nghiệp , song lượng cổ phần bán được cho nhà đầu tư (NĐT) không bao
nhiêu. Điển hình là Công ty cổ phần Bến bãi Sài Gòn chỉ bán được 22.000 Cổ phần trong tổng
số hơn 600.000 Cổ phần chào bán trong phiên đấu giá ngày 16/10, tại HoSE.Các doanh nghiệp
tiến hành IPO với số lượng lớn cũng không khá hơn.
Đối với trái phiếu, do lo ngại rủi ro biến động lãi suất ở mức cao mà cả nhà phát hành lẫn đầu
tư đều tập trung vào loại hình trái phiếu có lãi suất thả nổi. Ước tính đã có khoảng 18.000 tỉ đồng
giá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi được bán ra, chiếm 77% trong tổng giá trị trái phiếu huy động
được (hơn 26.000 tỉ đồng). Bên cạnh đó, trái phiếu chuyển đổi cũng là kênh huy động vốn được
nhiều doanh nghiệp sử dụng trong năm 2009, nhất là từ quí 3 trở đi, khi mà thị trường chứng
khoán có sự phục hồi rõ rệt.
Tính đến cuối năm 2009, tổng vốn tài trợ bằng trái phiếu đạt 9035 tỷ đồng, trong khi đó vốn
huy động bằng cổ phiếu đạt 13944, vốn hóa thị trường chứng khóan cũng đạt 38% GDP gấp 3
lần so với năm 2008. Điều này cho thấy sự phục hồi của thị trường chứng khóan năm 2009.
Năm 2010, nhu cầu vốn thông qua TTCK tăng mạnh , đặc biệt trong bối cảnh mặt bằng lãi
suất cao, tổng vốn đầu tư tài trợ qua TTCK là 7600 tỷ. Năm 2010 có 40 doanh nghiệp tham gia
IPO với tổng số lượng cổ phần bán được là 224,2 triệu , chỉ chiếm 53% số cổ phần đem đấu giá ,
tương đương với giá trị huy động được 3976,5 tỷ đồng. Vụ IPO lớn nhất thuộc về PV Gas với
94,75 triệu cổ phần đem đấu giá nhưng chỉ có 64% số cổ phần bán được vơi giá đấu trung bình
bằng giá khởi điểm 31.000 đồng
Kênh phát hành cổ phiêu riêng lẻ bị tắc vào thời điểm đầu năm 2010. Trong khi đó lãi suất thị
trường thời điểm này lại cao (18-19%, thậm chí 20%), chi phí đầu vào nếu chưa hạ nhiệt sẽ ảnh
hưởng đến lợi nhuận biên của doanh nghiệp. Giải pháp các doanh nghiệp lựa chọn là chào bán
riêng lẻ không phải là mức giá cực kỳ ưu đãi hoặc phát hành trái phiếu chuyển đổi.
Khi kinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy mô vốn hoạt động trong bối
cảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung, dài hạn để đáp ứng, nhiều DN có phương án phát hành
2.3.1 Kết quả
Kể từ khi chính thức ra mắt - ngày 20/7/2000, số doanh nghiệp (DN) niêm yết đã tăng lên
đáng kể, từ con số 41 cuối năm 2005 lên 737 DN vào cuối tháng 6/2013, đó là chưa kể 135 DN
trên thị trường UPCOM. Tuy tăng lên như vậy, nhưng so với tổng số công ty cổ phần của cả
nước thì số DN niêm yết vẫn còn quá ít ỏi, thậm chí gần đây, số DN niêm yết mới còn ít hơn số
hủy niêm yết. Điều đó đông nghĩa với việc còn khá nhiều những DN lớn, DN hoạt động có hiệu
quả vẫn chưa lên sàn, mà nếu khuyến khích được số này tham gia niêm yết trên cơ sở đẩy nhanh
tiến độ cổ phần hóa thì chắc chắn sẽ tạo ra nhiều kỳ vọng mới cho thị trường chứng khoán trong
nước.
Sau 13 năm hoạt động, tổng giá trị vốn hóa thị trường đã tăng nhanh qua các năm, từ trên
dưới 1 nghìn tỷ đồng cuối năm 2005, lên 904 nghìn tỷ đồng cuối tháng 6/2013. Tỷ lệ vốn hóa thị
trường cuối tháng 6/2013 đạt khoảng 27,9% GDP 2012, cao hơn con số tương ứng của năm 2006
(21,8%). Tuy nhiên, đây cũng là tỷ lệ còn thấp so với một số nước trong khu vực và trên thế giới,
vì thế thị trường chứng khoán Việt Nam mới chỉ được đánh giá là thị trường chứng khoán cận
biên, chưa được xếp vào nhóm thị trường mới nổi.
TTCK đã giúp cho TTTC phát triển khá mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu.Phát triển
mạnh từ năm 2006 nhưng 5 năm gần đây chính là giai đoạn phát triển bùng nổ nhất.
Từ chỗ chỉ có 14 công ty chứng khoán hoạt động ở năm 2005 thì sau năm 2009, số lượng
công ty chứng khoán ổn định ở con số 105 công ty. Số lượng tài khoản của nhà đầu tư cũng
tăng vọt sau năm 2009 và tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo.
Nếu như năm 2005, mới chỉ có 41 mã cổ phiếu niêm yết trên thị trường thì cuối năm
2012 con số này đã là 705 mã và nhờ đó giá trị vốn hóa thị trường nhìn chung cũng được mở
rộng.Đối với thị trường trái phiếu , phần lớn TPCP được Chính phủ bảo lãnh và được niêm yết
trên thị trường TPCP chuyên biệt tại HNX (502 mã trái phiếu tại thời điểm 31/12/2011) với tổng
giá trị theo mệnh giá là 279.000 tỷ đồng. Điều này đã góp phần tạo thuận lợi cho nhiều định
chế tài chính tham gia vào thị trường trái phiếu như một kênh đầu tư với tính thanh khoản cao
đồng thời cũng là một cung cụ phòng ngừa rủi ro hữu dụng.Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng
đã tận dụng kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn, đặc biệt là trong các giai đoạn thanh
khoản trên hệ thống không đảm bảo dẫn đến khó huy động thông qua kênh truyền thống là vay
của các TCTD.
nhiều trường hợp là thái quá nhất là khi trình độ, tính chuyên nghiệp và sự kiên trì của nhà đầu
tư còn thấp cũng khiến thị trường thiếu sức hút.
2.3.2 Nguyên nhân
- Đầu tư còn mang tính tự phát thiếu sự chuyên nghiệp
Một chân lý hiển nhiên quen thuộc là vào bất kỳ thời điểm nào, các thị trường tài chính
luôn luôn bị chi phối bởi lòng tham và sự sợ hãi. Những thị trường mạnh nhất là những thị
trường nhộn nhịp bởi đồng thời có cả lòng tham lẫn sự sợ hãi. Nói rõ hơn, bất cứ khi nào bạn
bán cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổ phiếu đó.
Bạn nghĩ nó sẽ giảm, người mua nghĩ nó sẽ lên. Hoặc bạn hoặc người mua sẽ đúng nhưng chắc
chắn chỉ thông qua sự tương tác của những thái độ khác nhau như vậy thì thị trường mới nhộn
nhịp đông kẻ mua- nhiều người bán.
- Năng lực về chứng khóan của các DN còn hạn chế
Thứ nhất là thời điểm phát hành chứng khoán để huy động vốn chưa thích hợp.
Đối với một công ty muốn phát hành chứng khoán ra công chúng thì lựa chọn thời điểm
phát hành là rất quan trọng.Thị trường đang phát triển tốt, sôi động, giá các cổ phiếu đang tăng
trưởng và ở mức độ cao là điều kiện thuận lợi cho đợt phát hành của công ty.Nếu thị trường ảm
đảm, nhà đầu tư đang bi quan vào thị trường và vào các cổ phiếu trên thị trường sẽ là cản trở,
khó khăn cho đợt phát hành này.Nếu lựa chọn sai thời điểm phát hành thì thông tin về đợt phát
hành có thể ảnh hưởng xấu đến thị trường và qua đó làm ảnh hưởng đến cổ phiếu của công ty
đang lưu hành (giá cổ phiếu đang lưu hành giảm) và ảnh hưởng đến số vốn dự kiến huy động.
Cụ thể là trường hợp của công ty cổ phần Kinh Đô đầu tháng 11/2007 là một ví dụ cho
việc công bố thời điểm phát hành chứng khoán bổ sung không đúng thời điểm. Trước thời gian
đó giá cổ phiếu của công ty Kinh Đô giảm mạnh.Sự “quay đầu” đột ngột về giá của cổ phiếu
Công ty cổ phần Kinh Đô (KDC) trong phiên giao dịch ngày 1/11/2007 đã phần nào củng cố
niềm tin cho nhà đầu tư nhỏ đối với doanh nghiệp niêm yết. Đây cũng được xem là “phần
thưởng” dành cho những người đặt “sự chung thủy” vào cổ phiếu KDC.
Tuy nhiên, ngay sau đó, giá cổ phiếu này lại tiếp tục “rơi” và những lời ca thán về quyết
định thiếu công bằng của Công ty cổ phần Kinh Đô một lần nữa lại rộ lên. Ngay sau khi KDC
công bố thông tin sẽ phát hành thêm cổ phiếu, giá cổ phiếu KDC liên tục giảm. Điều này trái
ngược lại với quy luật tăng giá chung của thị trường, nhất là đối với những cổ phiếu blue - chips.
rủi ro trong hệ thống tài chính.Tuy nhiên, cho đến nay, trên thị trường vốn Việt Nam vẫn
chưa có tổ chức định mức tín nhiệm nào được cấp phép hoạt động.
Việc chưa có cơ quan đánh giá tín nhiệm tổ chức phát hành trái phiếu cũng
như xếp hạng trái phiếu làm tăng rủi ro cho người mua TPDN trên cả thị trường thứ cấp
cũng như thị trường sơ cấp khi thiếu khả năng đánh giá rủi ro của trái phiếu cũng như tổ
chức phát hành, lệ thuộc vào tổ chức tư vấn phát hành hay tổ chức môi giới giao dịch
trái phiếu.
Chương III. Triển vọng của thị trường chứng khóan việt nam và các giải pháp tăng
cường tài trợ vốn qua TTCK trong thời gian tới
3.1 Đánh giá chung về kinh tế trong thời gian tới
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đã có những chuyển biến thuận lợi, các chỉ báo kinh tế
trái chiều cho thấy kinh tế Việt Nam dường như đang có những dấu hiệu hồi phục đầu tiên nhưng
với tốc độ chậm và viễn cảnh còn khá mong manh.
Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2013 đã đạt 4,9%, được dẫn dắt bởi sự phục hồi nhẹ
của ngành dịch vụ. Trong khi đó, ngành nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng lại có mức tăng
thấp nhất trong 3 năm trở lại đây, báo trước sự suy giảm về năng suất trong tương lai.
Lạm phát tháng 6/2013 tăng nhẹ 0,05% so với mức giảm của tháng 5. Về tổng thể, CPI so
với đầu năm tăng 2,4%, so với cùng kỳ năm 2012 tăng 6,69%.
Về đầu tư, tỷ lệ tổng đầu tư xã hội trên GDP vẫn duy trì dưới 30%. Đầu tư ngoài Nhà
nước tăng mạnh trong khi khu vực Nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài chỉ tăng nhẹ. Đầu tư
tiếp tục giảm ở cấp trung ương nhưng tăng nhẹ ở cấp địa phương.
Thâm hụt ngân sách lớn sẽ vẫn được tài trợ chủ yếu bằng trái phiếu chính phủ trong năm
nay và năm 2014, khi nguồn thu suy giảm trong khi việc thắt chặt chi tiêu chưa có hiệu quả tức
thì. Lượng phát hành trái phiếu lớn hơn năm ngoái và tổng dư nợ tăng mạnh từ năm 2012 cho
thấy áp lực tài trợ bằng nợ cho thâm hụt ngày càng lớn và chưa có triển vọng cải thiện trong vài
năm tới.
Triển vọng kinh tế Việt Nam nhìn từ giữa năm 2013
Tăng trưởng kinh tế năm 2013 được VEPR dự báo đạt mức 5,3% với lạm phát ở mức
6,6% trong trường hợp có sự cải thiện vào cuối năm. Trong kịch bản kém lạc quan hơn, nền kinh
tế tăng trưởng với tốc độ 5,04% và lạm phát gần 5%. Giá lương thực đi xuống là yếu tố kìm hãm
là ngành Bảo hiểm và Dầu khí, các ngành còn lại chỉ ghi nhận mức tăng nhẹ.
+P/E của HSX tăng mạnh từ 11,64 vào cuối năm 2012 lên đến 13,45 vào cuối tháng 6
năm 2013.
+Sau khi bán ròng đáng kể trong Quý 1, khối tự doanh chuyển sang mua ròng trong
Quý 2, xu hướng mua ròng mạnh lên trong tháng 6. Động thái của khối tự doanh đã có phần
bớt trái ngược so với khối ngoại.
Thống kê thị trường chứng khoán nửa đầu năm 2013
Thống kê thị trường HSX HNX
Index 481,13 (+16,29%) 62,76(+9,93%)
KLGDTB (triệu/ngày GD) 65,53 (+60,86%) 54,39(+58,44%)
GTGDTB (tỷ/ngày GD) 1.086,30 (+76,33%) 424,51(+56,72%)
Tổng kết TTCK 6 tháng đầu năm 2013, số liệu của UBCKNN cho thấy tổng mức huy động
trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá cổ phần hóa và đấu thầu trái
phiếu chính phủ đạt 114.840 tỷ đồng (tăng 37% so với cùng kỳ năm 2012). Tuy nhiên, huy động
vốn qua phát hành cổ phiếu giảm mạnh, chỉ đạt 2.344 tỷ đồng (giảm 58% so với cùng kỳ năm
ngoái); đấu giá cổ phần hoá đạt 420 tỷ đồng (tăng 75% so với cùng kỳ); Tổ chức được 110 đợt
đấu thầu TPCP với tổng giá trị trúng thầu đạt trên 112.000 tỷ đồng (chiếm 67% so với tổng khối
lượng trúng thầu cả năm 2012).Trong điều kiện tăng trưởng tín dụng ngân hàng thấp, việc huy
động vốn trên thị trường chứng khoán rất có ý nghĩa. Kỳ vọng khi các loại hình quỹ mới được
thành lập; tỷ lệ tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán được mở
rộng sẽ góp phần tăng lượng vốn huy động trên thị trường chứng khoán, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế.
Triển vọng thị trường 6 tháng cuối năm 2013
Dù vẫn tiềm ẩn rủi ro nhưng TTCK được giới đầu tư đặt kỳ vọng khá cao trong nửa cuối
năm nay. Những tháng còn lại của năm 2013, TTCK đang có nhiều yếu tố tích cực, cụ thể như
sau:
Thứ nhất, là động thái nới "room" cho khối ngoại tại các công ty đại chúng. Đề xuất này
đã được Bộ Tài chính đưa ra được lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi hoàn thiện để trình Chính
phủ. Nếu được thông qua, đây sẽ là yếu tố khá quan trọng để kích thích dòng tiền vào TTCK, có
năm đến nay, các kế hoạch phát hành trái phiếu lớn vẫn được thực hiện liên tục. Báo cáo thị
trường trái phiếu khu vực châu Á tháng 6 của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho biết, quy
mô thị trường TPDN Việt Nam hiện đạt 1,1 tỷ USD. Tính đến cuối quý I/2013, dư nợ trái phiếu
tiền đồng của 15 DN phát hành lớn nhất chiếm đến 96% tổng thị trường TPDN tiền đồng và tiềm
năng của thị trường còn rất lớn.
3.3 Các giải pháp tăng cường tài trợ vốn qua TTCK
3.2.1 Về phía Doanh nghiệp
3.2.1.1 Nâng cao năng lực về huy động vốn qua TTCK của DN
- Lựa chọn thời điểm phát hành
Thời điểm phát hành chứng khoán thích hợp là thời điểm mà thị trường đang phát triển tốt,
giá chứng khoán đang tăng trưởng ở mức độ cao , công chúng đầu tư tham gia thị trường nhiều.
Tuy nhiên các doanh nghiệp không nên ồ ạt phát hành chứng khoán cùng một thời điểm ,
như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường , làm cho công chúng đầu tư phân
tâm để quyết định nên mua chứng khoán nào. Điều đó làm cho cung- cầu thị trường biến động ,
khó kiểm soát
Vì vậy các cơ quan tổ chức quản lý, giám sát TTCK cần có những chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể
cho các ngân hàng, doanh nghiệp để có chiến lược phát hành nhằm huy động vốn có hiệu quả .
Ngoài ra, bản thân mỗi tổ chức phát hành cũng nên tìm hiểu, phân tích diễn biến giá chứng
khoán trên thị trường ngay trước thời điểm phát hành để ra quyết định phát hành với số lượng
bao nhiêu là thích hợp
- Tăng cường công tác tư vấn chuẩn bị trước khi phát hành
Chuẩn bị hồ sơ phát hành chứng khoán là công việc quan trọng đối với bất kỳ cơ quan, tổ
chức nào nếu muốn phát hành chứng khoán . Nếu hồ sơ phát hành chứng khoán đáp ứng yêu cầu
và đảm bảo tính chính xác thì mới được UBCKNN cấp giấy phép cho phát hành
Các doanh nghiệp lần đầu tiên phát hành chứng khoán cần tăng cường , chú trọng cho công
tác này hơn ,tránh trường hợp hồ sơ phát hành không đáp ứng yêu cầu. Nếu cần nên hỏi tư vấn
để được hướng dẫn cụ thể cho công tác chuẩn bị hồ sơ phát hành
3.2.1.2 Nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và uy tín của DN trên thị trường
Do trên TTCK thì thông tin về doanh nghiệp, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp hàng năm được công khai. Vì vậy khi muốn tăng tính thanh khỏan cho chứng khóan của
hiệu quả chưa đo đếm được.
Việc không đặt kỳ vọng đầu tư cho mình cũng có nghĩa là để ước muốn trôi theo diễn
biến thị trường. Ví dụ, lãi 20% trong vòng 3 tháng đã là tốt, nhưng vì ước muốn 40% trong vòng
4 tháng nên kết cục có khi chỉ là không bán được cả "hàng" và chết tắc với số tiền đầu tư.
3.2.2.3 Các nhà đầu tư cần quan tâm hơn đến việc tiếp cận thông tin một cách nhanh và
chính xác
Thông tin rất quan trọng trên thị trường, nhưng vì thiếu hiểu biết, nhiều nhà đầu tư có xu
hướng nghe ngóng. Tin thì đủ loại, trên trời, dưới biển, vận hành, tài chính, tổ chức Có điều
chẳng mấy ai có khả năng kiểm định. Vì vậy, cái sự nghe trở nên láng máng, truyền tai nhau hết
sức nguy hiểm.
Thông thường, các nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân thường tìm người thân hoặc
tìm một vài cán bộ môi giới-tư vấn của chính các công ty chứng khoán. Điều này này có mấy
điểm hại sau:
Không khách quan
Không đảm bảo chính xác vì có khi người nói cũng không biết mình đang nói gì.
Không có bộ lọc vì thế không thể biết cái vừa nhận được là vàng hay thực tế là rác.
Luôn luôn muộn, vì khi nghe được thì cũng rất nhiều người khác đã nghe được.
3.2.3 Kiến nghị
- Cần tăng cường cơ chế quản lý, giám sát công bố thông tin trên thị trường, tạo ra một thị
trường minh bạch giúp các nhà dầu tư có thể ra quyết định dựa trên thông tin đầy đủ, hệ
thống và chính xác.
- Tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường, thiết lập một môi trường pháp lý ổn
định, đồng bộ cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Cụ thể là, từ nay cho đến năm
2006, khẩn tương triển khai nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật chứng khoán. Đồng
thời tăng cường tính hiệu lực của các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hoạt động và kinh
doanh chứng khoán. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử phạt thích đáng đối với
các hành vi vi phạm.
- Thực hiện các giải pháp “tăng cung - kích cầu”. Trước hết cần nhanh chóng đưa Trung
tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào hoạt động, dành cho các cổ phiếu doanh nghiệp
vừa và nhỏ để tạo ra hàng hoá đa dạng cho thị trường. Tăng số lượng Công ty niêm yết,